Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Nay-toi-quyet-dinh-cau-sanh-Tay-Phuong-nhung-chua-biet-phai-lam-nhung-nghiep-gi...?

Nay tôi quyết định cầu sanh Tây Phương nhưng chưa biết phải làm những nghiệp gì...?
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Hỏi:- Nay tôi quyết định cầu sanh Tây Phương, nhưng chưa biết phải làm những nghiệp gì, và lấy chi làm chủng tử để được sanh về Cực Lạc? Lại hạng phàm phu ở thế tục đều có gia đình, chưa biết không đoạn dâm dục có được sanh về cõi kia chăng?

Đáp:- Muốn quyết định được sanh về Tây Phương phải có đủ hai hạnh: yễm ly và hân nguyện.

Nói yễm ly, là hàng phàm phu từ vô thỉ đến nay bị ngũ dục buộc ràng nên luân hồi trong sáu đạo, chịu không biết bao nhiêu nỗi khổ! Trong vòng lẩn quẩn ấy, nếu không chán lìa ngũ dục thì làm sao có thể thoát ly? Cho nên người tu Tịnh Độ phải thường xét thân nầy là một khối thịt xương máu mủ, chứa đựng đàm dãi, đại tiểu tiện và các thứ nhơ nhớp hôi tanh. Kinh Niết Bàn nói: 'Vòng thành thân kiến như thế, duy loài La Sát ngu si mới chịu ở trong đó; nếu người có trí ai lại đắm nhiễm thân nầy! Lại trong Kinh cũng nói: 'Thân nầy là nơi tập hợp của các thứ khổ, là cảnh tù ngục, là một khối ung sanh tất cả đều bất tịnh. Nên xét cho cùng, nó không có nghĩa lý lợi ích chi khi ta chấp lấy nó, dù là thân của chư thiên.' Vì thế, hành giả ở trong các oai nghi hoặc khi nằm nghỉ, lúc thức giấc, nên thường quán sát thân nầy chỉ có khổ không chi vui, mà thâm tâm sanh niệm chán lìa. Như thế, dù cho không dứt liền được việc nam nữ, cũng có thể lần lần khởi tâm nhàm chán.

Lại hành giả cũng cần nên quán bảy pháp bất tịnh. Bảy pháp ấy là:

  1. Chủng tử bất tịnh: Thân nầy do nơi nghiệp dâm dục, từ hạt giống tham ái mà sanh.
  2. Thọ sanh bất tịnh: Mầm sanh khởi của bản thân lại do một điểm tinh huyết cha mẹ hòa hợp trong khi gần gũi.
  3. Trụ xứ bất tịnh: Thai thân ở trong tử cung nhơ nhớp, nằm dưới ruột non, trên là ruột già.
  4. Thực đạm bất tịnh: Khi còn ở trong thai, huyễn thân lại thọ dụng huyết phần của người mẹ.
  5. Sơ sanh bất tịnh: Khi đã đủ tháng ngày, thai thân đầu hướng về sản môn, ra khỏi mình người mẹ cùng một lúc với máu mủ, sự hôi nhơ dẫy đầy.
  6. Cử thể bất tịnh: Trong lớp da ngoài che đậy, thân nầy là tất cả sự hôi nhơ của các chất: thịt, xương máu, đàm đại tiểu.
  7. Cứu cánh bất tịnh: Đến khi chết rồi, thân nầy là một đống thịt sình thúi rã rời, mặc cho vòi tủa bò lan hoặc quạ diều tha mổ.

Thân của mình đã thế, thân người khác cũng như vậy. Nếu thường quán sát bảy điều ấy, đối với các thân nam nữ mà người đời cho rằng xinh đẹp, cũng sanh niệm yễm ly và lửa ái dục cũng lần lần tiêu giảm. Như thật hành được môn cửu tưởng quán, càng thêm tốt:

  1. Tưởng thânmới chết.
  2. Tưởng thây chết đổi sắc bầm xanh tím.
  3. Tưởng thây chết sình lên dẫy đầy máu mủ và sắp rã.
  4. Tưởng thây sình bấy nức rã, nước hôi chảy ra.
  5. Tưởng thây sình rã, vòi tửa bò lúc nhúc.
  6. Tưởng thây sình thịt tiêu hết chỉ còn gân và xương.
  7. Tưởng gân cũng tiêu hoại chỉ còn xương nằm ngổn ngang.
  8. Tưởng thây bị thiêu chỉ còn bộ xương co rút, hay thây rã chỉ còn những khúc xương thúi.
  9. Tưởng nắng chan mưa gội, xương hóa thành khô trắng.

Lại nên phát nguyện cầu cho mình vĩnh viễn thoát ly thân nam nữ mê nhiễm, tạp thực, không sạch của ba cõi, mà được thân pháp tánh Tịnh Độ. Trên đây là đại lược về yễm ly môn.

Về hạnh hân nguyện, đại khái có hai điều kiện.

1. Phải nhận rõ mục đích cầu sanh: Sỡ dĩ chúng ta cầu về Tịnh Độ, là vì muốn thoát sự khổ cho mình và tất cả chúng sanh. Hành giả phải nghĩ rằng: Sức mình yếu kém, còn bị nghiệp ràng buộc, mà ở cõi đời ác trược nầy cảnh duyên não phiền quá mạnh. Ta cùng chúng sanh bị chìm đắm nơi dòng mê, xoay vần trong sáu nẻo, trải qua trần kiếp từ vô thỉ đến nay, cũng vì lẽ ấy. Bánh xe sống chết quay mãi không ngừng, ta làm thế nào để tìm con đường độ mình độ người một cách yên ổn chắc chắn? Muốn được như thế, duy có cầu sanh Tịnh Độ, gần gũi Phật, Bồ Tát, nhờ cảnh duyên thắng diệu bên cõi ấy tu hành chứng Vô Sanh Nhẫn, mới có thể vào nơi đời ác cứu khổ cho hữu tình. Luận Vãng Sanh đã nói: 'Phát tâm Bồ Đề chính là phát tâm cầu thành Phật, tâm cầu thành Phật là tâm độ chúng sanh, tâm độ chúng sanh là tâm nhiếp chúng sanh sanh về cõi Phật.'

Lại muốn sanh về Tịnh Độ, phải có đủ hai phương diện: xa lìa ba pháp chướng Bồ Đề và y theo ba pháp thuận Bồ Đề. Ba pháp chướng Bồ Đề là thế nào? Một là tâm cầu sự an vui riêng cho mình, chấp ngã và tham trước bản thân. Hành giả phải y theo trí huệ môn mà xa lìa tâm niệm ấy. Hai là tâm rời bỏ không chịu cứu vớt chúng sanh khổ. Hành giả phải y theo từ bi môn mà xa lìa tâm niệm ấy. Ba là tâm chỉ cầu sự cung kính cúng dường, không tìm phương pháp làm cho chúng sanh được lợi ích an vui. Hành giả phải y theo phương tiện môn mà xa lìa tâm niệm ấy. Nếu lìa ba pháp chướng Bồ Đề, thì sẽ được ba pháp thuận Bồ Đề. Xin kể rõ ra đây ba pháp tùy thuận ấy: Một là Vô Nhiễm Thanh Tịnh tâm, không vì tự thân mà cầu các sự vui. Bởi Bồ Đề là thể trong sạch lìa nhiễm trước, nếu cầu sự vui riêng cho mình tức thân tâm có nhiễm, làm chướng Bồ Đề môn; nên tâm thanh tịnh không nhiễm gọi là tùy thuận Bồ Đề. Hai là An Thanh Tịnh tâm, vì cứu độ tất cả khổ cho chúng sanh. Bởi Bồ Đề là tâm trong sạch làm cho chúng sanh được an ổn, nếu không cứu độ loài hữu tình khiến họ được lìa sự khổ sanh tử, tức là trái với Bồ Đề môn; nên tâm cứu khổ đem lại an ổn cho chúng sanh gọi là tùy thuận Bồ Đề. Ba là Lạc Thanh Tịnh tâm, muốn khiến cho chúng sanh được đại niết bàn. Bởi đại niết bàn là chỗ cứu cánh thường vui, nếu không khiến cho loài hữu tình được niềm vui cứu cánh tức là ngăn che Bồ Đề môn; nên tâm muốn cho chúng sanh được hưởng cảnh thường lạc gọi là tùy thuận Bồ Đề. Làm thế nào để thành tựu sự xa lìa và tùy thuận trên đây? -Ấy là phải cầu sanh Tịnh Độ để được thường gần Phật, tu hành cho đến khi chứng Vô Sanh Nhẫn. Chừng đó mặc ý cỡi thuyền đại nguyện vào biển luân hồi, vận tâm bi trí cứu vớt chúng sanh, tùy duyên mà bất biến, không còn chi trở ngại nữa. Tất cả mấy điểm trên đây là thuyết minh về mục đích cầu sanh.2. Nên quán tưởng y chánh cõi Cực Lạc: Hành giả nên quán tưởng báo thân của Phật A Di Đà sắc vàng rực rỡ, có tám muôn bốn ngàn tướng, mỗi tướng có tám muôn bốn ngàn vẻ đẹp, mỗi vẻ đẹp có tám muôn bốn ngàn tia sáng, soi khắp pháp giới, nhiếp lấy chúng sanh niệm Phật. Lại nên quán cõi Cực Lạc bảy báu trang nghiêm như các Kinh Tịnh Độ đã nói. Ngoài ra, người niệm Phật khi bố thí, trì giới, cùng làm tất cả hạnh lành, đều phải hồi hướng cầu cho mình và chúng sanh đồng sanh Cực Lạc.

Nếu thật hành hai điều trên, hành giả sẽ phát tâm khát ngưỡng Tây Phương, quyết định sẽ được vãng sanh. Và đây là hân nguyện môn.

Tịnh Độ Thập Nghi Luận Giảng Ký
Đời Tùy, Thiên Thai Trí Giả đại sư thuyết
Pháp sư Trí Viên giảng giải
Chuyển ngữ: Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa


 (Luận) Đệ thập nghi. Vấn: - Kim dục quyết định cầu sanh Tây Phương giả, vị tri tác hà hạnh nghiệp, dĩ hà vi chủng tử, đắc sanh bỉ quốc? Hựu phàm phu tục nhân giai hữu thê tử, vị tri bất đoạn dâm dục, đắc sanh bỉ phủ?
          ()第十疑問:今欲決定求生西方,未知作何行業,以何為種子,得生彼國?又凡夫俗人皆有妻子,未知不斷淫欲得生彼否?
          (Luận: Mối nghi thứ mười. Hỏi: - Nay kẻ quyết định muốn cầu sanh Tây Phương, chưa biết phải làm hạnh nghiệp nào, dùng những gì làm chủng tử để được sanh về cõi ấy? Lại nữa, phàm phu tục nhân đều có vợ con, chưa biết chẳng đoạn dâm dục thì có được sanh về cõi ấy hay chăng?)
 
          Câu hỏi được nêu ra là “sau khi đã liễu giải sự thù thắng của vãng sanh Tây Phương, nay tôi muốn quyết định cầu sanh Tây Phương, chẳng biết phải làm hạnh nghiệp gì, dùng gì để làm chủng tử, hòng có thể đạt thành diệu quả vãng sanh cõi ấy? Hơn nữa, phàm phu tục nhân đều có vợ con, chẳng biết kẻ không đoạn dâm dục thì có thể sanh về cõi nước Cực Lạc hay chăng?”
          Ở đây, nêu lên hai vấn đề:
          1) Hạnh nghiệp để quyết định thành tựu vãng sanh là gì? Hoặc là chủng tử có thể thành tựu cái quả ấy là gì? Người hỏi biết “để cầu cái quả, ắt cần phải viên mãn cái nhân”. Hễ nhân đã viên mãn, quả sẽ tự nhiên thành; không có nhân, sẽ trọn chẳng có quả. Điều này thuộc về phương diện thật tu, nơi tự tâm cần phải đi theo con đường như thế nào? Tu tập hạnh nghiệp gì thì sẽ có thể cảm được cái quả thù thắng như vậy? Hoặc là gieo chủng tử gì để vun bồi nó (cái nhân ấy) hòng có thể vãng sanh? Câu hỏi này đã đề cập tới vấn đề duyên khởi rất trọng yếu hòng thành tựu vãng sanh.
          2) Tục nhân tại gia có vợ, chẳng đoạn dâm dục, cũng chẳng tránh khỏi lo âu chính mình có thể vãng sanh hay không? Hoặc là phải nên nỗ lực như thế nào thì mới có thể tương ứng với Tây Phương hòng được vãng sanh?
          Dưới đây chia làm [hai phần là] lược đáp (đáp đại lược) và tế đáp (đáp cặn kẽ) để giảng rõ. Trước hết là lược đáp.
 
          (Luận) Đáp: Dục quyết định sanh Tây Phương giả, cụ hữu nhị chủng hạnh, định đắc sanh bỉ. Nhất giả yếm ly hạnh, nhị giả hân nguyện hạnh.
          ()答:欲決定生西方者,具有二種行,定得生彼。一者厭離行,二者欣願行。
          (Luận: Đáp: Muốn quyết định sanh về Tây Phương thì trọn đủ hai loại hạnh, chắc chắn sẽ sanh về cõi đó. Một là hạnh chán lìa, hai là hạnh ưa thích, nguyện sanh về đó).
 
          Trả lời: Nếu muốn quyết định được vãng sanh Tây Phương, hễ trọn đủ hai thứ hạnh, chắc chắn có thể vãng sanh. Một là hạnh chán lìa, hai là hạnh ưa thích, nguyện sanh sang đó.
          Chư pháp đều mang tánh chất duyên khởi. Duyên khởi lại ở nơi tâm, điều then chốt trong tâm là ham muốn. Do vậy, ở đây nói: Vãng sanh Tây Phương là quả, nhân duyên của nó phát triển thành hạnh tương ứng với Tây Phương là hạnh chán lìa và hạnh ưa thích, nguyện sanh. Trong ấy, có bao hàm xuất ly tâm và Bồ Đề tâm. Chán lìa phương này (Sa Bà) là tâm xuất ly. Biết Tịnh Độ thù thắng, xét theo phương diện tự lợi thì là do được giải thoát mà mong sanh về Tây Phương; đấy là nội dung của tâm xuất ly. Vì để mau chóng đạt được thành tựu hòng độ chúng sanh mà mong sanh về Tây Phương; đấy là nội dung của Bồ Đề tâm.
          “Chán” (Yếm) là tiêu cực muốn bỏ phương này, “ưa thích” (Hân) là tích cực muốn giữ lấy phương kia. Hai đằng tách ra và hợp lại chính là tướng trạng đầy đủ của nguyện Tịnh Độ. Từ đây, phát triển thành các loại tịnh hạnh, tức là Hạnh. Đã có Nguyện, đương nhiên là nhiếp trì hết thảy thiện căn đều hồi hướng sanh về Tây Phương, thẳng tiến về Tây Phương, khi đã tích tụ đến một mức độ nhất định, chắc chắn sẽ vãng sanh Tây Phương. Vì thế, phải biết: Duyên khởi để vãng sanh Tây Phương ở nơi Nguyện. Tín và Hạnh cũng được bao gồm trong Nguyện, vì có Nguyện thiết tha, tất nhiên sẽ có Tín chân thật và Hạnh thiết thực.
          Kế đó, sẽ giải thích cặn kẽ hai phần Yếm và Hân này.
 
10.1. Yếm Ly Hạnh
 
          (Luận) Ngôn Yếm Ly Hạnh giả, phàm phu vô thỉ dĩ lai, vị ngũ dục triền phược, luân hồi ngũ đạo, bị thọ chúng khổ, bất khởi tâm yếm ly ngũ dục, vị hữu xuất kỳ. Vị thử, thường quán thử thân nùng huyết thỉ niệu, nhất thiết ác lộ, bất tịnh, xú uế. Cố Niết Bàn Kinh vân: “Như thị thân thành, ngu si la-sát, chỉ trụ kỳ trung. Thùy hữu trí giả, đương nhạo thử thân?”
   ()言厭離行者,凡夫無始已來為五欲纏縛,輪迴五道備受眾苦,不起心厭離五欲未有出期。為此常觀此身膿血屎尿,一切惡露不淨臭穢。故涅槃經云:「如是身城,愚癡羅剎止住其中,誰有智者當樂此身?」
          (Luận: Nói Yếm Ly Hạnh là vì phàm phu từ vô thỉ đến nay bị ngũ dục trói buộc, luân hồi trong năm đường, chịu đủ mọi nỗi khổ, chẳng dấy tâm chán lìa ngũ dục, sẽ chẳng có thuở nào thoát khỏi. Vì lẽ này mà thường quán thân này máu mủ, phân, tiểu, hết thảy các thứ xấu ác bộc lộ, bất tịnh, hôi thối, bẩn thỉu. Do đó, kinh Niết Bàn nói: “Thân thành như thế, La-sát ngu si ở trong ấy, có bậc trí nào sẽ yêu thích cái thân này?”)
 
          Nói Yếm Ly Hạnh là phải thấy phàm phu từ vô thỉ tới nay, luôn bị sự tham muốn ngũ dục Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc trói buộc. Do vậy, dấy lên các thứ phiền não, huân tập các loại nghiệp, bị nghiệp lực lôi kéo mà luân hồi chẳng ngớt trong năm đường địa ngục, ngạ quỷ, bàng sanh, nhân, thiên, chịu đủ các thứ các dạng khổ. Nếu chẳng dấy lên cái tâm chán lìa ngũ dục, vẫn tham đắm nó, do chẳng đoạn cái nhân, sẽ chẳng đoạn được nỗi khổ sanh tử luân hồi. Vì vậy, chẳng có thuở vượt thoát sanh tử. Sau khi đã biết lỗi hại của tham dục, phải thường quán cái thân này có thể tánh bất tịnh. Bên trong là hết thảy các thứ xấu ác bày ra như máu, mủ, phân, tiểu v.v… Hễ lộ ra, sẽ khiến cho người khác trông thấy bèn ghê tởm, chẳng thể chịu đựng nổi tướng xú uế bất tịnh.
          Trong quá khứ, cứ nghĩ cái thân là bảo bối; hiện thời, sau khi đã thấy nó bất tịnh, bèn nghĩ: “Thân thể này như một thành thị, quỷ la-sát ngu si đang ở trong ấy, có người trí huệ nào sẽ ưa thích thân thể như vậy?” Giống như trong kinh Niết Bàn đã nói; từ đó, trong tâm chẳng còn muốn bận lòng nhiều về tấm thân này, chẳng còn muốn làm nô lệ cho nó, vì nó mà lo toan các thứ ngũ dục, thực hiện các thứ che chở [tấm thân] nữa. Cội nguồn của lòng tham chính là vì quý tiếc, yêu mến, bảo vệ thân thể. Một khi đã phát hiện chỗ chẳng đáng yêu đắm của nó, sẽ cảm thấy thân thể giống như nhà xí này có hai bữa ăn để duy trì mạng sống, có quần áo để che thân là được rồi. Như vậy thì mới thoát khỏi nỗi tham ngũ dục vì cái thân.
          Phần này lại chia thành hai phần:
          1) Lý thú.
          2) Thật tu.
 
10.1.1. Lý thú
 
          Nếu nhìn từ phương diện lý thú, [sẽ thấy] phàm phu suốt ngày vì cái Ta riêng tư (tư ngã) mà tìm cầu Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, dấy lên vô số phiền não, tạo trọn hết các nghiệp, ở trong luân hồi chịu khổ trong vô số đời. Vì thế, nhất định phải lìa ngũ dục. Tham đắm ngũ trần sẽ phải chịu khổ không ngừng, đúng là đại tai nạn. Nhãn Thức tham đắm Sắc pháp, giống như con thiêu thân chết cháy trong ngọn lửa đèn. Nhĩ Thức tham đắm âm thanh hay đẹp, giống như dã thú nghe tiếng đàn tỳ bà mà bị thợ săn giết chết. Tỵ Thức tham đắm hương trần, giống như ong mật tham đắm mùi thơm của hoa mà bị nhốt chết trong lòng bông hoa. Thiệt Thức tham đắm mỹ vị, giống như con cá bị móc sắt móc trúng. Thân Thức tham đắm xúc trần, giống như con voi to bị hãm trong bùn lầy. Đấy chính là căn bản của vô số mê loạn hiển hiện trong luân hồi, là cội nguồn của vô số nỗi khổ. Cũng giống như thế, tâm tham đắm ngũ dục, bị tham dục trói buộc chính là cái gốc của các khổ. “Chư khổ sở nhân, tham dục vi bổn” (Cái nhân của các nỗi khổ đều lấy tham dục làm gốc) chính là ý nghĩa này.
          Sau đó, nghĩ tưởng: Chỉ có xa rời sự tham đắm đối với ngũ dục thì mới có thể từ khổ thoát ra. Vậy thì phải buông xuống ngũ dục bằng cách nào? Phải nghĩ, tham hưởng thụ thanh, sắc; tham kẻ khác phái; tham phim ảnh và TV; tham món ăn ngon, tham y phục đẹp đẽ, tham xe hơi v.v… tham bất cứ những món Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc nào cũng đều là vì thân thể! Yêu quý, bảo vệ thân thể nhất, cho rằng trên cõi đời, nó cần được bảo vệ, đáng tôn trọng, cung phụng nhất chính là nó. Hiện thời, nhất định phải thấy rõ ràng bổn tướng của thân thể. Khi phát hiện nó giống như một cái nhà xí di động ô uế, là chỗ căn bản để phát xuất nỗi khổ lớn nhất, sẽ còn vì nó mà tham lam nữa hay chăng? Chẳng cần thiết, khi ấy, sẽ dấy lòng chán lìa, chẳng còn muốn làm chuyện gì vì nó nữa.
          Ví như ở cùng một bệnh viện, ẵm lầm đứa trẻ, ngỡ đứa con của oán gia là con đẻ của chính mình, lãnh về nhà, mấy chục năm ngậm đắng nuốt cay, dốc lòng dưỡng dục, coi nó như tâm can bảo bối. Bỗng có một ngày, kẻ khác nói cho người ấy biết chân tướng: “Đấy là con của kẻ oán gia”. Do vậy mới biết trước kia đã phí công, từ đấy về sau, cũng chẳng còn dấy lòng làm gì cho nó nữa. Đấy là dấy lòng chán lìa. Cũng giống như vậy, một khi đã phát hiện thân thể là một thứ chất chứa cả đống ô uế như vậy, còn muốn vì nó làm gì nữa chăng? Đã thế, nó là nguồn gốc của muôn nỗi khổ, là khí cụ của muôn nỗi khổ, là cỗ máy chế tạo nỗi khổ chẳng có gì lớn hơn nữa, là đồ đựng để tuôn ra nỗi khổ, còn muốn vì nó làm gì nữa hay chăng? Ngay lập tức cảm nhận đấy là cái thân luân hồi, khổ não, hoạn nạn, phải lìa bỏ, chớ nên bảo vệ nó nữa, vì nó mà tham, vì nó mà cầu, tạo trọn hết các nghiệp, chuốc lấy nỗi khổ to lớn dằng dặc trong đời sau; khi ấy, sẽ sanh lòng nhàm lìa. Vì thế, điều trọng yếu là phải thấy cái thân yêu quý nhất của chính mình là bất tịnh, thể tánh của nó là khổ.
          Nói tách ra thì có hai loại là bất tịnh và khổ, nói gộp chung thì là một chữ Khổ. Thấy nó chỉ có khổ, chẳng có lạc, bèn chỉ mong hết sức nhanh chóng thoát khỏi, mà cũng chẳng mong vì nó làm gì nữa! Như vậy thì sẽ có thể từ thân thể mà phát sanh ý nguyện lìa khỏi sự tham đắm ngũ dục. Chán bỏ cái thân này, tức là chán bỏ Sa Bà từ nguồn cội. Sau đó, lại mong thay đổi cái thân này, cầu đạt được cái thân thanh tịnh nơi Tịnh Độ. Đấy là tu phương pháp chán lìa.
 
          (Luận) Hựu kinh vân: “Thử thân chúng khổ sở tập, nhất thiết giai bất tịnh. Ách phược ung sang đẳng, căn bn vô nghĩa lợi, thượng chí chư thiên thân giai diệc như thị”.
          ()又經云:「此身眾苦所集,一切皆不淨,扼縛癰瘡等根本無義利,上至諸天身皆亦如是。」
          (Luận: Kinh lại nói: “Thân này là các khổ nhóm họp, hết thảy đều bất tịnh. Là cái ách, là trói buộc, là ung nhọt, ghẻ v.v… căn bản là chẳng có nghĩa lợi, trên là cho đến thân của chư thiên cũng đều giống như vậy”).
 
          [Đoạn này] chia thành năm phần:
          1) Thân này là chỗ các khổ nhóm họp.
          2) Ý nghĩa được bao hàm trong các thí dụ như cái ách, trói buộc v.v…
          3) Ý nghĩa được bao hàm trong các thí dụ như ung nhọt, ghẻ v.v…
          4) Ý nghĩa được bao hàm trong “căn bản vô nghĩa lợi”.
          5) Ý nghĩa được bao hàm trong “trên là cho đến thân của chư thiên cũng đều giống như vậy”.
 
10.1.1.1. Thân này là chỗ các khổ nhóm họp
 
          Đối tượng để quan sát chính là cái thân Ngũ Thủ Uẩn[5], hoặc tương tục (tiếp nối), không chỉ là nhục thân. Cái thân Ngũ Thủ Uẩn ấy chính là chỗ vô lượng các điều khổ tụ tập. Trong ấy bao hàm hai ý nghĩa:
          1) Là chỗ tạo tác các điều khổ, được gọi là “khổ khí” (苦器), mang ý nghĩa cỗ máy [tạo tác các nỗi khổ].
          2) Là vật dụng sanh ra các nỗi khổ, mang ý nghĩa đồ đựng.
          “Vật dụng sanh ra các nỗi khổ” lại có năm điều:
          a. Vật dụng tạo thành các nỗi khổ trong mai sau.
          b. Vật dụng xuất sanh các nỗi khổ.
          c. Vật dụng Khổ Khổ.
          d. Vật dụng Hoại Khổ.
          e. Có tánh chất của Hành Khổ.
 
10.1.1.1.1. [Thân Ngũ Uẩn là] vật dụng tạo thành các nỗi khổ trong mai sau
 
          Do nương vào các Uẩn đã nhận lãnh, sẽ có thể dẫn đến các nỗi khổ từ đời sau trở đi. Hiện thời, đã thành Ngũ Thủ Uẩn, có năm loại pháp là Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức; do đấy bèn khởi Hoặc, tạo nghiệp, có thể dẫn đến các nỗi khổ từ đời sau trở đi. Hoặc là do trong A Lại Da Thức chứa đựng các thứ chủng tử khổ trong đời quá khứ, nếu trong đời này chẳng cảm lấy quả khổ thì trong tương lai cũng sẽ đời đời xuất sanh các nỗi khổ.
 
10.1.1.1.2. [Thân Ngũ Thủ Uẩn là] vật dụng sanh ra các nỗi khổ
 
          Đã thành tựu Ngũ Thủ Uẩn, đấy chính là chỗ nương tựa của các nỗi khổ “lão, bệnh, tử, suy, yêu thương mà phải chia lìa, ganh ghét mà phải gặp gỡ, cầu chẳng được” v.v… Trước mắt đã tạo thành các uẩn thể[6]; trong tương lai, sẽ không ngừng nẩy sanh các thứ khổ não trong một kỳ sanh tử (một đời người). Nó chính là vật dụng to lớn để phát sanh các nỗi khổ.
 
10.1.1.1.3. [Thân Ngũ Thủ Uẩn là] vật dụng của Khổ Khổ và Hoại Khổ
 
          Chủng tử của hai thứ Khổ Khổ và Hoại Khổ theo sát chẳng rời trong uẩn thể. Vì thế, lúc gặp duyên, chúng nó sẽ từ đó mà không ngừng sanh ra Khổ Khổ và Hoại Khổ.
 
10.1.1.1.4. Có tánh chất của Hành Khổ
 
          Ngũ Thủ Uẩn đã được tạo thành từ lúc tối sơ sẽ biến thành tự tánh của Hành Khổ. Từ đấy trở đi, hết thảy các Hành đều thuận theo sức của Hoặc Nghiệp trong đời trước mà tự tại chuyển biến, đấy chính là Hành Khổ. Cũng là do lúc ban đầu, một niệm mê mất, cho là có Ngã, có Ngã Sở (những thứ mà ta sở hữu), do như vậy mà khởi Hoặc (dấy lên phiền não) tạo nghiệp, sanh ra tự tánh của Ngũ Thủ Uẩn. Từ đấy một mực chẳng tránh khỏi trạng huống để mặc cho sức Hoặc nghiệp tự tại xoay chuyển, một mực đều là tự tánh đổi dời, chẳng quay trở lại. Vì thế, gọi là “Hành Khổ tánh”. Giống như Hoàng Hà từ chỗ phát nguyên (chỗ bắt nguồn) bèn bắt đầu chảy thành giòng, từ đó cuồn cuộn bất tuyệt tuôn xuống vùng hạ lưu, chưa hề bị cắt đứt. Chỉ có bậc đã đạt được địa vị thánh, dùng Vô Ngã Không Huệ để cắt đứt nó thì mới bắt đầu đi ngược giòng. Trước khi xuất hiện đối trị, một mực luôn dời đổi. Cũng là từ một niệm tưởng lầm “có Ngã”, sau đấy, do sức mạnh của Ngã Chấp mà khởi Hoặc tạo nghiệp, chưa hề ngưng nghỉ. Do vậy, khi cái quả xuất hiện, nghiễm nhiên vẫn do sức mạnh ấy dẫn khởi các Uẩn sau đó. Liên tục chẳng ngừng trong mỗi sát-na như thế, trước khi bị cắt đứt, nó sẽ tạo thành Hành Khổ tánh.
          Nói chung, Thủ Uẩn là năm loại vật dụng để tạo khổ, nên nói là “chúng khổ sở tập” (các khổ nhóm họp).
          Lại xét theo phương diện bất tịnh. Từ một niệm lầm loạn, sau đấy, sẽ đánh mất sự thanh tịnh, hoàn toàn thuộc vào trạng thái của kẻ điên cuồng, ngỡ cái chẳng có là có, ngỡ cái có là chẳng có. Do sức mạnh của sự chấp trước Ngã và Ngã Sở mà không ngừng dấy lên các suy nghĩ lầm loạn và chấp trước lầm loạn. Trong lúc bị cái Ngã riêng tư và lòng ham muốn riêng tư sai khiến, đã dấy lên các loại phiền não và nghiệp, những thứ ấy đều là sự tạp nhiễm nơi cái nhân. Quả báo xuất hiện từ sức mê loạn ấy làm sao có tự tánh thanh tịnh cho được? Vì thế, cái quả được gọi là “sanh tạp nhiễm”. Nói chung, trạng huống từ nhân cho đến quả đều là tạp nhiễm, điều này được gọi là “hết thảy đều bất tịnh”. Do nơi nhân, chỉ có thể phát sanh phiền não tạp nhiễm và nghiệp tạp nhiễm, cho nên bất tịnh; nơi quả thì luân hồi, sanh trong tam giới, nên gọi là “sanh bất tịnh”. Hoặc nhìn từ hai phương diện thân và tâm, thân người do ba mươi sáu vật bất tịnh hợp thành, thuần túy bất tịnh. Trong tâm, không gì chẳng phải là chấp trước cái Ngã riêng tư, dấy khởi các loại phiền não tham, sân, si… cũng như phát khởi các hành động cầu lợi cho chính mình. Đấy chính là trạng thái phiền não và nghiệp đều bất tịnh.
 
10.1.1.2. Ý nghĩa bao hàm trong thí dụ về cái ách và sự trói buộc
 
           “Ách phược” (扼縛) là giống như cái ách cày đè trên cổ con trâu, một mực lôi con trâu tiến về trước. Đấy là hình dung uẩn thân (thân do Ngũ Uẩn hợp thành) một mực tùy ý xoay chuyển theo sức của Hoặc nghiệp, là trạng thái khổ sở chẳng có mảy may tự tại.
          Ví như kẻ tù tội bị giam giữ trong ngục tù, bất cứ hành vi gì cũng đều chẳng được tự tại, phải chịu trừng phạt, bị sai khiến làm lao dịch v.v… Cái thân Ngũ Uẩn của chúng ta bị sức Hoặc nghiệp khống chế, một mực ở trong tình trạng sanh tử khổ sở. Nhìn theo phương diện đại lược thì là không ngừng thọ thân trong tam giới, sanh rồi chết, chết rồi lại sanh, chẳng có cách nào thoát khỏi trạng huống sanh tử. Xét tỉ mỉ, một mực thuộc trong sự dời đổi của các Uẩn; ở trong ấy, sẽ xuất hiện các nỗi khổ sanh, lão, bệnh, chết, yêu thương mà phải chia lìa, oán ghét mà phải tụ hội, cầu chẳng được v.v…, gặp phải những cảnh giới hợp ý, chẳng hợp ý, trung dung (không vừa lòng, không trái ý) v.v… không ngừng dấy lên tham, sân, si. Nói chung, trạng huống nơi cái nhân là trong các Uẩn đều có chủng tử phiền não theo sát, cho nên chẳng ngừng hiện hành phiền não, tạo tác cái nhân của sự khổ. Trạng huống nơi quả là do cái thân Ngũ Uẩn bị các chủng tử khổ theo sát nút, không ngừng xuất hiện các thứ khổ. Tất cả các hành vi đều do sức Hoặc nghiệp khống chế, tất cả quả báo đều do sức Hoặc nghiệp tạo tác, hoàn toàn là trạng huống tự tại xoay chuyển bởi nó (sức Hoặc nghiệp).
          Giống như một thớt ngựa bị dây cương khống chế, bị roi quật, chỉ có thể không ngừng tiến về trước, luôn bị người khác tùy ý xoay chuyển. Lại giống như tù nhân hứng chịu hình phạt, thồ đá đi về phía trước, chẳng có mảy may thong dong, thảnh thơi nào! Lại như chiếc thuyền nhỏ trôi giạt theo gió trong biển cả, sóng gió hung tợn, gấp rút, mạnh mẽ, chẳng ngừng một sát-na nào. Thuyền không ngừng bị sóng gió xô đẩy, chẳng được tự tại tí nào. Lại giống như một chiếc xe hơi loại nhỏ bị hư thắng, một mực chạy như điên, cuối cùng lao xuống vách núi. Cũng là do bị sức Hoặc nghiệp chi phối, Uẩn thân chẳng thể không tiến về trước; sau khi tạm thời an ổn, nhất định sẽ lao xuống vách núi. Đấy là kiếp sống luân hồi, luôn không ngừng tiến về trước, cuối cùng rơi khỏi vách núi! Trạng huống của sức Hoặc nghiệp giống như chiếc xe một mực chạy nhanh, bỗng xuất hiện trạng huống hiểm ác, nhân duyên tụ tập bèn rơi xuống vách núi, xe hủy, người chết. Đã thế, chẳng phải là rơi xuống vách núi một lần, đã rơi xuống vách núi rồi lại xuất hiện một chiếc xe chạy tiến về trước, sau đó lại đụng xe, lại bị hủy hoại. Lại xuất hiện một chiếc xe khác v.v… Cứ như thế chẳng hết, chẳng xong, một mực ở trong tình trạng bị khống chế. Vào thời cổ, chỉ có thể dùng hình tượng cái ách cày của con trâu để thí dụ, ngày nay thì có đủ các loại, các dạng thí dụ. Nói chung là chính mình chẳng tự tại, hết thảy đều là trạng huống mặc tình xoay chuyển theo thứ khác, toàn là trạng thái khổ sở. Do như vậy bèn liễu giải, trạng huống Ngũ Thủ Uẩn liên tục quả thật khó lòng chịu đựng. Đó chính bệnh trạng lớn nhất trên cõi đời.
          Trên đây là nói đến sự tuần hoàn do không ngừng bị sức Hoặc nghiệp hãm trong nỗi khổ, rơi vào trong sự kiềm chế của sự khổ, chẳng có cách nào thoát ra, nên gọi là “ách phược”. Đây cũng là hình dung Hành Khổ, thuộc vào trạng huống một mực bị sức Hoặc nghiệp tự tại xoay chuyển. Phải từ trong ấy mà tỉnh ngộ: Chúng ta từ vô thỉ cho đến đời này bèn ngưng dứt, đã trải qua thời kiếp lâu dài chẳng thấy bờ mé, một mực thuộc trong Hành Khổ bị sức Hoặc nghiệp tự tại xoay chuyển, chẳng tự tại. Đấy là cội nguồn phát sanh hết thảy các nỗi khổ sanh tử. Trong ấy có nỗi hoạn nạn cực đại là sanh tử, chẳng giống như nỗi khổ sanh tử trong một khoảng thời gian ngắn ngủi trong các tình hình thông thường như ta thường nói; nó được gọi là Sanh Tử Khổ Hải (biển khổ sanh tử). Nếu chẳng tìm được phương pháp để giải trừ, đối trị, sẽ chịu khổ vô hạn giống hệt như vậy. Nếu chẳng thể dùng tự lực để giải trừ cơ chế vận hành này, sẽ vẫn bị nó lôi kéo đi theo hướng duyên khởi ấy. Đương nhiên là vận mạng thuần khổ, chẳng lạc, chớ nên mong mỏi sẽ có thể đạt được sự an lạc chân thật trong ấy!
          Chúng ta ắt cần phải tỉnh táo nhận biết điều này thì vận mạng mới có thể phát sanh chuyển biến. Phương hướng để tiến hành, phương hướng để nỗ lực sẽ biến thành “phải giải trừ Ngũ Thủ Uẩn”, chẳng phải là mong mỏi đạt được an lạc nơi uẩn thể. Đấy chỉ là vọng tưởng của kẻ si mà thôi! Một phen quyết đoán này sẽ khiến cho chúng ta phát sanh cái tâm chán lìa, mà cũng là mong thoát lìa nỗi khổ liên tục do Ngũ Thủ Uẩn.
 
10.1.1.3. Ý nghĩa bao hàm trong thí dụ về ung nhọt, ghẻ độc
 
          Khi ghẻ nhọt chạm phải nước nóng, sự cảm nhận khổ sở kịch liệt sẽ khống chế gắt gao thân tâm, đau đớn không có cách nào chịu đựng nổi! Đấy là thí dụ về trạng thái Khổ Khổ. Nếu chạm vào nước lạnh, sẽ chẳng bị nỗi đau đớn kịch liệt bức bách, cảm thấy thoải mái, vui sướng. Trên thực tế, chỉ là sự cảm nhận sai lầm khi Khổ Thọ được giảm nhẹ. Đấy là thí dụ về Hoại Khổ. Nhân duyên hòa hợp bèn tạm thời xuất hiện cảm nhận sai lầm là nỗi đau khổ giảm nhẹ. Hễ nhân duyên tan tác, lại bị hãm vào nỗi khổ. Nó có tánh chất diệt hoại, chẳng phải là sự an lạc chân thật. Hơn nữa, khi ghẻ nhọt chưa chạm vào nước nóng hay nước lạnh, cảm giác rất bình lặng; trên thực tế, sự tồn tại của vi trùng chẳng giảm bớt mảy may, căn bản là chẳng giải trừ. Chỉ cần gốc bệnh còn ẩn tàng, hễ gặp duyên, nó sẽ hiện hành Khổ Khổ và Hoại Khổ chẳng gián đoạn. Do vậy, hiện ra trạng thái tợ hồ bình lặng, thực tế là trạng thái chờ đợi sự khổ bùng phát. Đấy là thí dụ về Hành Khổ, từ đầu đến cuối đều thuộc trong trạng thái của cái nhân gây khổ, đương nhiên là tánh Khổ.
          Nay quan sát thân Ngũ Thủ Uẩn của ta và người khác, phải xác nhận nó đích xác giống như ung nhọt, ghẻ lở. Có thể phóng đại ung nhọt, ghẻ lở to một khoảng thước bảy, nặng hơn một trăm cân, đại khái là to bằng một người, phía ngoài bọc bằng một tầng da mỏng lét, bên trong là cơ chế phát sanh sự khổ. Nó bao gồm trạng huống của một đống lớn tế bào nưng mủ về mặt sinh lý, cùng với các thứ chủng tử phiền não và các thứ chủng tử khổ nơi tâm lý bám theo sát nút. Do vậy bèn biết: Trạng huống của nó là một lớp da bên ngoài bọc lấy các thứ khổ nhân độc tố, một mực dùng A Lại Da Thức làm cơ chế huân tập, cất giữ chủng tử, thuận theo sức duyên khởi mà hiển hiện chẳng dứt, khó thể suy lường được!
          Một mai nhân duyên của sự khổ chín muồi, nơi ung nhọt sẽ phát sanh nỗi khổ to lớn hết sức kịch liệt đối với thân tâm. Khi đó, hết sức khó thể chịu đựng, nỗi khổ kìm kẹp chính mình, chẳng có cách nào thoát khỏi. Có lúc các nhân duyên của phước nghiệp chín muồi, sẽ cảm thấy có những cảm giác vui sướng, tức Lạc Thọ, nỗi thống khổ giảm bớt, khiến cho người ta có cảm giác sai lầm là đang vui sướng. Nhưng đột nhiên lại giống như ghẻ nhọt chạm phải nước nóng, phát sanh Khổ Thọ (cảm nhận sự đau khổ) dữ dội. Có lúc cảm thấy rất bình thản, chẳng khổ, chẳng vui, cảm thấy như thế đó. Nhưng điều này cũng chẳng an ổn, vì chủng tử phiền não và chủng tử khổ trong khối ung nhọt to lớn chẳng giải trừ tí nào, chúng vẫn không ngừng tiếp nối, đang chờ đợi nhân duyên. Khi bỗng dưng gặp phải cảnh vừa ý hay trái ý, sẽ lại phát sanh tham, sân, lại bắt đầu một loạt khổ nhân mới. Hoặc là khi gặp gỡ các nhân duyên, thân thể lập tức ngã bệnh, xuất hiện sự suy lão, khó coi, hoặc là tử vong v.v… sự khổ nạn to lớn bám chặt nơi tự tâm, chẳng có cách nào thoát khỏi. Đó là trạng huống của Khổ Thọ. Hoặc là bỗng dưng gặp các nỗi khổ như yêu thương mà phải chia lìa, oán ghét mà cứ phải gặp gỡ, chiến tranh, ôn dịch, nạn đói v.v… từng đợt khổ sở, ưu sầu đưa tới, cảm thấy sống một ngày bằng cả năm, khi nào mới có thể thoát khỏi? Có khi lại nghênh đón mùa Xuân, ánh nắng tươi sáng, hoan ca, nói cười v.v… dường như có đôi chút vui sướng. Trong đời người, thường có tình trạng này, thật ra là Hoại Khổ. Vì mỗi điều đều là giả tướng do nhân duyên duy trì, hễ nhân duyên qua rồi, sẽ lại rất tịch mịch, rất bất đắc dĩ, chẳng có ý nghĩa gì, lại hãm trong ưu tư, khổ sở. Hoặc là một khi thành công, hạnh phúc, tình yêu v.v… trong quá khứ tan biến, những nỗi ưu tư, khổ sở dữ dội khó thể chịu đựng sẽ khống chế chính mình. Vì thế, những điều khoái lạc trong quá khứ đều là Hoại Khổ. Đấy là trạng huống trong nhân gian.
          Lại nói đến chuyện lên trời hưởng lạc, bất quá cũng chỉ là giảm chậm nỗi đau khổ trong một thời gian khá dài, chẳng bị bức bách, sầu não dữ dội cho lắm! Ngay trong lúc họ đắc ý vênh vang, tưng bừng hưởng lạc, bỗng dưng nhân duyên thay đổi, quang cảnh [đắc ý, khoái lạc] một thời ngay lập tức chẳng còn nữa, xuất hiện nỗi khổ suy diệt to đùng. Khi ấy, hết sức sợ hãi, sắp từ thiên giới đọa xuống, tình huống ngày càng ảm đạm, thê lương, toàn bộ các loại thọ dụng ngay lập tức chẳng còn nữa, hết sức khó chịu đựng, sau đấy, rơi vèo xuống hạ giới! Đáng thương nhất là trở thành củi mới trong địa ngục Vô Gián, ghẻ độc phát tác kịch liệt, các chủng tử địa ngục trong ấy hiện hành, không ngừng bị lửa mạnh thống khổ thiêu đốt triền miên vô số năm tháng không bờ bến, sống những ngày tháng tối tăm, thê thảm chẳng nỡ nhìn. Cho tới khi đỡ hơn đôi chút, sanh vào súc sanh đạo, hoặc làm người, nỗi khổ cùng cực giảm nhẹ đôi chút, nhưng rồi lại rất nhanh chóng đọa xuống. Cũng giống như vậy, do vì chẳng giải trừ Tập Đế, các chủng tử do Ngã Chấp đã huân tập thành sẽ không ngừng hiện hành; sau đấy, lại huân tập thành chủng tử khác, chúng nó lại hiện hành, một mực trôi lăn trong Hoặc nghiệp khổ! Uẩn cũng là diễn biến theo từng giai đoạn, là một thứ trạng huống khổ sở to lớn dường ấy!
          Sau khi đã lý giải như vậy, sẽ biết bản thân ta là một thứ ung nhọt to, một mực chẳng chữa lành! Nó không ngừng biến đổi, đổi mới đủ vẻ, xuất hiện các nỗi khổ chẳng cùng cực trong sáu đường. Đấy chính là chỗ phát sanh sự chán ghét. Một khi đã hiểu rõ Hành Khổ và Ngũ Thủ Uẩn Khổ, sẽ có thể phát sanh lòng chán lìa triệt để.
 
10.1.1.4. Ý nghĩa bao hàm trong “căn bản vô nghĩa lợi”
         
          Từ một niệm vô minh, sau khi đã trở thành Ngũ Thủ Uẩn, nó là tự tánh của Hành Khổ, trở thành căn bản để phát sanh vô lượng Khổ Khổ và Hoại Khổ. Nó thuần là khổ nhân (cái nhân tạo ra khổ), thuần là dụng cụ xuất sanh khổ, tạo ra khổ. Vì thế, cũng chẳng có một tí nghĩa lợi nào. Nói cách khác, nếu có thể đạt được một chút an lạc chân thật trong ấy, vậy thì có thể định nghĩa nó còn có nghĩa lợi chân thật, nhưng một tí an lạc chân thật cũng chẳng đạt được. Vì thế, nó lại giống như biển khổ thuần túy, lại giống như một nhà xí thuần túy ô uế, hoặc vùng đất của la-sát, nên gọi là “chốn khổ nạn vĩnh viễn”. Từ đây, có thể thấy là căn bản chẳng có nghĩa lợi! Mong cầu thật nghĩa trong ấy thì đúng là kẻ si nói mớ, mong mỏi những thứ tốt đẹp sẽ xuất hiện trong ấy thì hoàn toàn là suy tưởng điên đảo, rốt cuộc chẳng thể thực hiện được! Từ trong ấy, chúng ta phải thấy thấu suốt triệt để, phát sanh cái tâm chán lìa triệt để.
 
10.1.1.5. Ý nghĩa bao hàm trong câu “trên là cho đến thân chư thiên cũng đều như thế”
 
          Nhìn theo trạng huống toàn thể của luân hồi, [sẽ thấy] Ngũ Thủ Uẩn tiếp nối chẳng ngừng. Ngay như lên đến thiên giới, trạng huống này cũng chẳng biến đổi, chỉ là trong toàn thể quá trình lưu chuyển, nó sẽ ngưng nghỉ tạm thời một khoảng thời gian đó thôi. [Khi giai đoạn ngưng nghỉ ấy] qua đi, sẽ lại phát sanh Khổ Khổ. Bởi lẽ, thăng thiên chỉ là do sức mạnh của phước nghiệp khiến cho Khổ Khổ tạm thời ngưng dứt, chẳng phát tác dữ dội trong một khoảng thời gian, nhưng về căn bản là chẳng lành bệnh! Nhìn từ phía Ngũ Thủ Uẩn đã hình thành, họ (chư thiên) một mực mang bệnh của Ngũ Thủ Uẩn, chưa hề lành bệnh. Ngã Chấp và phiền não trong ấy chẳng đoạn mảy may, luôn luôn là trạng thái chủng tử phiền não và chủng tử khổ một mực theo đuổi. Do vậy, chắc chắn là sẽ có hậu uẩn (thân Ngũ Uẩn trong đời kế tiếp). Tình trạng bệnh tật ấy chẳng tiêu trừ chút nào, chắc chắn là sẽ diễn biến thành nỗi khổ vô cùng vô tận.
          Thân của chư thiên giống như tạm thời ngủ say một khoảng thời gian trước khi đọa lạc. Khi sức nhân duyên duy trì [cái thân ấy] tiêu tan, nói theo chư thiên trong Dục Giới, sẽ nhanh chóng xuất hiện “suy tướng”[7]. Đó là nỗi khổ to lớn hết sức khó chịu đựng được, sau đấy sẽ đọa lạc. Nhìn từ Sắc Giới Thiên trở lên, họ sẽ nhanh chóng xuất Định. Do chẳng có Định lực, sẽ đọa lạc xuống cõi dưới. Đó là trạng thái của ghẻ độc [âm ỉ], chỉ là tạm thời dùng nước lạnh xoa lên chốc lát, do thực hiện sự bảo vệ rất tốt, cho nên nó tạm thời chẳng phát tác. Ngày nào đó, lìa khỏi sự bảo vệ, chạm phải nước nóng, Khổ Thọ sẽ ngay lập tức bộc phát. Từ đây có thể thấy: Thân trời và thân địa ngục cũng đều ở trong tình trạng bệnh khổ như nhau; bất quá, thân trời thuộc lúc [bệnh tình] chẳng phát tác, còn thân địa ngục nhằm lúc nó phát tác kịch liệt! Nhưng khi thân trời qua đi, sẽ là thân địa ngục, vì rốt cuộc [bệnh khổ] sẽ phát tác, lại còn phát tác rất mạnh. Do đó, nhìn từ toàn thể quá trình diễn biến, có thể nói là thân trời và thân địa ngục đều đáng sợ như nhau! Giống như thấy một người mang chứng bệnh ung thư đang phát tác dữ dội, cảm thấy người ấy hết sức đáng thương, nhưng một người khác có cùng bệnh chứng giống y hệt, tuy chưa phát bệnh, nhưng quan sát từ cơ chế duyên khởi, [sẽ biết là] chẳng mấy chốc, [người đó] cũng rơi vào tình trạng đó. Hai kẻ ấy giống nhau, bất quá sớm hay trễ một bước đó thôi!
          Chúng ta phải có tầm nhìn dài lâu, nhìn thấy cơ chế tạo tác Tam Khổ của Ngũ Thủ Uẩn; một khi đã thấy rõ toàn thể quá trình phát triển của nó, sẽ biết thân trời và thân địa ngục giống nhau. Vì sao nói như vậy? Thân địa ngục tạm thời đọa lạc vào chỗ khổ sở nhất, khi đã qua rồi, sẽ có thể quay lại làm người, làm trời, nhưng chỉ cần chẳng xuất hiện cách đối trị bằng Vô Ngã Không Huệ, vấn đề sẽ chẳng giải quyết. Có thể thấy thân địa ngục tạm thời phát tác dữ dội, nhưng trong nhiều kiếp sau, lại có thể trở về thành thân người, thân trời. Thăng thiên mấy vạn năm, thậm chí bao nhiêu kiếp, sau đó lại đọa lạc, rồi lại thăng lên… Nhìn vào toàn thể quá trình, [sẽ thấy] là họ tạm thời đọa xuống, [thời gian đọa lạc] qua đi, sẽ có thể thăng lên trở lại. Họ hiện thời đang ở trong tình trạng Khổ Khổ, sau đó, sẽ lại xuất hiện trạng thái Hoại Khổ và Hành Khổ. Thân trời hiện thời thuộc trạng thái Hoại Khổ hoặc Hành Khổ, nhưng chắc chắn là bao nhiêu năm hoặc bao nhiêu kiếp mai sau, sẽ rơi vào trạng thái Khổ Khổ. Nhìn vào toàn thể trạng huống, bất quá là tạm thời một đằng ở chân sóng, một đằng ở đỉnh sóng, chứ nhìn vào toàn thể trạng thái của sóng luân hồi, sẽ thấy chẳng khác biệt! Vận mạng luân hồi của chư thiên và vận mạng luân hồi của chúng sanh trong địa ngục, nhìn vào trạng thái trong tương lai, đều là như nhau!
          Chúng ta đừng nên ảo tưởng trong đoàn tàu khổ sở ấy sẽ có trạng thái tốt đẹp đáng nói! Chỉ cần không vãng sanh Tịnh Độ, rơi vào trong luân hồi, bất luận tạm thời là trạng huống gì đi nữa, nhìn theo toàn thể, sẽ thấy đều là giòng luân hồi khổ sở! Xét theo từng giai đoạn nhỏ, chúng ta cảm thấy hiện thời tốt đẹp lắm, có hạnh phúc, vui sướng, nhưng bậc trí thấu triệt nỗi khổ thủ uẩn, sẽ thấy giống như Tứ Bách Luận đã nói, “bậc trí quán cõi trời như địa ngục”, cùng một kiểu, một dạng như nhau! Ví như nhìn vào người trên địa cầu, nhìn theo từng giai đoạn nhỏ, bèn có các loại trạng thái sang, hèn, cao, thấp, nghèo, giàu, khổ, vui v.v… Nhưng nhìn vào trạng huống luân hồi chung của mỗi hữu tình, sẽ phát hiện “đều khổ như nhau!” Bất cứ hữu tình nào cũng đã đều vô số lần làm thiên vương, Chuyển Luân Vương, cũng đã vô số lần vào địa ngục, trạng huống y hệt như nhau! Đấy là trông thấy toàn thể tam hữu (tam giới) hoàn toàn thuộc vào trạng huống tam khổ (Khổ Khổ, Hoại Khổ, và Hành Khổ) tiếp nối chẳng ngừng, toàn là trạng huống luân hồi. Từ đó, sẽ có thể phát khởi cái tâm ghét trọn khắp tam hữu, tâm ghét trọn khắp luân hồi.
 
10.1.2. Thật Tu
         
          Chia thành hai phần:
          1) Khổ quán, bất tịnh quán v.v…
          2) Phát nguyện.
 
10.1.2.1. Khổ Quán, Bất Tịnh Quán…
 
          (Luận) Hành giả nhược hành, nhược tọa, nhược thùy, nhược giác, thường quán thử thân, duy khổ vô lạc, thâm sanh yếm ly.
          ()行者若行若坐,若睡若覺,常觀此身唯苦無樂深生厭離。
          (Luận: Hành giả đi, ngồi, ngủ, thức, thường quán thân này chỉ là khổ, chẳng lạc, sanh lòng chán lìa sâu xa).
 
          “Thử thân” (Thân này) chỉ Ngũ Thủ Uẩn. Sau khi đã liễu giải lý thú “khổ, vô lạc”, phải thường xuyên quán hạnh, cũng tức là trong khi đi, đứng, ngồi, nằm, ngủ nghê, tỉnh giấc v.v… trong hết thảy các thời điểm và vị trí, trong hết thảy oai nghi, đều phải quan sát tánh của Ngũ Thủ Uẩn thuần là khổ, là cội nguồn của đại hoạn (tai ương to lớn), là cội nguồn của vô lượng khổ. Hãy nên quan sát nó chính là pháp đáng chán ghét nhất trên cõi đời, phát khởi lòng chán ghét đối với tự tánh của Khổ Uẩn, tức là có đầy đủ lòng chán ghét. Trong kinh luận, chư Phật, Bồ Tát ở đã dạy rõ ràng: Tâm chán lìa hoặc tâm xuất ly là đối với tự tánh của Thủ Uẩn, sẽ phát sanh lòng chán, lo. Liễu tri rành rẽ, xác đáng nó chính là cội nguồn của nỗi khổ sanh tử to lớn. Chúng ta thường nói “yếm hoạn thử thân” (chán ngán, lo ngại cái thân này), “yếm ly sanh tử” (chán lìa sanh tử), “tùng luân hồi trung giải thoát” (giải thoát khỏi luân hồi) v.v… đều nhằm nói lên ý này.
          Chúng sanh do một niệm mê mất mà nẩy sanh Ngã Kiến, hình thành tự tánh của Thủ Uẩn. Từ đấy, niệm nào cũng tiếp nối, từ đầu đến cuối, không có cách nào thoát khỏi trạng huống bị nghiệp lực tự do xoay chuyển, một mực đều là khổ nhân (cái nhân gây ra khổ), trạng thái khổ, không ngừng hứng chịu cuộc sống luân hồi chẳng hết, chẳng xong, phát triển thành biển khổ không ngằn mé. Đã thấu triệt lý thú trên đây, sẽ biết ghẻ độc ở ngay nơi đây, luân hồi ở ngay nơi đây, thân chính mình vướng phải căn bệnh lớn nhất tên là “Ngũ Thủ Uẩn bệnh”, [chính mình] cũng là tù nhân đáng thương nhất. Hễ nghĩ đến thể tánh của thân thể này, bèn sanh lòng chán lìa rất lớn, mong nhanh chóng giải quyết vấn đề này. Nếu không, khổ sở, ương hoạn sẽ vô biên!
          Giống như thế đó, đã hiểu đạo lý trên đây rồi, lại tác quán, có thể nghĩ tưởng: Cái thân này là căn bệnh lớn nhất, trong ấy, chứa đầy chủng tử phiền não, chủng tử khổ. Hễ gặp duyên, chúng nó sẽ dấy lên hiện hành, lại có thể chiêu cảm cuộc sống luân hồi kế tiếp. Giống như một gã tù nhân, biết chính mình đang ở trong trại tập trung của tam giới, bị phán xử chịu hành hình luân hồi không kỳ hạn, vào những lúc cố định hay bất ngờ, sẽ gặp phải các nỗi khổ lớn, nhỏ, dài, ngắn v.v… đủ hình, đủ vẻ! Gã ấy nhất tâm suy tưởng: “Một mực là thuần khổ chẳng vui như thế, đến khi nào ta mới có thể vượt thoát?” Cũng giống như vậy, một lòng mong vượt thoát. Khi ấy, đối với hết thảy, chẳng có một tí tâm ưa thích nào, chẳng ôm ấp bất cứ ảo tưởng nào, biết ngoài khổ ra thì vẫn là khổ! Tạm thời ăn một bữa ngon lành, sau đấy lại bị roi da hầu hạ. Tạm thời ngủ một giấc, sau đấy, lại bị đánh đấm. Đấy là thọ báo vô cùng vô tận, vĩnh viễn chịu khổ không ngằn hạn. Sự vui tạm thời chỉ bất quá cho quý vị được giảm bớt [nỗi thống khổ], đến lần sau, sẽ càng khổ hơn. Tạm thời lìa bỏ cũng chẳng phải là sự an ổn chân thật, mà là nghênh tiếp một trận khổ của lần sau. Sau khi đã liễu giải như vậy, thời thời khắc khắc đều phải quan sát “chỉ có khổ, chẳng vui”, sanh lòng chán ghét đối với toàn thể cuộc sống luân hồi, sanh lòng chán ghét đối với hết thảy các pháp trong luân hồi.
          Giống như trong một câu chuyện, trong quá khứ ở phương Bắc của Tây Tạng, Tán-ba (糌粑, zanba)[8] rất hiếm quý, rất khó có để ăn, người dân nơi đó đa số ăn củ cải[9] để sống sót. Trẻ nhỏ bất luận ăn củ cải tươi hay củ cải khô, đều nói: “Lại là củ cải, lại củ cải nữa!” Giống như vậy, pháp luân hồi thuần khổ chẳng vui, phải luôn luôn nhắc nhở chính mình: “Lại là pháp sanh tử, lại là pháp sanh tử. Khi nào ta sẽ có thể từ trong lao ngục tam giới thoát ra, sanh vào chỗ an lạc thanh tịnh?” Nhất tâm mong cầu giải thoát khỏi Ngũ Thủ Uẩn như vậy, thì gọi là Xuất Ly Tâm, bắt đầu mong thoát lìa luân hồi, chẳng phải là mong cầu điều gì trong ấy. Có cái tâm ấy, lại phối hợp với giáo pháp Tịnh Độ, biết A Di Đà Phật từ vô lượng kiếp tới nay, do đại nguyện và đại hạnh, đã thành tựu cõi Tịnh Độ ở ngoài tam giới, dùng phương tiện đơn giản và dễ dàng tột bậc để tiếp dẫn chúng sanh về đó, hòng tránh khỏi nỗi ưu hoạn sanh tử to lớn. Do vậy, nhất tâm sanh về thế giới Cực Lạc.
 
          (Luận) Túng sử thê phòng bất năng đốn đoạn, tiệm tiệm sanh yếm, tác thất chủng Bất Tịnh Quán.
          ()縱使妻房不能頓斷,漸漸生厭作七種不淨觀。
          (Luận: Dẫu chẳng thể đoạn ngay chuyện ân ái, hãy dần dần sanh lòng ghét bỏ, hành bảy thứ Bất Tịnh Quán).
 
          Ái dục giữa vợ chồng cũng là một mối hệ lụy rất lớn, trói buộc con người trong biển khổ Sa Bà. Nói theo nguyên tắc, dẫu chẳng thể nhanh chóng dứt bỏ chuyện ân ái giữa vợ chồng, cũng phải dần dần sanh lòng chán nhàm, hãy hành bảy thứ Bất Tịnh Quán. Yêu hay ghét đều dựa trên cách nhìn! Nếu nghĩ thân thể của đối phương rất khả ái, rất thanh tịnh, sẽ sanh lòng yêu mến. Thấy mọi phương diện đều là bất tịnh, sẽ sanh lòng chán nhàm. Vì thế, Bất Tịnh Quán là nhân, sanh lòng chán ngán là quả. Từ các thứ quán duyên, sẽ sanh lòng chán nhàm. Tùy thuộc nhiều lần tập quen, tâm chán nhàm cũng sẽ dần dần tăng trưởng. Do vậy, có thể dần dần thoát ly dâm dục, hướng về cõi nước hoa sen tịnh khiết.
          Do chẳng thấy rõ cội nguồn của thân thể đối phương, hoàn cảnh sanh nở, quá trình trước và sau của sự thành tựu thân thể, tử vong v.v… lầm tưởng thân thể của đối phương rất đáng yêu, bị sức mạnh của sự tác ý (suy nghĩ, dấy lên ý niệm) phi lý che chắn, sẽ chẳng thấy đó là ô uế. Nay lại thấy các thứ bất tịnh nơi đối phương thì gọi là “tác Bất Tịnh Quán”. Nói chung là quán thân thể của đối phương bất tịnh.
 
          (Luận) Nhất giả, quán thử dâm dục thân tùng tham ái phiền não sanh, tức thị chủng tử bất tịnh.
          ()一者觀此淫欲身從貪愛煩惱生,即是種子不淨。
          (Luận: Một là quán cái thân dâm dục này sanh từ phiền não tham ái, tức là chủng tử bất tịnh).
 
          Nếu chẳng liễu giải nguồn cội của thân thể đối phương, sẽ nghĩ đấy là thân thể thiên nhiên thuần khiết. Hoặc là về căn bản, do bị ngăn che bởi cái tâm chẳng nghĩ ngợi, cứ nghĩ nó (thân thể của đối phương) đẹp đẽ, tốt lành mà không ngừng sanh tham. Nay hãy một lần nữa quan sát thân thể này từ đâu mà có. Ví như đối phương là nữ, sẽ thấy thân thể của cô ta do dâm dục mà sanh, do phiền não tham ái mà có. Cũng tức là trong giai đoạn Trung Ấm, trông thấy cha mẹ ăn nằm, đối với cha sanh lòng tham dục, muốn giao hội với ông ta, bài xích mẹ. Do một niệm tâm ấy, bèn vào trong thai mẹ, trở thành nữ nhân. Nhìn như vậy, cô ta là do cái tâm tham ái ô uế mà có! Đấy là “chủng tử bất tịnh” hoặc “nhân bất tịnh”.     
 
          (Luận) Nhị giả, phụ mẫu giao hội chi thời, xích bạch hòa hợp, tức thị thọ sanh bất tịnh.
          ()二者父母交會之時赤白和合,即是受生不淨。
          (Luận: Hai là khi phụ mẫu giao hội, trắng đỏ hòa hợp, tức là thọ sanh bất tịnh).
 
          Thứ hai, quan sát hoàn cảnh khi đối phương nhập thai như thế nào? Trong lúc cha mẹ đang gần gũi, tinh và huyết hòa hợp, nghiệp thức nhập vào tinh huyết. Từ đấy thai nghén, sanh ra thân thể. Đấy là chỗ nương vào, hoặc là hoàn cảnh thọ sanh bất tịnh. Ví như giòi bọ thọ sanh trong phân nhơ, [chúng nó] thai nghén sanh nở trong ấy. Nghĩ đến những thứ thọ sanh trong tinh huyết ô uế dường ấy, sẽ biết chỗ để nương vào hòng thọ sanh rất bất tịnh!
 
          (Luận) Tam giả, mẫu thai trung tại sanh tạng hạ, cư thục tạng thượng, tức thị trụ xứ bất tịnh.
          ()三者母胎中在生藏下居熟藏上,即是住處不淨。
          (Luận: Ba là ở trong thai mẹ, ở dưới sanh tạng, ở trên thục tạng, tức là trụ xứ bất tịnh).
 
          Thứ ba, quan sát hoàn cảnh trụ thai của đối phương sau khi đã thọ sanh, nghĩ [đối phương] được sanh nở từ hoàn cảnh ô uế. Cũng tức là ở trong thai mẹ thì ở dưới “sanh tạng” tức là phía dưới bao tử, ở trên “thục tạng”, tức là phía trên ruột. Trụ xứ hết sức ô uế, tối tăm, chật hẹp, chẳng thấy một chút ánh sáng nào. Hơn nữa, thường xuyên bị chèn ép. Mẹ hoạt động đôi chút, ví như đi lại, xoay eo, nằm ngủ, lật người v.v… sẽ đều khiến cho thai nhi chịu khổ dữ dội. Hơn nữa, bên trong thân mẹ hết sức hôi thối, bẩn thỉu. Dùng thân lợn để thí dụ, khi giết heo, mổ phanh bụng nó ra, ngay lập tức phát ra mùi hôi thối khó ngửi, khiến cho người ta nghe mùi phát ói. Trụ xứ bất tịnh như thế đó!
 
          (Luận) Tứ giả, tại mẫu thai thời, duy thực mẫu huyết, tức thị thực đạm bất tịnh.
          ()四者在母胎時唯食母血,即是食不淨。
          (Luận: Bốn là khi ở trong thai mẹ, chỉ ăn máu mẹ, tức là ăn uống bất tịnh).
 
          Thứ tư, quan sát những thức ăn mà đối phương thọ dụng khi ở trong thai. Khi đó, do cuống rốn [của thai nhi] nối liền với thân mẹ, nó ăn kinh huyết của mẹ, rất chẳng thanh tịnh.
 
          (Luận) Ngũ giả, nhật nguyệt mãn túc, đầu hướng sản môn, nùng huyết câu xuất,  uế lang tạ, tức thị sơ sanh bất tịnh.
          ()五者日月滿足頭向產門,膿血俱出臭穢狼藉,即是初生不淨。
          (Luận: Năm là ngày tháng trọn đủ, đầu hướng đến sản môn, máu mủ cùng túa ra, hôi thối, ô uế hỗn độn, tức là sơ sanh bất tịnh).
 
          Thứ năm, ở trong thai đã đủ ngày đủ tháng, do gió nghiệp thổi vào, đầu [thai nhi] tự nhiên quay ngược xuống, hướng đến cửa mình [của mẹ]. Từ xương chậu [của mẹ, đứa trẻ] thoát ra, bị sức ép mạnh mẽ, giống như nỗi khổ trong địa ngục Chúng Hợp. Thân thể mang theo máu, nhớt v.v… ô uế hỗn độn. Khi đối phương ra khỏi thai là tình hình bất tịnh như thế đó!
 
          (Luận) Lục giả, bạc bì phú thượng, kỳ nội nùng huyết biến nhất thiết xứ, tức thị cử thể bất tịnh.
          ()六者薄皮覆,其內膿血遍一切處,即是舉體不淨。
          (Luận: Sáu là da mỏng che lên trên, trong đó máu mủ trọn khắp hết thảy các chỗ, tức là khắp thân bất tịnh).
 
          Thứ sáu, bắt đầu từ lúc sanh ra làm một đứa trẻ; sau đó, dần dần trưởng thành, thiếu niên, thanh niên, trung niên, lão niên… Trong toàn thể quá trình từng trải ấy, có một cái thân thể, thể tánh của nó như thế nào? Chỉ là một tấm da mỏng phủ trùm lên trên; hễ xé ra, trong ấy sẽ là máu mủ trọn khắp hết thảy các chỗ, hoặc là có thể trông thấy trạng huống của Tứ Đại Địa, Thủy, Hỏa, Phong. Chẳng hạn, xương xẩu, bắp thịt, tim, gan, tỳ, phổi v.v… các nội tạng thuộc về Địa Đại. Mồ hôi, nước tiểu, các chất lỏng trong cơ thể v.v… thuộc về Thủy Đại. Các thứ co bóp, chuyển động v.v… thuộc về Phong Đại. Lại có nhiệt độ thân thể, nhiệt lực v.v… những món ấy thuộc về Hỏa Đại. Nói chung, phải thấy [cái thân của ta] chỉ là Tứ Đại hòa hợp, chẳng có vật gì thanh tịnh. Hoặc là quan sát trạng huống của ba mươi sáu loại vật bất tịnh, hoàn toàn là tình hình bất tịnh. Nếu lột lớp da ấy ra, đặt lên trên thớt, mỗi thứ đều bày ra, có ai cảm thấy nó là thanh tịnh, sanh lòng luyến ái chẳng bỏ nổi ư? Hiện thời, không thứ gì chẳng phải là bọc trong một tầng da mà thôi! Người hiện thời khéo hóa trang, càng làm cho người khác chẳng thấy rõ chân tướng, nhưng thực tế vẫn là bất tịnh y hệt!
          Từ đây sẽ thấy, trong khoảng từ lúc mới đến nhân gian cho tới khi tử vong, thân thể đối phương mà chính mình yêu mến đó thuộc về trạng huống “toàn thể bất tịnh”. Từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới, chẳng có được một tí vật thanh tịnh nào! Cái thân thể vốn trước đó được coi là thuần khiết nhất, xinh đẹp nhất trong cõi đời chỉ là [cách nhìn] điên đảo đến cực điểm, chỉ là sự suy nghĩ phi lý, do tập khí dâm dục huyễn tưởng mà ra. Hiện thời, phải nên thấy đối phương chỉ là vật huyễn hóa khắp thân bất tịnh.
 
          (Luận) Thất giả, nãi chí tử hậu bành trướng, lạn hoại, cốt nhục tung hoành, hồ lang thực đạm, tức thị cứu cánh bất tịnh.
          ()七者乃至死後膨脹爛壞,骨肉縱橫狐狼食,即是究竟不淨。
          (Luận: Bảy là cho đến sau khi chết, trương phềnh, nứt nẻ, hư hoại, xương thịt vung vãi, cáo, sói ăn nuốt, tức là rốt ráo bất tịnh).
 
          Thứ bảy là quan sát kết cục cuối cùng. Sau khi đã chết, thân thể biến thành sắc đỏ bầm, trương phềnh, hư nát, hư hoại, hư nát từng tầng một như vậy. Cuối cùng, xương xẩu chia lìa, từng miếng thịt vung vãi ngoài đồng, bị cáo, sói ăn nuốt. Trông thấy rốt cuộc bất tịnh như vậy, cuối cùng triệt để bộc lộ bổn tướng bất tịnh.
         
          (Luận) Tự thân ký nhĩ, tha thân diệc nhiên. Sở ái cảnh giới nam nữ thân đẳng, thâm sanh yếm ly, thường quán bất tịnh. Nhược năng như thử quán thân bất tịnh chi giả, dâm dục phiền não, tiệm tiệm diệt thiểu.
          ()自身既爾他身亦然,所愛境界男女身等,深生厭離常觀不淨。若能如此觀身不淨之者,淫欲煩惱漸漸滅少。
          (Luận: Thân của chính mình là như thế, thân người khác cũng thế. Đối với cảnh giới yêu mến như thân nam nữ v.v… sanh tâm chán lìa sâu xa, thường quán bất tịnh. Nếu có thể quán thân bất tịnh như thế, phiền não dâm dục sẽ dần dần diệt trừ hoặc giảm bớt).
 
          Thân thể của chính mình là như thế, thân thể của đối phương cũng giống như vậy. Đối với cảnh giới yêu mến, tức thân thể nam nữ v.v… thường quán trạng huống bất tịnh, sẽ sanh khởi lòng chán lìa rất sâu! Nếu có thể quán thân bất tịnh như vậy, phiền não dâm dục sẽ dần dần giảm bớt, có thể thoát khỏi đó, nhất tâm sẽ tương ứng với nhân duyên hóa sanh trong hoa sen thanh tịnh, dùng cái tâm vô nhiễm thanh tịnh để cầu sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới.
 
          (Luận) Hựu tác thập tưởng đẳng quán, quảng như kinh thuyết.
          ()又作十想等觀,廣如經說。  
          (Luận: Lại quán mười thứ tưởng v.v.… như kinh đã nói chi tiết).
 
          Thêm nữa là quán mười thứ tưởng, cách quán chi tiết thì như trong kinh đã dạy.
          Thập tưởng: Một, vô thường tưởng, hai là khổ tưởng, ba là vô ngã tưởng; bốn là thực bất tịnh tưởng (tưởng ăn những thứ bất tịnh), năm là thế gian bất khả lạc tưởng (tưởng thế gian chẳng đáng vui), sáu là tử tưởng (suy tưởng cái chết, hoặc tưởng như chính mình đã chết), bảy là bất tịnh tưởng; tám là đoạn tưởng, chín là ly tưởng, mười là tận tưởng. Chữ Đẳng là nói đến [những phép tưởng khác] như cửu tưởng v.v… Cửu tưởng thì một là tưởng [xác chết] trương phềnh, hai là tưởng hư hoại, ba là tưởng máu vấy tràn lan, bốn là tưởng nưng mủ, nát rữa, năm là tưởng xanh bầm, sáu là tưởng [xác chết bị chim thú] ăn nuốt, bảy là tưởng [thịt, xương, da tan tác), tám là tưởng [da thịt rữa nát hết, chỉ còn lại] xương, chín là tưởng bị đốt trụi. Những phép quán tưởng này đều khiến cho người ta thoát lìa dâm dục, trong tâm dần dần thanh tịnh. Nguyên lý của chúng là do quán bất tịnh bèn sanh chán ghét. Do vậy, sẽ thoát khỏi đó.
 
10.1.2.2. Phát nguyện
 
          (Luận) Hựu phát nguyện, nguyện ngã vĩnh ly tam giới tạp thực, xú uế nùng huyết bất tịnh, đam hoang ngũ dục nam nữ đẳng thân, nguyện đắc Tịnh Độ pháp tánh sanh thân. Thử vị yếm ly hạnh.
   ()又發願,願我永離三界雜食,臭穢膿血不淨,耽荒五欲男女等身,願得淨土法性生身。此謂厭離行。
   (Luận: Lại phát nguyện, nguyện ta sẽ vĩnh viễn lìa khỏi những thứ thức ăn tạp loạn trong tam giới, hôi thối, máu mủ bất tịnh, tham đắm ngũ dục bừa bãi với thân nam nữ v.v…, nguyện đạt được tấm thân sanh bởi Pháp Tánh trong Tịnh Độ. Đấy gọi là hạnh chán lìa).
 
          Trong phần trên, đã quán cái thân Ngũ Thủ Uẩn chỉ có khổ, không có lạc. Nó là nguồn gốc của hết thảy các nỗi khổ sở, ương hoạn, là cội gốc của hết thảy nỗi khổ sanh tử, đối với nó mười phần chán ghét. Tiếp đó, nếu chẳng vãng sanh Tịnh Độ, chỉ là bi quan uổng công, vẫn chẳng có ý nghĩa chi hết. Biết vãng sanh Di Đà Tịnh Độ liền có thể vượt thoát Khổ Uẩn ngay trong một đời, bèn nhất tâm mong cầu được tấm thân sanh bởi Pháp Tánh trong Tịnh Độ. Đấy là hạnh chán lìa.
          Điều then chốt ở đây chính là tu nguyện. Trong phần trước là đã đạt được thắng giải (kiến giải thù thắng), lại còn thường xuyên quan sát, đương nhiên là cái tâm chán lìa sẽ mạnh mẽ, sắc bén, thường hằng. Sau đấy, phải phát nguyện, dùng sự ham muốn mạnh mẽ, nguyện xả uẩn thân (cái thân do Ngũ Uẩn kết thành) sanh tử để đạt lấy tấm thân sanh bởi Pháp Tánh của Tịnh Độ. Phải đạt tới mức [dũng mãnh phát nguyện dẫu] một vạn con trâu cũng chẳng lôi lại được. Loại duyên khởi này tương ứng khít khao với bi nguyện nhiếp thủ chúng sanh thoát khỏi nỗi khổ thủ uẩn của đức Di Đà. Do vậy, có thể cảm thông với tâm Phật mà được vãng sanh.
          Nói “vĩnh ly” (vĩnh viễn lìa khỏi) tức là nghĩ đây là kiếp sống cuối cùng, từ nay về sau, vĩnh viễn thoát ly Ngũ Thủ Uẩn. Từ chữ “tam giới” trở đi là giải thích trạng huống của thân thể này. Do quan sát như trong phần trên đã nói, bèn liễu giải: Phạm vi là tam giới, do thủ uẩn liên tục bèn trải qua khắp các chỗ sanh trong Dục Giới, Sắc Giới, và Vô Sắc Giới. Từ những nơi đó, xuất hiện thân địa ngục, thân ngạ quỷ, thân bàng sanh, thân Tu La, thân người, thân trời. Các thứ trạng huống nơi các thân trong lục đạo đều là các mắt xích trong thủ uẩn, là một thứ biến hóa trong căn bệnh sanh tử không ngơi, không dứt. Hết thảy các thân ấy đều là Khổ Uẩn, chẳng cần những thứ ấy nữa, triệt để chán lìa! “Tạp thực” bao gồm đoạn thực, xúc thực, tư thực, và thức thực[10] v.v… những thứ thọ dụng ấy nuôi sống cái thân này.
          “Xú uế nùng huyết bất tịnh” (máu mủ hôi thối, dơ bẩn, bất tịnh): Ví như thân thể con người là do ba mươi sáu món vật bất tịnh hợp thành, chẳng phải là pháp thanh tịnh. “Đam hoang ngũ dục” là nói thân này đặc biệt ích kỷ. Vì để thỏa mãn dục vọng của nó mà thọ dụng Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc, pháp quá mức, tham lam chẳng chán! Nói “nam nữ” nhằm biểu thị giới tính khác biệt. Những điều này nhằm miêu tả, trần thuật phạm vi, thể tánh, dục vọng và giới tính sai biệt v.v… nơi cái thân Ngũ Thủ Uẩn.
          Nói chung, xét theo nỗi khổ chung hoặc hình thái khổ sở chung của Ngũ Thủ Uẩn thì tất cả hình thái và tất cả trạng thái ăn uống, trạng thái thể tánh, trạng thái tham dục, trạng thái giới tính sai khác v.v… trong lục đạo, đối với hết thảy những thứ ấy, nhất loạt chán lìa, cũng chẳng cần đến chúng nữa. Trong phần trước đã nói, từ một niệm Ngã Kiến khởi Hoặc, bèn trở thành tự tánh Hành Khổ, đều là cái thân do sức Hoặc nghiệp xuất hiện. Do vậy gọi là Thủ Uẩn. “Thủ” (nắm giữ) có nghĩa là phiền não. [Thân Ngũ Thủ Uẩn] là cái thân do phiền não dẫn khởi, chẳng có bất cứ lạc tánh nào, còn cái thân Tịnh Độ được gọi là “Pháp Tánh sanh thân” (thân sanh bởi Pháp Tánh), thoát ly ba khổ. Sức oai thần to lớn chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật hợp với sức thiện căn và sức tín nguyện của hành giả, sẽ hiện thành Pháp Tánh sanh thân. Nó là cái thân thanh tịnh xuất hiện bởi sức Pháp Tánh, chẳng còn xoay chuyển trong vòng khổ sở, chỉ lạc, không khổ, quá thù thắng!
          Chúng ta chỉ cậy vào tự lực mà muốn đoạn Hoặc chứng Chân sẽ hết sức khó khăn, nhưng cậy thêm Phật lực, bèn có thể vãng sanh Tịnh Độ ngay trong đời này. Hễ vãng sanh, sẽ triệt để cắt đứt sự liên tục của Thủ Uẩn. Do đạo lý này, nên gọi là “vĩnh ly chư khổ” (vĩnh viễn lìa các nỗi khổ). Từ trạng huống “chỉ khổ, không vui” liên tục, biến thành trạng huống “chỉ vui, không khổ” liên tục. Đã có thể nhận biết chắc chắn rất cặn kẽ, vậy thì tất nhiên là [ý nguyện dũng mãnh] cầu sanh Tịnh Độ sẽ tất nhiên là một vạn con trâu không kéo lại nổi, nhất tâm mong đạt được thân Tịnh Độ. Do điều này, có thể đạt đến địa vị Bất Thoái Chuyển, rốt ráo thành Phật trong một đời, chẳng trải qua đời thứ hai, nhanh chóng thành tựu Vô Sanh Pháp Nhẫn, niệm nào cũng tăng tấn trên Bồ Đề đạo, nhanh chóng thành tựu viên mãn phước trí tư lương, hoàn thành Bồ Đề đại đạo, quá thù thắng! Có loại tâm này, nhất định mong thoát lìa trạng huống Thủ Uẩn, giữ lấy thân Tịnh Độ; đấy gọi là Yếm Ly Hạnh.
 
10.2. Hân Nguyện hạnh
 
          (Luận) Nhị minh Hân Nguyện hạnh giả, phục hữu nhị chủng: Nhất giả, tiên minh cầu vãng sanh chi ý; nhị giả, quán bỉ Tịnh Độ trang nghiêm đẳng sự, hân tâm nguyện cầu.
          ()二明欣願行者,復有二種,一者先明求往生之意,二者觀彼淨土莊嚴等事欣心願求。
          (Luận: Hai là nói về hạnh Hân Nguyện, lại có hai loại: Một là trước hết nói rõ ý vãng sanh, hai là quán các sự trang nghiêm trong Tịnh Độ, tâm vui thích nguyện cầu).
 
          Thứ hai, nêu rõ cách thực hiện hạnh Hân Nguyện. Ở đây, lại còn phải hiểu rõ thứ tự khai thông duyên khởi trong tâm, biết phải tiến hành từng cấp, từng bậc như thế nào. Trước hết, hiểu đích xác, rành rẽ dụng ý của việc cầu vãng sanh, cũng tức là vì để nhanh chóng hoàn thành Bồ Đề đạo, thực hiện nguyện vọng phổ độ chúng sanh, mà cần phải dùng cầu sanh về thế giới Cực Lạc làm môn “đường tắt”. Trong ấy, có sự suy xét, dụng tâm, hoặc ý đồ hết sức sâu xa. Nói cách khác, vì sao phải ưa thích mong cầu thế giới Cực Lạc? Nhất định phải thấy lộ trình nơi nghĩa lý to lớn. Chẳng hiểu rõ đạo lý, lòng tin sẽ không sâu đậm, nguyện sẽ chẳng thiết tha, hạnh sẽ chẳng chuyên ròng. Một khi đã hiểu rõ để chọn lựa đạo lý, biết nó là tuyến đường thành Phật nhanh chóng tột bậc thù thắng, hiểu lý hết sức rõ ràng, xác đáng như vậy, tín tâm sẽ sâu đậm. Tín tâm đã sâu đậm thì nguyện sẽ hết sức thiết tha, sẽ có căn bản ưa thích, mong cầu. Sau đó, do cái tâm ưa thích mong cầu thúc giục, sẽ bắt đầu tiến nhập Tịnh Độ quán hạnh, hạnh sẽ hết sức chuyên, nhất tâm tương ứng với Cực Lạc Tịnh Độ và A Di Đà Phật. Như thế thì sẽ xuất hiện điều thứ hai, “quán bỉ Tịnh Độ trang nghiêm đẳng sự, hân tâm nguyện cầu” (quán những sự trang nghiêm trong Tịnh Độ, tâm ưa thích nguyện cầu).
          Thông qua hạng mục thứ nhất để xác lập lộ trình, kiến lập chí nguyện; sau đấy sẽ bất biến, hoàn toàn gieo mình vào Tịnh Độ quán hạnh. Do vậy, một mực duyên theo các sự trang nghiêm trong Tịnh Độ để quán tưởng, tư duy, ức niệm. Do sự duyên khởi của tâm lại dẫn về Tịnh Độ, lại khiến cho nó (tín tâm) đã sâu lại càng sâu hơn, đã thuần lại càng thuần hơn, đã kiên cố lại kiên cố hơn, tiếp thông và tương ứng với biển nguyện của A Di Đà Phật. [Đã hiểu lý rồi thì] nguyện sẽ hoàn toàn chẳng giống với [nguyện của] kẻ chẳng hiểu lý trước đó, [nguyện của kẻ chẳng hiểu lý sẽ] hời hợt, qua loa, người khác nói sao thì ta cũng ừ hử làm vậy, làm theo hình thức bề ngoài v.v… có sự khác biệt cả một ngàn lần, một vạn lần v.v… Vì đã hiểu rõ lý, có lòng tin sâu sắc và nguyện thiết tha, sức tín nguyện sẽ nhiếp trì cái tâm toàn diện dũng mãnh gieo trọn vào [pháp môn Tịnh Độ], tâm chuyên ròng quán hạnh, đương nhiên là quyết định vãng sanh.
          Do đây bèn biết: Sự tu hành được kiến lập sau khi đã đạt được kiến giải thù thắng, sẽ khác biệt một trời một vực với sự tu hành mang tánh cách hình tướng khi chưa đạt được kiến giải thù thắng. Có duyên khởi thiết thực, thâm nhập phát triển, thì mới quyết định được vãng sanh. Nếu không, tuy chẳng dám nói “tuyệt đối không thể vãng sanh”, nhưng do nhân duyên dầy hay mỏng, cạn hay sâu, mạnh hay yếu v.v… mà sẽ có sự khác biệt cực đại.
          Dưới đây, chia làm hai khoa mục để giải thích:
          1) Nói rõ ý nghĩa to lớn của việc cầu vãng sanh.
          2) Quán những sự trang nghiêm của Tịnh Độ, tâm ưa thích nguyện cầu.
 
10.2.1. Nói rõ ý nghĩa to lớn của việc cầu vãng sanh
         
          Chia thành hai phần: Nói đại lược và nói chi tiết. Nói đại lược và nói chi tiết đều là cùng một ý nghĩa, đều nhằm nói “cầu sanh Tịnh Độ hòng thành Bồ Đề để độ chúng sanh”. Nói chi tiết là dựa theo chuyện lìa khỏi ba môn chướng ngại Bồ Đề để đạt được ba môn thuận Bồ Đề trong Vãng Sanh Luận, hòng thấy được đường nẻo tiến nhập Đại Thừa đạo. Trước hết là tu Bồ Đề tâm, sau đó bèn thấy rằng: Chỉ có vãng sanh Tịnh Độ thì mới có thể nhanh chóng đạt thành đại dụng của sức bi trí, tự tại vô ngại nhiếp thủ trọn khắp chúng sanh trở về pháp giới thanh tịnh. Do nguyên nhân ấy, nhất tâm cầu sanh thế giới Cực Lạc.
 
10.2.1.1. Nói đại lược
 
          (Luận) Minh vãng sanh ý giả, sở dĩ cầu sanh Tịnh Độ, vị dục cứu bạt nhất thiết chúng sanh khổ cố. Tức tự tư thổn, ngã kim vô lực, nhược tại ác thế, phiền não cảnh cường, tự vị nghiệp phược luân nịch tam đồ, động kinh kiếp số. Như thử luân chuyển, vô thỉ dĩ lai, vị tằng hưu tức, hà thời năng đắc cứu khổ chúng sanh? Vị thử cầu sanh Tịnh Độ, thân cận chư Phật. Nhược chứng Vô Sanh Nhẫn, phương năng ư ác thế trung cứu khổ chúng sanh.
          ()明往生意者,所以求生淨土,為欲救拔一切眾生苦故。即自思忖,我今無力,若在惡世煩惱境強,自為業縛淪溺三塗動經劫數,如此輪轉無始已來未曾休息,何時能得救苦眾生?為此求生淨生親近諸佛,若證無生忍,方能於惡世中救苦眾生。
          (Luận: Hiểu rõ ý nghĩa vãng sanh: Sở dĩ cầu sanh Tịnh Độ là vì muốn cứu vớt, dẹp trừ nỗi khổ của hết thảy chúng sanh, bèn tự suy nghĩ, nay ta không có sức. Nếu ở trong đời ác, cảnh phiền não mạnh mẽ, chính mình bị nghiệp trói buộc, chìm đắm luân lạc trong tam đồ trải bao kiếp số. Trôi lăn như thế từ vô thỉ đến nay chưa từng ngưng dứt, bao giờ mới có thể cứu khổ chúng sanh? Vì lẽ này bèn cầu sanh Tịnh Độ, thân cận chư Phật. Nếu chứng Vô Sanh Nhẫn thì mới có thể ở trong đời ác cứu khổ chúng sanh).
 
          Trước hết, xác định rõ ràng ý nguyện cầu sanh thế giới Cực Lạc của chính mình. Sở dĩ cầu sanh Cực Lạc Tịnh Độ là vì muốn cứu giúp, dẹp trừ nỗi khổ nạn của hết thảy chúng sanh. Trước đó đã tư duy nỗi khổ Ngũ Thủ Uẩn của chính mình, nhưng hết thảy chúng sanh đều có nỗi khổ ấy, [hành nhân Tịnh Độ bèn] có tâm tưởng suy từ mình mà nghĩ đến người khác. Chính mình đã mong thoát khỏi đại khổ hải, vậy thì hết thảy cha mẹ, chúng sanh cũng đều nên thoát khỏi đại khổ hải. Vì lẽ này, chính mình nguyện gánh vác trọng trách đối với sự nghiệp to tát này. Từ sự suy nghĩ sâu xa ấy, lại trông thấy sự thù thắng của thế giới Cực Lạc, cho nên nhất tâm vui thích, mong cầu vãng sanh.
          Nói cụ thể, chính mình hãy cân nhắc kỹ lưỡng hai con đường:
          - Một đằng là thọ sanh trong uế độ nhằm thời ô trược để thành tựu viên mãn đại nguyện này.
          - Một đằng khác là cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ để thành tựu viên mãn đại nguyện này.
          Phải xem xác suất thành công của hai con đường ấy như thế nào. Đương nhiên là phải chọn con đường nào có xác suất thành công cao, thành tựu nhanh chóng, ngõ hầu nhanh chóng thực hiện nguyện vọng. Cân nhắc khách quan: Hiện thời, chúng ta chẳng có năng lực; giả sử sanh trong thế giới ác, các cảnh duyên dẫn khởi các phiền não tham, sân, si, mạn v.v… càng ngày càng mạnh, nhưng chính mình chẳng có Vô Sanh Nhẫn Lực, ở trong cảnh giới như vậy, sẽ không có cách nào chống chọi, sẽ rất nhanh chóng khởi Hoặc tạo nghiệp. Tới lúc lâm chung, bị nghiệp buộc ràng, quá nửa sẽ luân lạc trong tam đồ. Hễ đọa lạc, sẽ là nhiều kiếp khó thể vượt thoát. Luân chuyển như thế từ vô thỉ cho đến ngày nay, từ đầu đến cuối chẳng hề ngưng ngớt. Do đó, cậy vào tự lực, sẽ rất khó vượt thoát giòng khổ! Chính mình còn chẳng thể vượt qua, làm sao có thể cứu độ chúng sanh đau khổ cho nổi? Có thể thấy là đi theo con đường này, cơ bản là chẳng có cách nào thực hiện đại nguyện độ sanh. Xét theo tình hình thông thường, vô số kiếp sau mới có thể thực hiện được.
          Một con đường khác là nếu cầu sanh Tây Phương, trọn đủ tín nguyện để niệm Phật, ngay trong đời này sẽ có thể sanh về Tịnh Độ thù thắng nhiệm mầu, đạt được Pháp Tánh sanh thân, sẽ ngay lập tức cắt đứt giòng khổ, đạt lên địa vị Bất Thoái Chuyển, nhanh chóng đạt được Vô Sanh Nhẫn Lực, có thể rất nhanh chóng quay về thế giới Sa Bà độ chúng sanh. Đấy là con đường có thể viên thành trong hai đời. Đời này chẳng đầy mấy chục năm sẽ được vãng sanh, đời thứ hai bèn ở trong Tịnh Độ thành Phật ngay trong một đời, xác suất thành công là một trăm phần trăm, tốc độ là hai đời bèn thành Phật. Do vậy, con đường này hết sức thù thắng, vì cậy vào sức chẳng thể nghĩ bàn của A Di Đà Phật. Sau khi đã cân nhắc như vậy, vì thực hiện đại nguyện cứu độ hết thảy chúng sanh, chúng ta phải chọn lựa con đường tắt để nhanh chóng thành tựu Vô Sanh Nhẫn Lực, tức là pháp môn Tịnh Độ tự tha nhị lực hợp tu. Do vậy, nhất tâm cầu sanh Tây Phương Tịnh Độ.
          Thông qua việc cân nhắc hai con đường ấy, xác nhận vì hoàn thành bi nguyện phổ độ chúng sanh, bèn mong muốn đến Tây Phương Tịnh Độ hết sức mau chóng, đích thân thấy A Di Đà Phật, đạt được Vô Sanh Nhẫn Lực. Đấy là đường lối kết hợp với Tịnh Độ nơi cái tâm hòng dẫn phát Bồ Đề tâm.
 
          (Luận) Cố Vãng Sanh Luận vân: “Ngôn phát Bồ Đề tâm giả, chánh thị nguyện tác Phật tâm. Nguyện tác Phật tâm giả, tắc thị độ chúng sanh tâm. Độ chúng sanh tâm giả, tắc thị nhiếp chúng sanh sanh Phật quốc tâm”.
          ()故往生論云:「言發菩提心者,正是願作佛心。願作佛心者,則是度眾生心。度眾生心者,則是攝眾生生佛國心。」
          (Luận: Do đó, Vãng Sanh Luận viết: “Nói phát Bồ Đề tâm chính là cái tâm nguyện làm Phật. Cái tâm nguyện làm Phật chính là cái tâm độ chúng sanh. Cái tâm độ chúng sanh chính là cái tâm thâu nhiếp chúng sanh sanh về cõi Phật”).
 
          Do duyên cớ ấy, trong Vãng Sanh Luận có nói: “Phát Bồ Đề tâm” được nói trong Tịnh Độ chính là cái tâm nguyện làm Phật. Tâm nguyện làm Phật chính là cái tâm mong thực hiện “độ hết thảy chúng sanh”. Cái tâm muốn thực hiện “độ hết thảy chúng sanh” chính là nguyện nhiếp hết thảy chúng sanh sanh về cõi Phật.
          Phải thấy chính mình cũng là một chúng sanh, độ chúng sanh cũng là phải nhiếp cái tâm của chính mình sanh về Phật quốc. Nói cách khác, chúng ta mong cầu Bồ Đề là nguyện làm Phật. Nguyện làm Phật thì trước hết phải độ chúng sanh nơi chính mình, triệt để tiêu trừ hết thảy những tướng rối loạn xuất hiện bởi sức vô minh, như thế chính là độ chúng sanh nơi chính mình. Vậy thì độ như thế nào? Phải là sanh về cõi Phật, được Phật lực gia bị khai phát bổn tánh; từ đấy trở đi, chẳng còn bị sức Hoặc nghiệp xoay chuyển. Đó gọi là Bất Thoái. Sau đấy, có thể dần dần khai phát tâm tánh, hiển hiện vị Phật vốn sẵn có nơi tự tánh. Để thực hiện điều này, chúng ta phải sanh về cõi Phật, dùng sức đại giác của Phật khiến cho tâm tánh của ta mở mang thông sáng, trụ nơi sự sáng suốt vốn có trong tự tánh, chẳng bị mê mất.
          Sau đấy bèn từ mình mà nghĩ đến người khác: Ta đã sanh về cõi Phật, nhưng hết thảy chúng sanh cũng đều ở trong tình cảnh giống hệt. Do vậy, phải nhiếp thọ hết thảy chúng sanh cùng sanh về cõi Phật. Đấy chính là ý nghĩa được bao hàm trong Bồ Đề tâm của Tịnh Độ. Điều này chẳng có gì khác hơn là kết hợp Bồ Đề tâm với chuyện vãng sanh Tịnh Độ, khiến cho ta và người khác nhanh chóng thành tựu viên mãn hai thứ lợi (tự lợi và lợi tha), thành tựu Phật quả. Bởi lẽ, Bồ Đề tâm chung khắp [cho mọi pháp môn] và cầu sanh Tịnh Độ chẳng phải là hai chuyện! Cầu sanh Tịnh Độ hòng làm Phật để độ chúng sanh; vì để làm Phật độ chúng sanh mà dùng Tịnh Độ làm con đường tắt. Đấy chính là liễu giải ý nghĩa được bao hàm trong Bồ Đề tâm của Tịnh Độ.
 
10.2.1.2. Nói chi tiết
 
          (Luận) Hựu nguyện sanh Tịnh Độ, tu cụ nhị hạnh. Nhất giả, tất tu viễn ly tam chủng chướng Bồ Đề môn pháp. Nhị giả, tu đắc tam chủng thuận Bồ Đề môn pháp.
          ()又願生淨土須具二行,一者必須遠離三種障菩提門法。二者須得三種順菩提門法。
          (Luận: Lại nữa, nguyện sanh về Tịnh Độ, cần phải có đủ hai hạnh: Một là ắt cần phải viễn ly ba loại pháp chướng ngại Bồ Đề môn; hai là ắt phải đạt được ba loại pháp thuận Bồ Đề môn).
 
          Tiếp đó, phải hiểu rõ nguyện sanh về Tây Phương Tịnh Độ thì phải tu hành nơi hai phương diện Đại Thừa: Một là ắt phải xa lìa ba loại pháp chướng ngại Bồ Đề môn, hai là ắt phải đạt được ba loại pháp thuận Bồ Đề môn. Vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ là pháp môn để nhanh chóng thành tựu Phật đạo. Trước hết, phải bài trừ ba loại pháp chướng ngại Bồ Đề môn; sau đó, sẽ có thể đạt được ba loại pháp thuận Bồ Đề môn. Cái nhân đã trọn đủ viên mãn thì sẽ có thể vãng sanh. Sau đó, nhanh chóng thành tựu Phật đạo. Do vậy, phải đặc biệt chú ý kiến lập nhân địa.    [Để giảng rõ ý này], chia thành hai phần:
          1) Chỉ rõ cái nhân của Bồ Đề cần phải từ nơi ba phần “bi, trí, lực” mà phát tâm thanh tịnh.
          2) Chỉ rõ vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ thì sẽ có thể nhanh chóng viên mãn đại dụng của “bi, trí, lực”.
          “Bi, trí, lực” tương ứng với trí huệ môn, từ bi môn, và phương tiện môn được nói trong luận (Vãng Sanh Luận).
         
10.2.1.2.1. Chỉ rõ cái nhân của Bồ Đề cần phải từ nơi ba phần “bi, trí, lực” mà phát tâm thanh tịnh
         
          (Luận) Hà giả vi (viễn ly) tam chủng chướng Bồ Đề pháp? Nhất giả, y trí huệ môn, bất cầu tự lạc, viễn ly ngã tâm tham trước tự thân cố. Nhị giả, y từ bi môn, bạt nhất thiết chúng sanh khổ, viễn ly vô an chúng sanh tâm cố. Tam giả, y phương tiện môn, đương lân mẫn nhất thiết chúng sanh, dục dữ kỳ lạc, viễn ly cung kính cúng dường tự thân tâm cố.
   ()何者為(遠離)三種障菩提法?一者依智慧門,不求自樂,遠離我心貪著自身故。二者依慈悲門,拔一切眾生苦,遠離無安眾生心故。三者依方便門,當憐愍一切眾生欲與其樂,遠離恭敬供養自身心故。
          (Luận: Những gì là (xa lìa) ba loại pháp chướng ngại Bồ Đề? Một là nương vào trí huệ môn, vì chẳng cầu tự vui sướng, xa lìa cái tâm tham đắm tự thân của ta. Hai là nương vào từ bi môn, dẹp khổ cho hết thảy chúng sanh, xa lìa cái tâm chẳng làm cho chúng sanh an ổn. Ba là nương theo phương tiện môn, hãy nên thương xót hết thảy chúng sanh, vì muốn ban vui cho họ, xa lìa cái tâm cung kính, cúng dường thân tâm của chính mình).
 
          Chia thành ba điểm để nói rõ: Một là phải xa lìa ba loại pháp chướng Bồ Đề nào? Hai, vì sao phải xa lìa ba loại pháp ấy? Ba là nương theo đường nẻo nào để xa lìa?
          Phải xa lìa ba pháp:
          1) Một, tâm ta tham đắm thân thể của chính mình, tức là vì cái tâm chấp Ngã mà tham đắm tự thân, vì chính mình mà tìm cầu sự yên vui.
          2) Hai là cái tâm chẳng an ổn chúng sanh, tức là chẳng có tâm kéo chúng sanh ra khỏi biển khổ, an lập họ nơi Vô Thượng Bồ Đề tâm.
          3) Ba là cái tâm cung kính cúng dường tự thân, tức coi mình là chánh yếu, hết thảy các phương tiện đều nhằm phục vụ, cung kính, cúng dường lớn nhất cho chính mình!
          Vì sao phải xa lìa các pháp chướng ngại Bồ Đề môn ấy? Bổn tánh và lực dụng của chúng trái nghịch Bồ Đề. Do vậy, ắt cần phải xa lìa. Chúng ta mong cầu sanh về Tịnh Độ hòng thành tựu Bồ Đề, [như vậy thì] nơi cái nhân, phải xa lìa những duyên khởi trái nghịch. Nếu không, sẽ xa rời Tịnh Độ càng ngày càng xa, sẽ lìa khỏi chuyện “phản bổn quy nguyên” (trở lại nguồn cội) càng ngày càng xa. Hết thảy sự tu hành đều phải thuận theo tánh mà tu, Tịnh Độ do tự tâm thanh tịnh hiển hiện, cuối cùng sẽ chứng nhập Thường Tịch Quang Tịnh Độ. Vì vậy, trong hiện thời, ắt cần phải xa lìa các pháp gây chướng ngại Bồ Đề môn.
          Nói cụ thể, nếu do cái tâm ta tham đắm tự thân, sẽ một mực vì tư dục (ham muốn riêng tư) mà tìm cầu khoái lạc cho chính mình. Điều đó hoàn toàn tương phản với bản tánh Vô Ngã, chỉ trở thành càng đi càng xa, phát triển thành giòng khổ sanh tử càng ngày càng thô. Vì thế, ắt phải xa lìa nó thì mới có thể tương ứng với Tịnh Độ. Nói theo thể tánh, liễu tri Vô Ngã tức là phù hợp Thật Tướng, là trở về. Chẳng biết Vô Ngã, cứ tham chấp Ngã, thì chính là xa lìa Bồ Đề. Nhìn theo lực dụng, do tư dục mà thấy chính mình đáng trọng, coi thường chẳng đoái hoài hết thảy chúng sanh, cũng chẳng thấy nỗi khổ của chúng sanh, chẳng có cái tâm an lập chúng sanh. Như thế thì sẽ chướng ngại sự hiển phát của tâm từ bi. Hơn nữa, do lấy cái Ngã riêng tư làm trung tâm, chỉ mưu cầu lợi lạc cho chính mình, chẳng thể thương xót hết thảy chúng sanh, sẽ chướng ngại sự khai phát lực dụng của Bồ Đề, sẽ chẳng thể dùng trí và bi để phát khởi vô lượng sự nghiệp lợi ích chúng sanh. Nói chung, ba loại pháp chướng ngại Bồ Đề môn đã ngăn chướng thể tánh, từ bi, và lực dụng của Bồ Đề. Vì vậy, phải xa lìa chúng.
          Do đó bèn hiểu rõ, tu Đại Thừa Tịnh Độ, chỗ then chốt gồm có ba điều: Thứ nhất là xa lìa cái tâm tham trước tự thân của ta, thứ hai là xa lìa cái tâm chẳng an ổn chúng sanh, thứ ba là xa lìa cái tâm cung kính, cúng dường tự thân. Đấy là chỗ cần phải nỗ lực. Phải như thế nào để đạt thành hiệu quả thật sự? Ắt cần dùng đường lối hữu hiệu để tiến nhập.
          Nói phân biệt thì:
          1) Thứ nhất là nương vào sự tu tập đường lối Vô Ngã Không Huệ để thấy chẳng có Ngã, quán sát nơi Uẩn chẳng có tư ngã (cái tôi riêng tư) hòng có thể đạt được. Cầu sự vui cho chính mình hoàn toàn là hành động ngu xuẩn, chỉ là do bị sự ngu mê đối với chân thật nghĩa sai khiến bèn khởi Hoặc tạo nghiệp đó thôi. Phải nhìn từ duyên khởi để thấy đấy chính là thứ gây suy tổn, là cội nguồn của khổ não. Nếu vẫn tham đắm, vì chính mình mà cầu vui sướng, chắc chắn nó sẽ phát triển thành nỗi khổ luân hồi to lớn. Chỉ cần dấy lên một niệm tâm riêng tư chẳng hợp thiên lý, sẽ bị trừng phạt, chẳng có cách nào trở lại. Thấy được chỗ này càng sâu xa, càng thấu triệt càng hay! Chẳng hạn như do sự tham danh, từ đó bèn có cái tâm riêng tư chẳng hợp thiên lý. Sau đấy, sẽ tranh giành, so đo, ganh ghét, kiêu mạn v.v… cả một đống vọng động đều xuất hiện. Càng tụ tập càng sâu như thế, chắc chắn sẽ đọa lạc. Hoặc là do tham mối lợi riêng tư, thấm dần chất độc từng chút một, chắc chắn sẽ thọ khổ báo. Do vậy bèn phát hiện: Cầu sự vui sướng cho chính mình là hại chính mình, ngã ái chấp chính là cội nguồn suy tổn. Thông qua điều này, sẽ tự nhiên xa lìa cái tâm tham đắm tự thân của ta.
          Nói chung, để thực hiện điều thứ nhất thì dùng trí huệ làm đường nẻo. Trước tiên là quán chiếu Vô Ngã; kế đó, phát hiện Ngã Chấp là nguồn cội của vạn nỗi khổ. Hết thảy các hành vi như vì ta mà cầu lạc, cầu danh, cầu công lao v.v… toàn bộ rốt cuộc đều thuộc vào suy tổn. Nếu nhận định hết sức quyết đoán ở chỗ này, phương hướng trong tâm sẽ ngay lập tức xoay chuyển: Hễ thấy cái tâm lại tham đắm tự thân thì sẽ thấy sự tham đắm ấy là chất độc, biết nó hết sức nguy hiểm, ngay lập tức xa lìa. Như thế thì sau khi đã phát sanh chánh kiến, đối với dục sẽ khác hẳn, chẳng còn vì tự thân cầu điều gì, lúc nào cũng gạt bỏ cái Ngã, giải trừ tập khí chấp ngã, tham ngã, sẽ bắt đầu làm ngược lại.
          2) Thứ hai, phải dốc sức xa lìa cái tâm chẳng an ổn chúng sanh. Vì thế, phải nương theo đường lối từ bi, cứu vớt, dẹp trừ sự khổ của hết thảy chúng sanh. Phương hướng nỗ lực là thông qua pháp tu nhằm hiển lộ lòng từ bi trong tự tâm. Chẳng hạn như tư duy hết thảy hữu tình đều là mẹ, có ân đức to tát đối với ta; vì thế, phải báo ân. Kế đó, do nghĩ đến nỗi khổ mà phát sanh bi tâm, cũng chính là noi theo đường lối trong cái tâm yếm ly ở phần trên, toàn bộ đều suy nghĩ vì hữu tình. Thấy các hữu tình đều giống hệt như chính mình, gặp phải nỗi khổ sanh tử to lớn vô biên. Lại nghĩ họ đều là mẹ, chẳng thể ngồi xem, chẳng đoái hoài. Nếu không, sẽ mang gánh nặng phụ ân bội nghĩa quá to. Sau khi dấy lòng bất nhẫn như vậy, sẽ vì các hữu tình “mẹ” mà dốc sức suy xét. Giả sử chỉ đặt họ trong quả vị thuộc đường lành, tức là chẳng an bài tốt đẹp. Bởi lẽ, dẫu hưởng đại phú quý trong tam hữu (tam giới), tự tánh [của sự hưởng thụ ấy] vẫn là khổ, cuối cùng sẽ đều đọa lạc. Nếu an bài họ nơi quả vị tịch diệt thuộc Tiểu Thừa, vẫn là chẳng an bài tốt đẹp, vì chẳng hiển phát vô lượng công đức của tự tánh, trọn chẳng phải là rốt ráo. Chỉ có dẹp trừ, cứu vớt nỗi khổ sanh tử thô tháp cùng với nỗi khổ đổi dời, biến hóa vi tế của hết thảy hữu tình thì mới có thể làm cho họ đạt đến nơi an ổn nhất. Cũng giống như vậy, thông qua tu tâm để phát triển lòng từ bi. Tâm từ bi tăng mạnh, sẽ xa lìa phẩm chất trái nghịch, tức là cái tâm chẳng tạo an ổn cho chúng sanh.
          3) Thứ ba, dốc sức xa lìa cái tâm cung kính, cúng dường tự thân. Điều này lại phải dựa theo đường lối “hành phương tiện”. Do thương xót hữu tình thiếu khuyết an lạc mà bình đẳng dấy khởi, tâm tư lẫn trí xảo đều vận dụng để mưu cầu an vui cho chúng sanh. Thông qua chuyện một dạ lập bày phương cách ban cho chúng sanh an vui trong hiện tiền và an lạc rốt ráo mà xa lìa thói quen mang cái tâm “cung kính, cúng dường tự thân”, thoát lìa những phẩm tánh trái nghịch Bồ Đề.
          Nói trắng ra là làm ngược lại. Ai nấy đều có trí lực thiện xảo, sẽ hành phương tiện. Trong quá khứ, đã từng ngỡ tự thân chính là một thứ cần được yêu mến, bảo vệ nhất. Vì thế, tất cả tài trí, tâm tư, kỹ xảo v.v… đều vận dụng để cung kính, cúng dường tự thân. Hiện thời, trước hết phải thấy [cách nghĩ ấy] là sai, các Uẩn chỉ là hiện tướng lầm loạn, trong ấy chẳng có Ngã, thế mà yêu mến, bảo vệ tự thân, cung kính cúng dường tự thân như thế đó. Thật ra là tổn hại chính mình, tăng cường pháp khổ. Hãy nên thấy Ngã Ái Chấp là cội rễ của hết thảy suy tổn, Tha Ái Chấp là cội nguồn của hết thảy lợi lạc, hành vi sẽ đảo ngược lại!
          Kế đó, trước hết phải xác định rõ ràng trong quá khứ chính mình đã cung kính, cúng dường tự thân như thế nào, sử dụng phương tiện môn sai lầm như thế nào. Sau đấy, suy xét để chuyển biến từ chỗ nào, đem hết thảy lực dụng mưu cầu an lạc cho hết thảy chúng sanh. Như vậy thì sẽ chuyển đổi thành công, xa lìa những thứ trái nghịch Bồ Đề, có thể thuận lợi khai phát Bồ Đề. Do vậy, [điều này] hết sức then chốt.
          Trong quá khứ, đã coi thân tâm hoặc Ngũ Uẩn của chính mình là đối tượng yêu mến nhất, dùng hết thảy các phương tiện để cung kính, cúng dường, tô điểm, hết sức yêu quý nó, thậm chí đối với một tấm áo, một miếng bữa ăn, đều hết sức dụng tâm, chú trọng tinh tế. Lại còn ban cho cái thân Ngũ Uẩn của chính mình các thứ địa vị, danh dự khiến cho nó chói rạng lóa mắt, để cho nó được an nhàn hưởng lạc, chẳng để cho nó phải chịu khổ chút nào! Do vọng tâm ái chấp tự ngã thôi thúc, dùng các loại phương pháp hòng thỏa mãn dục cầu riêng tư của ta. Chẳng hạn như yêu thích vẻ đẹp, liền tìm đủ mọi cách hòng thông thạo kỹ xảo trang điểm, mua sắm các thứ mỹ phẩm, tô vẽ đủ mọi kiểu, hòng khiến cho mọi người phải dồn mắt vào mình. Vì cơm áo, sinh hoạt thoải mái mà cũng thâu gom tin tức, trù tính, mưu toan, so sánh, nghĩ bày phương cách để chính mình được no đủ. Vì để chính mình được hiển hách, tôn quý, vinh hiển, được kẻ khác hâm mộ sự thành tựu và phú quý của chính mình, bèn cũng sử dụng trọn hết các loại phương pháp. Giống như vậy, vì thỏa mãn chính mình mà vận dụng tâm tư thủ đoạn, tức là đã vận dụng phương tiện môn sai lầm, vận dụng tài trí sai chỗ mất rồi!
          Hiện thời, phải thấy điều đó hoàn toàn tương phản với phương hướng hiện chứng Bồ Đề. Làm như vậy, sẽ khiến cho tình kết nơi cái Ngã riêng tư càng ngày càng nặng, tăng sâu hơn cảm nhận sai lầm đối với tự ngã, cho là thật sự có một cái Ngã, càng ngày càng chẳng buông xuống được! Ví như một người nữ, hằng ngày đều trang điểm rất tỉ mỉ, muốn cho hình tượng của cô ta đặc biệt to lớn, điều ấy sẽ khiến cho cảm nhận sai lầm về cái Ngã riêng tư càng ngày càng to, hết sức khó buông xuống. Nếu cứ một mực như thế, sẽ được gọi là “thị dục thâm giả, thiên cơ thiển” (tư dục ham muốn càng sâu thì cơ hội trở về bổn tánh chân thật càng cạn). “Thị dục” (嗜欲) chính là tư dục đắm chấp tự ngã, nó ngày càng sâu đậm, “thiên cơ” sẽ ngày càng nông cạn, tức là càng ngày càng khó trở về bổn tánh và khó ngộ được tự tánh thiên nhiên! Vì thế, đây là một đường nẻo mê mất hết sức đáng sợ, chớ nên tăng cường nó. Hễ càng tăng cường, sẽ càng bị hãm sâu hơn, càng chẳng hiểu rõ, đến nỗi đã bị hãm lại càng lún sâu hơn, vô số kiếp đều chẳng thể xoay chuyển được. Giống như vậy đó, vì cái Ngã riêng tư mà mưu lợi chẳng tiếc trả giá hết thảy, vận dụng các thứ xảo tâm, xảo trí, suy tính phương pháp để duy trì thể diện, danh dự cho nó, ban cho nó địa vị, dùng các phương pháp để nuông chiều, bảo vệ nó, tức là đã có cái nhân đọa lạc. Sức tập khí kiên cố ấy sẽ khiến cho chính mình trong bao kiếp lâu xa khó thể chuyển mình. Nay phải thấy đó chính là một phương hướng cực kỳ điên đảo, chân và giả chẳng thể cùng tồn tại. Chấp giả thì sẽ chôn vùi chân. Ngã và vô ngã chẳng thể cùng tồn tại, hễ cố chấp cái Ngã riêng tư thì sẽ chẳng thể hành trì vô ngã, chẳng thấy trọn khắp bản tánh. Vì thế, hết thảy đều phải làm ngược lại!
          Làm thể nào để đẩy lùi cái tâm điên đảo ấy? Phải đổi lòng ích kỷ thành thương xót, suy từ ta mà nghĩ đến kẻ khác: Chúng sanh và chính mình thiếu khuyết an lạc hệt như nhau, sau khi niệm tâm thương xót đã dấy, tâm lượng bắt đầu lớn hơn, bèn có thể hành Đại Thừa. Tâm lượng biến thành lớn, đối với duyên khởi, sẽ dễ dàng quay trở lại. Nếu một mực lẩn quẩn nơi cái Ngã riêng tư, chẳng thoát ra được, sẽ rất khó khai phát thiện tâm, chẳng cần nói đến chuyện “hiện chứng Bồ Đề”, ngay cả Đại Thừa môn cũng chẳng tiến nhập được!
          Hiện thời, chuyện phải dốc sức làm là phải thay đổi toàn bộ tâm thái và hành vi của cái tâm “mưu cầu lợi ích cho chính mình”, thay đổi phương hướng, thay đổi đối tượng, tận lực vận dụng [tâm trí và thể lực] vào việc lợi ích hết thảy chúng sanh. Nguyên tắc là phát xuất từ Tha Ái Chấp (chấp trước yêu thương người khác), làm nhiều chuyện lợi tha, hành nhiều phương tiện; đấy chính là vận dụng hết sức xảo diệu để xoay chuyển phương hướng của cái tâm. Trong quá khứ, một mực nghĩ tới chính mình, nay bèn nghĩ tới người khác. Trong quá khứ, cứ một mực nấu cho mình một bữa ăn ngon, tự mình trang điểm, nay đem toàn bộ tâm tư xảo kế đổi thành lợi ích chúng sanh. Nghĩ đến những nghĩa lợi mà chúng sanh đang khuyết thiếu tạm thời cũng như rốt ráo, ta sẽ vì họ mà mưu cầu như thế nào? Thậm chí một tấm áo, một bữa cơm, đều nghĩ lợi ích chúng sanh, hồi thí cho chúng sanh, cho đến nhất cử nhất động đều phải toan tính làm như thế nào để lợi ích chúng sanh. Như vậy thì sẽ dựa vào đường nẻo hành phương tiện mà dần dần có thể xa lìa cái tâm cung kính cúng dường tự thân. Chuyển biến từng bước như thế đó, chuyển tập tánh [ích kỷ] thành lợi tha, sẽ dần dần xa lìa chướng ngại “lúc nào cũng nghĩ cho chính mình”.
 
          (Luận) Nhược năng viễn tam chủng Bồ Đề chướng, tắc đắc tam chủng thuận Bồ Đề pháp.
          ()若能遠三種菩提障,則得三種順菩提法
          (Luận: Nếu có thể xa lìa ba thứ chướng Bồ Đề, sẽ đạt được ba loại pháp thuận Bồ Đề).
 
          Nếu có thể xa lìa ba loại chướng ngại thành tựu Bồ Đề đạo quả [như vừa nói] trong phần trên, sẽ đạt được ba loại diệu pháp tùy thuận Bồ Đề đạo quả; tức là xa lìa tâm tham đắm tự thân của ta, sẽ đạt được cái tâm thanh tịnh vô nhiễm, xa lìa cái tâm chẳng an ổn chúng sanh, sẽ đạt tới cái tâm an ổn thanh tịnh, xa lìa cái tâm cung kính cúng dường tự thân, sẽ đạt tới tâm lạc thanh tịnh.
          Ba loại chướng ngại đều là từ Ngã Chấp và ích kỷ mà xuất hiện cái tâm tạp nhiễm, từ chấp trước điên đảo mà phát triển thành tâm thái lầm loạn. Vì thế, sẽ chướng ngại Bồ Đề. Xa lìa chúng nó thì sẽ có thể khôi phục cái vốn sẵn có, xuất hiện tâm thanh tịnh. Đấy là tùy thuận Bồ Đề, gọi là “thuận Bồ Đề pháp”. Nói chung, “ly Bồ Đề chướng” là xa lìa cái tâm tạp nhiễm có nguồn cội là Ngã Chấp để thành tựu cái tâm thanh tịnh. Xa lìa ba thứ chướng Bồ Đề là xa lìa ba thứ tâm tạp nhiễm, đắc ba loại pháp thuận Bồ Đề là đắc ba loại tâm thanh tịnh.
          Tiếp đó, [Trí Giả đại sư] giải thích danh xưng của diệu pháp “ba loại thanh tịnh tâm”, nguyên nhân để thành tựu pháp ấy, và vì sao các pháp này là thuận Bồ Đề môn.
 
          (Luận) Nhất giả, vô nhiễm thanh tịnh tâm, bất vị tự thân cầu chư lạc cố. Bồ Đề thị vô nhiễm thanh tịnh xứ, nhược vị tự thân cầu lạc, tức nhiễm thân tâm chướng Bồ Đề môn. Thị cố, vô nhiễm thanh tịnh tâm thị thuận Bồ Đề môn.
          ()一者無染清淨心,不為自身求諸樂故。菩提是無染清淨處,若為自身求樂,即染身心障菩提門,是故無染清淨心,是順菩提門。
          (Luận: Một là tâm vô nhiễm thanh tịnh, do chẳng vì tự thân mà cầu các điều lạc. Bồ Đề là chỗ vô nhiễm thanh tịnh, nếu vì tự thân mà cầu lạc, tức là nhuốm nhơ thân tâm, chướng ngại Bồ Đề môn. Vì thế, tâm thanh tịnh vô nhiễm tức là thuận Bồ Đề môn).
 
          Thứ nhất, sau khi xa lìa cái tâm tham đắm tự thân của chính mình, sẽ đạt được cái tâm thanh tịnh vô nhiễm, lìa phiền não. Vì sao có thể đạt được cái tâm thanh tịnh vô nhiễm? Do sức mạnh trí huệ quyết đoán thấy vốn là Vô Ngã, do duyên theo cái Ngã riêng tư mà dấy khởi tư dục cầu vui sướng, sẽ chỉ chuốc vời nỗi khổ luân hồi to lớn. Do vậy, chẳng còn cầu yên vui cho riêng bản thân, mà cũng sẽ thoát khỏi trạng huống “chuyện gì cũng đều vì Ngã ái chấp, bị tư dục sai khiến bèn khởi Hoặc tạo nghiệp”, đạt được tâm cảnh thanh tịnh vô nhiễm. Đấy là diệu pháp bậc nhất hòng đạt được cái tâm.
          Vì sao nó là thuận Bồ Đề môn? Điều này lại phải quan sát theo chiều thuận và nghịch từ phương diện nhân quả có phù hợp hay không, cũng tức là quan sát Bồ Đề nơi cái quả của những gì đã làm có trạng huống như thế nào, nhưng xét theo cái nhân và tâm thái trước khi thực hiện, chỉ có hai loại là thuận tùng và trái nghịch. Nhìn theo phía trái nghịch, [hãy quan sát những gì đã làm đã] trái nghịch Bồ Đề, ngăn che Bồ Đề như thế nào. Nhìn theo phía thuận thì [những hành vi đã làm] tùy thuận Bồ Đề, khai phát Bồ Đề như thế nào. Sau khi đã nhận thức chắc chắn, sẽ biết: Tâm vô nhiễm thanh tịnh là thuận Bồ Đề môn, mong thành tựu cái quả đại Bồ Đề thì phải trụ trong loại tâm thái này. Nếu không, sẽ xa lìa Bồ Đề, chướng ngại, ngăn che Bồ Đề. Bậc trí sẽ thấu đạt sâu xa lý duyên khởi, nắm vững nguyên tắc bất biến, sẽ có sự quyết đoán trong hành trì, sẽ lại nhiều lượt huân tu, tùy thuận từ nơi ấy, cho đến hoàn toàn đi theo phương hướng thuận tánh, khai phát Bồ Đề. Cuối cùng, chắc chắn sẽ hiển lộ triệt để Bồ Đề, do khế hợp duyên khởi của chánh đạo.       
          Trong Bồ Đề chẳng có cái Ngã riêng tư, cũng chẳng có cái Tha (người khác) đối đãi với Ngã. Do vậy, chẳng thể vì cái Ngã riêng tư mà làm gì, cầu gì! Điều này được gọi là “vô nhiễm thanh tịnh xứ”, trạng huống có mảy may Ngã Chấp, phiền não, vì cái Ngã riêng tư mà tạo tác đều chẳng có. Kế đó, nhìn từ địa vị tu nhân, nếu cho là có cái Ngã riêng tư, có cái Ngã đáng yêu mến, bảo vệ nhất, vì Ngã mà cầu lạc, chẳng hạn như cầu dục vọng giữa nam và nữ v.v… sẽ phát hiện: Ngay lập tức, thân tâm thuộc vào trạng thái nhuốm bẩn. Hoặc là vì cái Ngã riêng tư mà cầu danh vị, tôn vinh, quyền lực v.v… cũng có thể thấy ngay lập tức là cái tâm chẳng thanh tịnh. Suy ra tương tự, hễ vì cái Ngã riêng tư mà cầu lạc, cái đẳng khởi[11] trước hết chính là chẳng thanh tịnh, dần dần phát triển thành càng ngày càng chẳng thanh tịnh. Giống như Hoàng Hà khởi đầu bằng một giòng nước đục nhỏ nhoi, dần dần phát triển thành sóng bủa tận trời, sẽ xuất hiện các phiền não như tham, sân, si, mạn, ghen ghét v.v… ngày càng mạnh mẽ, cùng với các nghiệp giết, trộm, dâm, dối v.v... thân tâm hoàn toàn thuộc trong trạng thái ô nhiễm. Giả sử trạng thái ô nhiễm ấy tùy thuận Bồ Đề, nói theo lẽ tương đồng, cái tâm ô nhiễm dấy lên càng nhiều, tạo tác ô nhiễm phát triển ngày càng mạnh mẽ, sẽ càng gần với Bồ Đề. Hiển nhiên là [giả thiết ấy] chẳng thể thành lập, [bởi lẽ], trạng huống ô nhiễm càng nặng, càng thô, sẽ lìa Bồ Đề càng xa, càng khó quay trở lại. Do vậy, có thể đoán định, nó là trái nghịch Bồ Đề môn, hay chướng ngại Bồ Đề môn.
          Trái lại, giả sử dùng vô ngã chánh kiến để nhiếp trì, thấy chẳng có cái Ngã riêng tư để có thể đạt được. Dùng duyên khởi chánh kiến để nhiếp trì, sẽ thấy tư ngã và tư dục là cội nguồn của hết thảy các nỗi khổ. Do vậy, buông Ngã xuống, chẳng còn vì Ngã mà lại tính toán, cầu lấy điều gì! Khi ấy, thân tâm sẽ chẳng bị nhuốm bẩn. Cũng có nghĩa là: Chẳng thấy có tư ngã, sẽ chẳng còn vì tư ngã mà suy tính, đối với những lúc bị quở trách, tán thưởng, hay danh lợi ngay trước mặt v.v… đều chẳng bị ảnh hưởng! Tình huống kiểu này là tùy thuận Bồ Đề, có thể trở về Chân Như. Có thể thấy rằng: Chấp trước đối với tư ngã càng nhỏ, sẽ càng dễ quay về, càng tùy thuận Bồ Đề. Khi ngay cả mảy may chấp trước tư ngã còn chẳng có, sẽ có thể tiến nhập tâm thái đạm bạc như tịch, bình đẳng, dần dần chứng đắc pháp giới bình đẳng tánh, trở về Chân Như. Nhận biết chắc chắn cả hai mặt thuận và nghịch như vậy, bèn biết: Nơi duyên khởi, cái tâm vô nhiễm thanh tịnh chắc chắn là thuận Bồ Đề môn. Tu hành như thế, chắc chắn sẽ đạt đến Bồ Đề quả địa.
 
          (Luận) Nhị giả, an thanh tịnh tâm, vị bạt chúng sanh khổ cố. Bồ Đề tâm thị an ổn nhất thiết chúng sanh thanh tịnh xứ. Nhược bất tác tâm bạt nhất thiết chúng sanh, linh ly sanh tử khổ, tức vi Bồ Đề môn. Thị cố an thanh tịnh tâm thị thuận Bồ Đề môn.
          ()二者安清淨心,為拔眾生苦故。菩提心是安隱一切眾生清淨處,若不作心拔一切眾生,令離生死苦,即違菩提門。是故安清淨心,是順菩提門。
          (Luận: Hai là an thanh tịnh tâm vì dẹp khổ cho chúng sanh. Bồ Đề tâm là chỗ thanh tịnh an ổn hết thảy chúng sanh. Nếu chẳng khởi tâm dẹp trừ cho hết thảy chúng sanh, khiến cho họ lìa nỗi khổ sanh tử, thì sẽ trái nghịch Bồ Đề môn. Vì thế, an thanh tịnh tâm là thuận theo Bồ Đề môn).
 
          Thứ hai là xa lìa trạng thái tạp nhiễm “không có cái tâm khiến cho chúng sanh an ổn”, hòng đạt tới cái tâm thanh tịnh an ổn chúng sanh. Vì sao sẽ đạt được cái tâm an ổn thanh tịnh? Vì tâm thái đã chuyển, vì lập nguyện dẹp trừ, cứu giúp nỗi khổ của chúng sanh. Trong quá khứ đã bị trần cấu ích kỷ che chắn, chướng ngại nghiêm trọng, hoàn toàn là cái tâm tạp nhiễm ích kỷ, trơ lì, chẳng lập nguyện mong an lập chúng sanh. Nay xa lìa điều đó, sẽ hiện ra cái tâm an ổn thanh tịnh.
          Vì sao nó là thuận Bồ Đề môn? Điều này lại phải từ nhân quả mà quan sát chúng có thuận với nhau hay không. Bồ Đề tâm nơi cái quả là chỗ thanh tịnh để an ổn hết thảy chúng sanh. Bồ Đề tâm ở đây là nói đến cái tâm giác ngộ sau khi bổn tánh hiển lộ thấu triệt, hoàn toàn giác ngộ, nó trở thành chỗ thanh tịnh để hết thảy chúng sanh đạt được an ổn. Bồ Đề của Phật giống như một cái cây to cành lá xum xuê, nó tỏa bóng mát rất lớn, chúng sanh đều có thể hóng mát, được an vui dưới gốc cây to. Nay hãy xét xem trạng thái nơi cái nhân có tương ứng với trạng thái nơi cái quả hay không? Nếu chẳng phát tâm cứu vớt hết thảy chúng sanh, khiến cho họ đều thoát ly nỗi khổ sanh tử, chỉ lo toan cho lợi ích của riêng mình, chẳng che chở, rợp bóng toàn thể chúng sanh giới, do trạng thái ấy, rốt cuộc sẽ làm sao mà trở thành cội đại thụ trong pháp giới phủ rợp, che chở hết thảy chúng sanh cho được? Chẳng thể nào! Chỉ có trong lúc tu nhân đã xuất hiện cái tâm an ổn thanh tịnh, thí xả toàn bộ công đức và phước đức của chính mình cho chúng sanh, ngõ hầu chúng sanh sẽ được thanh lương vì khổ đã dẹp trừ. Cứ như vậy mà không ngừng khai phát, tăng trưởng tâm đại bi; rốt cuộc, tâm đại bi mới có thể che phủ trọn khắp toàn thể pháp giới, khiến cho hết thảy chúng sanh đều được thanh lương. Nếu chỉ vì riêng một mình cá nhân ta, chẳng phát tâm cứu vớt, dẹp trừ nỗi khổ cho chúng sanh, mà nếu do trạng thái ấy vẫn có thể thành tựu Bồ Đề, vậy thì lẽ ra kẻ càng ôm lòng ích kỷ, sẽ thành Phật càng nhanh chóng hơn; còn cái tâm ích kỷ càng nhỏ, sẽ càng chẳng thể hiển phát đức hạnh của tâm đại bi, rời lìa đại Bồ Đề càng xa!
          Ngược lại, nếu xuất hiện cái tâm an ổn thanh tịnh, xa lìa tâm thái nhỏ bé ích kỷ, làm điều gì cũng lấy pháp giới chúng sanh làm chánh yếu, muốn cứu vớt, dẹp trừ nỗi khổ cho chúng sanh, lập nguyện và hồi hướng như vậy, hiện tiền đang ở trong trạng thái thanh tịnh, tương ứng với tâm đại bi được hiển lộ, phát khởi trọn khắp. Tu như vậy, cái tâm chẳng an ổn chúng sanh, hoặc tâm thái ích kỷ tạp nhiễm nhỏ hẹp sẽ dần dần chẳng còn. Tập tánh hễ chuyển biến, sẽ biến thành trạng huống khai phát đại bi. Do nó tương ứng với tâm đại bi trọn khắp nơi quả vị, sẽ tùy thuận đường nẻo khai phát Bồ Đề đại bi. Vì thế gọi là “thuận Bồ Đề môn”. Do xa lìa chướng ngại từ cái tâm chẳng an ổn chúng sanh, sẽ đạt được cái tâm thanh tịnh an ổn. Đấy là cảnh giới “tiến đến, hướng theo quả vị Bồ Đề, đại bi trọn khắp, có thể an ổn hết thảy chúng sanh”. Có thể thấy là phương hướng này hoàn toàn đúng.
 
          (Luận) Tam giả, lạc thanh tịnh tâm, dục linh nhất thiết chúng sanh đắc đại Bồ Đề Niết Bàn cố. Bồ Đề Niết Bàn thị tất cánh thường lạc xứ. Nhược bất tác tâm linh nhất thiết chúng sanh đắc tất cánh thường lạc, tức giá Bồ Đề môn.
          ()三者樂清淨心,欲令一切眾生得大菩提涅槃故。菩提涅槃是畢竟常樂處,若不作心令一切眾生得畢竟常樂,即遮菩提門。
          (Luận: Ba là lạc thanh tịnh tâm, vì muốn cho hết thảy chúng sanh đạt được đại Bồ Đề Niết Bàn. Bồ Đề Niết Bàn là chỗ thường lạc rốt ráo. Nếu chẳng khởi tâm làm cho hết thảy chúng sanh đạt được thường lạc rốt ráo, tức là ngăn che Bồ Đề môn).
         
          Thứ ba là xa lìa cái tâm cung kính, cúng dường chính mình, sẽ đạt được lạc thanh tịnh tâm. Vì sao sẽ đạt được lạc thanh tịnh tâm? Vì muốn khiến cho hết thảy chúng sanh đều đắc đại Bồ Đề Niết Bàn, đấy mới là sự an lạc rốt ráo nhất. Cái tâm khi ấy sẽ phát triển lớn nhất. Lúc mang giữ cái tâm cung kính, cúng dường chính mình thì chính là lúc ở trong tạp nhiễm, đặc biệt nhỏ nhen ích kỷ, có thể thấy rõ rệt là trạng thái trong lúc đó đã che lấp tâm lượng thanh tịnh. Ngược lại, phát tâm khiến cho hết thảy chúng sanh đều đắc đại Bồ Đề Niết Bàn, tâm lượng ấy đã phát ra to lớn nhất, ứng hợp bổn tánh. Chuyện gì cũng đều chẳng vì chính mình, mà vì hết thảy chúng sanh. Không chỉ là làm cho họ đạt được niềm vui tạm thời trong cõi trời người, hoặc niềm vui chẳng rốt ráo của Tiểu Thừa, mà là khiến cho họ đạt được niềm vui Vô Thượng Đại Bồ Đề Niết Bàn, chẳng có cái tâm nào to lớn hơn cái tâm ấy! Khi đó, các trạng thái hữu hạn, ích kỷ, hẹp hòi đều bị tiêu trừ. Do vậy, gọi nó là “lạc thanh tịnh tâm”. Niềm vui ấy lấy chuyện chúng sanh đạt được niềm vui rốt ráo làm chủ, chỉ cần coi trọng điều này, cái tâm sẽ thoát lìa [sự chấp trước] riêng tư cho chính mình, tức là trạng thái “cung kính, cúng dường tự thân”, ngay lập tức thuộc trong tâm lượng vô tư, xứng hợp tâm lượng pháp giới, ngay khi ấy sẽ là trạng thái thanh tịnh, cho nên gọi là “lạc thanh tịnh tâm”.
          Vì sao nó là thuận Bồ Đề môn? Vẫn phải quan sát từ phương diện duyên khởi thuận và nghịch. Trạng huống của cái quả Vô Thượng Bồ Đề là như thế nào? Chẳng có lầm lỗi, ương họa thô thiển nơi Khổ và Tập, cũng như lỗi lầm, ương họa chuyển dời, biến đổi vi tế, ngay cả chuyển dời, ngay cả biến đổi trong một sát-na cũng đều chẳng có. Vì thế là chỗ rốt ráo thường lạc. Trong khi chứng đắc quả đại Bồ Đề, tự nhiên sẽ trở thành chỗ nương tựa cho hết thảy chúng sanh được thọ dụng sự an lạc. Lực dụng Bồ Đề đại bi bèn dẫn khởi hạnh lợi tha, chắc chắn sẽ khiến cho chúng sanh đạt được thường lạc rốt ráo, vì chúng sanh và chính mình có cùng một Thể, chẳng thể có một tí tư tâm nào, một tí hạn cuộc nào! Do đó, bất cứ ai thành tựu vô thượng giác đạo sẽ đều nhất định an trí hết thảy chúng sanh hữu duyên nơi Vô Thượng Bồ Đề.
          Ví như lúc chính mình đã giải thoát khỏi nỗi lo âu sanh tử to lớn của Ngũ Thủ Uẩn, chứng nhập pháp giới, chẳng có phân biệt chấp trước ta hay người. Do vậy, đối đãi người khác như chính mình, đối với bất cứ một chúng sanh nào cũng đều có thể dùng phương tiện lực dụng để cứu vớt họa hoạn Ngũ Thủ Uẩn của người ấy, dứt diệt rốt ráo nỗi khổ sanh tử của họ. Nói cao hơn một bước nữa, chính mình xa lìa nỗi khổ chuyển dời, biến đổi vi tế, chẳng có Biến Dịch sanh tử, dùng lực dụng của lòng Đồng Thể Từ Bi, đối với bất cứ chúng sanh nào cũng đều có thể cứu giúp nỗi khổ vì bị chuyển dời, biến đổi của kẻ ấy, khiến cho họ đều thoát lìa Biến Dịch sanh tử. Cũng giống như vậy, do Bồ Đề là chốn thường lạc rốt ráo, khi chứng đắc Bồ Đề, sẽ xuất hiện Đồng Thể Đại Bi, đối đãi pháp giới chúng sanh chẳng có chút tâm thiên vị, lợt lạt, xa cách nào. Do đó, quyết định sẽ dùng lực dụng phương tiện khiến cho chúng sanh đạt được thường lạc rốt ráo.
          Lại nhìn vào trạng thái của cái nhân. Nếu rơi vào tâm thái “cung kính, cúng dường tự thân”, vậy thì sẽ chẳng thể phát tâm làm cho hết thảy chúng sanh đều đạt được thường lạc rốt ráo, mà cũng là từ trong pháp giới vốn sẵn bình đẳng bèn từ Không sanh ra Có, xuất hiện cái Ngã riêng tư. Sau đấy, rất coi trọng cái Ngã riêng tư, thấy các thứ khác đều chẳng liên quan gì với mình. Khi ấy, trọng điểm nơi hành vi sẽ là toàn bộ đều xoay quanh thân tâm của chính mình. Vì để cho nó đạt được danh lợi, dục lạc v.v… mà hành các thứ phương tiện, lúc nào cũng lấy tự ngã làm trung tâm, phục vụ cho tự ngã. Đương nhiên là sẽ trái lìa trạng huống “tự và tha có cùng một Thể, nguyện vì chúng sanh đều đạt được thường lạc rốt ráo mà làm hết thảy các phương tiện”. Cứ phát triển như vậy, chỉ có thể khiến cho chấp trước ngày càng nặng hơn, lìa đại Bồ Đề tâm ngày càng xa hơn! Giả sử nó tùy thuận đại Bồ Đề, vậy thì đáng phải nên tôn trọng, cung kính tự ngã, càng vì tự ngã mà mưu cầu lợi lộc riêng tư, sẽ càng tiếp cận đại Bồ Đề. Nhưng làm như vậy, kết quả chỉ là khiến cho cái tâm ích kỷ của ta ngày càng nặng hơn, tâm càng ngày càng bế tắc hơn, phát sanh các thứ lầm lỗi như tham dục, keo tiếc v.v… Khi tự ngã chẳng được thỏa mãn, sẽ sanh ra các phiền não như ghen ghét, sân khuể v.v… Do tư dục làm gốc mà xuất hiện các thứ tà phương tiện lực dụng, sẽ đẩy con người chìm sâu hơn trong luân hồi, lìa đại Bồ Đề ngày càng xa hơn. Do vậy, thấy rõ điều này chính là pháp ngăn che Bồ Đề môn.
          Trái lại, khi chính mình xuất hiện cái tâm an ổn thanh tịnh, chẳng còn coi tự ngã là trung tâm, sẽ làm cho hết thảy chúng sanh đạt được đại lạc Bồ Đề rốt ráo. Khi ấy, suy nghĩ, phát nguyện v.v… sẽ ngay lập tức thuận hợp Bồ Đề, phát triển dần dần, càng ngày càng phù hợp bổn tánh. Tu thuận tánh như vậy, sẽ tiêu trừ lực dụng điên đảo của chuyện vì tự ngã mà hành phương tiện. Khi khai phát đến mức triệt để, sẽ hoàn thành lực dụng trọn khắp nơi cái quả đại Bồ Đề. Có thể thấy nó là thuận Bồ Đề môn.
          Nói chung, do trí huệ môn, từ bi môn, và phương tiện môn mà xa lìa ba món trái nghịch, thành tựu ba món tùy thuận, trụ trong tâm thanh tịnh mà tu tấn dần dần, rốt cuộc sẽ có thể đạt được quả đại Bồ Đề. Đó cũng là sức trí bi khai phát viên mãn, xuất hiện đại trí, đại bi, đại lực Bồ Đề tâm viên mãn trọn vẹn. Đấy gọi là “thành tựu Bồ Đề”.
           Trên đây là nói rõ về sự nhập môn Bồ Đề đạo. Chúng ta muốn chứng viên mãn quả đại Bồ Đề, trước hết, nhân địa phải chánh đáng, cũng tức là trừ khử tam chướng, phát tam tâm, xa lìa sự tham trước tự thân trong cái tâm của ta, phát khởi tâm vô nhiễm thanh tịnh, xa lìa cái tâm chẳng an ổn chúng sanh để phát khởi cái tâm thanh tịnh an ổn chúng sanh, xa lìa cái tâm cung kính cúng dường tự thân để phát khởi cái tâm lạc thanh tịnh. Ba cái tâm ấy nói phân biệt thì sẽ thuộc về bi, trí, lực, ở nơi nhân vị (địa vị tu nhân), đã tương thuận với đại Bồ Đề quả. Khi bi, trí, lực phát triển đến mức rốt ráo thì sẽ thành Phật, vì chẳng có chút Ngã Chấp nào, trở về trí chiếu sẵn có, lại còn hiển phát đại bi, nguyện an lập hết thảy chúng sanh, lại xuất hiện lực dụng, chỉ vì chúng sanh mà tạo lợi lạc. Cũng giống như vậy, đã có ba cái nhân tương ứng; sau đó, sẽ dần dần hiển lộ, khai phát, đạt đến mức triệt để thì sẽ thành Phật. Nếu chuyển theo hướng trái nghịch, do vì duyên khởi chẳng thuận, chỉ có thể thuận theo sanh tử!
          Nhận thức như vậy để nhập môn; sau đấy, điều then chốt là phải làm như thế nào hòng gìn giữ cái nhân như vậy, cũng như khiến cho nó nhanh chóng viên thành. Đấy mới là vấn đề nơi đạo, dùng vấn đề này để suy xét [phải nên] sanh về Tịnh Độ, hay sanh vào uế độ. Cuối cùng, [nhận biết đích xác]: Phát nguyện sanh về Tịnh Độ sẽ có thể mau chóng viên thành. Do cái tâm ấy mà ưa thích, mong cầu vãng sanh Tịnh Độ.

10.2.1.2.2. Nêu rõ vãng sanh Tây Phương Tịnh Độ sẽ có thể nhanh chóng viên mãn đại dụng của trí, bi, lực
 
          (Luận) Thử Bồ Đề nhân hà nhi đắc? Yếu nhân sanh Tịnh Độ, thường bất ly Phật, đắc Vô Sanh Nhẫn dĩ, ư sanh tử quốc trung, cứu khổ chúng sanh. Bi trí nội dung Định nhi thường dụng, tự tại vô ngại, tức Bồ Đề tâm. Thử thị nguyện sanh chi ý.
          ()此菩提因何而得?要因生淨土常不離佛,得無生忍已,於生死國中救苦眾生。悲智內融定而常用自在無礙,即菩提心。此是願生之意。
          (Luận: Do đâu mà đắc Bồ Đề? Phải do sanh về Tịnh Độ, thường chẳng lìa Phật, đã đắc Vô Sanh Nhẫn, ở trong cõi sanh tử, cứu khổ chúng sanh. Bi và trí dung hội bên trong, Định mà thường dụng, tự tại vô ngại, tức là Bồ Đề tâm. Đấy là ý nguyện sanh).
 
          Đại Bồ Đề quả với “bi, trí, lực” viên mãn như vậy là do từ đường lối nào mà đạt được? Nếu còn có sanh, thì chỉ có hai loại sanh: Hoặc là sanh vào uế độ, hoặc là sanh vào Tịnh Độ. Hãy cân nhắc hai đường lối ấy, đường nào sẽ có thể nhanh chóng thành tựu viên mãn đại Bồ Đề? Nếu sanh vào uế độ, giống như trong phần trên đã nói, trong cõi này, duyên gây thoái chuyển quá nhiều, tự tâm gặp phải cảnh duyên tạp nhiễm, sẽ rất dễ dàng dẫn phát phiền não Ngã Chấp. Như thế thì sẽ bị nghiệp ràng buộc, hãm trong tam đồ, rất khó thoát ra. Tự thân còn khó giữ toàn vẹn, làm sao có thể độ chúng sanh cho được? Giống như giòng nước chảy xiết đổ ào xuống, bản thân ta còn chẳng có sức từ đó thoát ra, ít có ai chẳng bị cuốn trôi! Suy xét nỗi hiểm nạn ấy, sẽ nghĩ: “Có cần phải sanh về Tịnh Độ hay chăng?” Hễ vãng sanh Cực Lạc Tịnh Độ, sẽ đạt Bất Thoái Chuyển. [Do được] đại nguyện và đại hạnh từ vô lượng kiếp cho tới nay của A Di Đà Phật làm Tăng Thượng Duyên, trong cõi ấy, chẳng có bất cứ duyên gây thoái chuyển nào, niệm nào cũng đều có thể tăng tấn Bồ Đề đạo, thường chẳng lìa Phật, được Phật gia bị che chở, dưỡng dục. Do đó, sẽ nhanh chóng khai phát bổn tánh, lại còn dần dần tăng tấn, đạt được sức Vô Sanh Nhẫn. Khi đó, sẽ vào các cõi sanh tử cứu khổ chúng sanh. Đó gọi là “bi trí nội dung” (bi và trí dung hội bên trong), “Định nhi thường dụng” (tuy Định mà thường phát khởi Dụng), “tự tại vô ngại”, đại dụng của ba phần “bi, trí, lực” hoàn toàn hiển lộ.       
          Khi đó, ở trong đời trược lợi lạc chúng sanh, tuy ở trong thế gian mà chẳng bị thế gian bó buộc, tuy ở trong trần cảnh mà chẳng mê mất nhất linh chân tánh. Đó gọi là “tự tại vô ngại”. “Bi trí nội dung” tức là bên trong có Bi và Trí, Bi khởi tác dụng, chẳng trụ trong Niết Bàn, chẳng giống Tiểu Thừa. Trí khởi tác dụng mà chẳng trụ trong sanh tử, chẳng giống như phàm phu. Hai phần Trí và Bi viên dung trong tâm, chẳng phải dùng riêng một phần nào. Vì Trí và Bi ở bên trong [nội tâm] đồng thời khởi tác dụng, bên ngoài bèn phát xuất phương tiện lực dụng hết sức to lớn, nên gọi là “Định nhi thường dụng”. “Định” biểu thị Chân Tế bất động, chẳng hề mê mất tí nào! “Thường dụng” là Tịch mà thường Chiếu, thường ứng với các loại duyên và các loại căn cơ mà phát khởi diệu dụng. Do phương tiện lực dụng luôn có thể phù hợp khít khao với căn cơ được hóa độ, dẫn dắt họ tiến nhập Phật pháp, đặt yên họ nơi đạo an lạc trong hiện tiền và rốt ráo. Giống như Quán Thế Âm Bồ Tát gặp căn cơ gì bèn nói pháp ấy; do vậy, Ngài đã thực hiện phù hợp khít khao. Đó là khởi diệu dụng. Cũng giống như vậy, đại dụng của “trí, bi, lực” phát lộ, lại dần dần tăng tấn đến mức viên mãn, toàn thể Bồ Đề tâm phát lộ rõ rệt, như thế thì sẽ thành Phật.
          Cái gọi là “Bồ Đề tâm” chính là cái tâm viên dung ba phần đại trí, đại bi, và đại lực. Nơi nhân địa thì sẽ thuận theo như vậy mà phát tâm, một mực cho đến khi thành Phật đều là tu cái tâm Bồ Đề này. Cuối cùng, [cái tâm ấy] mở mang hiển lộ hoàn toàn thì là thành Phật. Do vãng sanh Tịnh Độ có Phật lực trụ trì, cho nên có thể nhanh chóng khai phát bản tánh mà thành đạo. Đại dụng của bi, trí, lực đạt tới viên mãn, cho nên chọn lựa con đường này hòng thành tựu đại Bồ Đề. Đây là ý nghĩa sâu xa của việc nhất tâm ưa thích mong cầu vãng sanh thế giới Cực Lạc.
 
10.2.2. Quán những sự trang nghiêm trong Tịnh Độ, tâm tâm nguyện cầu
 
          (Luận) Nhị, minh hân tâm nguyện cầu giả, hy tâm khởi tưởng duyên Di Đà Phật, nhược Pháp Thân, nhược Báo Thân đẳng. Kim sắc quang minh, bát vạn tứ thiên tướng, nhất nhất tướng trung bát vạn tứ thiên hảo, nhất nhất hảo phóng bát vạn tứ thiên quang minh. Thường chiếu pháp giới, nhiếp thủ niệm Phật chúng sanh. Hựu quán bỉ Tịnh Độ thất bảo trang nghiêm diệu lạc đẳng, bị như Vô Lượng Thọ Kinh, Quán Kinh Thập Lục Quán đẳng, thường hành Niệm Phật tam-muội, cập T, Giới, Tu đẳng nhất thiết thiện hạnh, tất dĩ hồi thí nhất thiết chúng sanh, đồng sanh bỉ quốc, quyết định đắc sanh. Thử vị Hân Nguyện Môn dã.
          ()二、明欣心願求者,希心起想緣彌陀佛,若法身若報身等。金色光明八萬四千相,一一相中八萬四千好,一一好放八萬四千光明,常照法界攝取念佛眾生。又觀彼淨土七寶莊嚴妙樂等,備如無量壽經觀經十六觀等。常行念佛三昧,及施戒修等一切善行,悉已回施一切眾生,同生彼國,決定得生。此渭欣願門也。
          (Luận: Thứ hai, nói về cái tâm ưa thích, nguyện cầu thì tâm mong mỏi, khởi tưởng duyên theo Phật Di Đà, hoặc là Pháp Thân, hoặc là Báo Thân v.v… Quang minh sắc vàng, tám vạn bốn ngàn tướng, trong mỗi một tướng có tám vạn bốn ngàn hảo, trong mỗi một hảo tỏa ra tám vạn bốn ngàn quang minh, thường chiếu pháp giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật. Lại quán Tịnh Độ trang nghiêm bằng bảy báu, các sự vui mầu nhiệm v.v… nói chi tiết thì như kinh Vô Lượng Thọ, mười sáu phép Quán trong Quán Kinh v.v… thường hành Niệm Phật tam-muội, T, Giới, Tu v.v… hết thảy các thiện hạnh, đều dùng để thí cho hết thảy chúng sanh cùng sanh về cõi ấy, quyết định được sanh về. Đó gọi là Hân Nguyện Môn).
 
          Thứ hai, thuyết minh chuyện dùng cái tâm vui thích để nguyện cầu vãng sanh. Trong phần trước là nói về ý nghĩa của việc nguyện sanh, khiến cho chúng ta thấy được nghĩa lý to lớn ở chỗ nào. Do vậy, sẽ phát khởi cái tâm hân cầu (欣求, vui thích mong cầu). Nói “nguyện cầu” (愿求) chính là cái tâm mong cầu một lòng duyên niệm Pháp Thân hay Báo Thân của A Di Đà Phật, hoặc là [duyên niệm] quang minh, tướng hảo của Ngài, thường chiếu pháp giới, nhiếp thủ chúng sanh niệm Phật v.v… cũng như niệm Tịnh Độ, thường hành Niệm Phật tam-muội, hết thảy các thiện hạnh đều hồi hướng cho hết thảy chúng sanh cùng sanh về cõi nước Cực Lạc. Đấy là Hạnh môn. Từ pháp Yếm và Hân trong phần trước đã đạt được kiến giải thù thắng; tiếp đó, dùng cái tâm mong cầu để niệm Phật, niệm Tịnh Độ v.v… Điều này gọi là Hân Nguyện Hạnh.         
          Nói chung, Hân Nguyện Hạnh là sau khi ba món Tín, Nguyện, Hạnh đã dung hợp trong tâm, bèn phát khởi tu hành. Quá trình thúc đẩy trong giai đoạn trước khá cặn kẽ và lâu dài. Một khi đã dấy lên kiến giải thù thắng, bèn có nguyện tâm, trải qua sự phát triển dần dần, sẽ biến thành cái tâm ưa thích trọn đủ. Dưới sự thôi thúc của cái tâm ấy, [hành nhân] sẽ một mực niệm Phật, niệm Tịnh Độ, đó gọi là Hân Nguyện Hạnh. Có cái tâm bao hàm trọn đủ như vậy, sẽ có thể tương ứng với biển nguyện của đức Di Đà, và cũng sẽ quyết định vãng sanh thế giới Cực Lạc. Đấy là do Tín, Nguyện, Hạnh mà đạt được sự chắc chắn vãng sanh.
          Ngoài ra, chớ nên chấp chết cứng vào thứ tự của Tín, Nguyện, Hạnh. Tuy là do Tín khởi Nguyện, từ Nguyện khởi Hạnh, nhưng cũng phải biết: Trong quá trình quán Phật, hoặc quán Tịnh Độ, có thể tăng thượng Tín và Nguyện cao hơn một bậc nữa, cũng có nghĩa là Hạnh có thể bổ trợ Tín và Nguyện. Ví như quán Pháp Thân, hay quán Báo Thân của Phật, quán đất, nước, gió, âm thanh v.v… các sự trang nghiêm nơi y báo của Tịnh Độ, những điều ấy đều thuộc về Hạnh môn. Duyên niệm công đức của Phật, công đức của Bồ Tát, công đức của quốc độ v.v… như thế đó, sẽ tăng tấn cái tâm ưa thích cao hơn một bậc, khiến cho tâm nguyện vãng sanh ngày càng thiết tha, kiến giải thù thắng đối với A Di Đà Phật, đối với Cực Lạc Tịnh Độ ngày càng sâu đậm. Đấy là Hạnh có thể tăng thượng Tín và Nguyện, phải nên liễu giải dung thông như vậy.
          Tiếp đó, lại giải thích. “Niệm Phật” tức là đặc biệt mong cầu vãng sanh, dùng nhất tâm nương cậy chắc chắn vào A Di Đà Phật, dùng cái tâm mong mỏi, nguyện cầu để duyên theo Pháp Thân, Báo Thân, hoặc công đức v.v… của A Di Đà Phật. Sau khi đã có cái tâm mong cầu, ước nguyện, tự nhiên sẽ hướng theo A Di Đà Phật. Sau đấy, chiếu theo trình độ của chính mình mà niệm Pháp Thân Phật, hay niệm Báo Thân Phật. Nếu hai đằng đều chẳng tu được, vậy thì niệm đại bi quang minh, công đức trang nghiêm, hoặc danh hiệu của Phật v.v… những điều ấy đều có thể làm được. Nói chung, chọn lựa một phương pháp “liên lạc” với A Di Đà Phật, khiến cho cái tâm của chính mình ứng hợp Phật tâm. Sự “liên lạc” như vậy ngày càng chặt chẽ, sẽ được Phật quang nhiếp thọ, tiếp dẫn. Đạt tới một trình độ nhất định, giống như cá đã mắc câu, chắc chắn chẳng thoát ra được, liền được thọ ký ngay trong đời này, gần như cũng có thể biết trước thời gian vãng sanh, hoặc là trong mộng sẽ có điềm báo, trông thấy các thứ tướng hảo v.v…
          Giống như vậy, sau khi đã kiến lập tín nguyện căn bản, hãy nhất tâm tương ứng với A Di Đà Phật. Đã làm tốt công việc trước đó, biết thế giới Sa Bà chỉ có khổ, chẳng có vui, cho nên chẳng còn lưu luyến nữa, nguyện thoát ly thân trong uế độ để đạt được thân trong Tịnh Độ. Lại biết: Để nhanh chóng thành tựu đại Bồ Đề, cách duy nhất là nương cậy A Di Đà Phật. Sau đó, phải làm sao để một dạ tương ứng với A Di Đà Phật. Tương ứng bằng cách nào? Niệm Pháp Thân của Phật, niệm tướng hảo của Phật, niệm danh hiệu của Phật v.v… Xét theo tình hình hiện thời, phương pháp thích hợp trọn khắp đại chúng là niệm danh hiệu Phật. Đương nhiên là cũng có thể tùy theo căn tánh của cá nhân mà lựa chọn những phương pháp khác để ứng hợp với A Di Đà Phật. Ở đây, [lời luận] có nói từ sắc thân, tướng hảo của đức Phật tỏa ra vô lượng quang minh, thường nhiếp trì chúng sanh niệm Phật. Đấy là nói rõ: Chúng ta niệm Phật bèn có thể được Phật nhiếp thọ.
          Kế đó, phải tưởng sự trang nghiêm trong quốc độ của Phật Di Đà, chiếu theo Tịnh Độ Tam Kinh để quán. Trong Vãng Sanh Luận có nói đến sự trang nghiêm của Phật, sự trang nghiêm của Bồ Tát, sự trang nghiêm của quốc độ v.v… gồm hai mươi chín môn. Hãy dựa theo đó để quan sát, ức niệm từng điều, khiến cho cái tâm trụ nơi tịnh tướng (tướng thanh tịnh) của thế giới Cực Lạc. Vì hết thảy đều là “duy tâm sở hiện”, do tâm tưởng mà thành, tự tâm tác ý huân tu như vậy, sẽ giống như đang ở trong cõi Cực Lạc. Quán lâu dài như vậy, cho tới khi thuần thục, tuy thân ở trong thế giới Sa Bà, tâm đã là khách quý của cõi Cực Lạc! Cũng như vậy, một khi đã xác lập mục tiêu, lựa chọn con đường Tịnh Độ để thành Phật; sau đó, chủ yếu là vận dụng hết tâm tư hướng về Tịnh Độ, duyên tưởng Tịnh Độ, phát nguyện v.v… hết thảy đều xoay quanh điều căn bản này. Đấy chính là pháp tu căn bản của hành giả Tịnh nghiệp.
          Hơn nữa, trong lúc bình thời, sẽ tùy duyên bố thí, trì giới, tu Định v.v… hết thảy csác thiện căn to nhỏ đều hành để hồi hướng Đại Thừa Tịnh Độ, đều thí cho hết thảy chúng sanh trong pháp giới để họ cùng được sanh về quốc độ Cực Lạc. Cũng như vậy, ước nguyện mong muốn đã tuân theo phương hướng duyên khởi quyết định là sanh về thế giới Cực Lạc, như thế thì khi mạng chung, chắc chắn sẽ vãng sanh thế giới Cực Lạc, sẽ không đến nơi khác! Đấy là diệu môn “quyết định được vãng sanh”.
          Trên đây là nói về Hân Nguyện Hạnh. Hai thứ Yếm Ly Hạnh và Hân Nguyện Hạnh đã bao trùm nội dung của Tín Nguyện Hạnh trong Tịnh Độ, mà cũng bao trùm hàm nghĩa của tâm xuất ly, tâm Bồ Đề và vô nhị huệ của Tịnh Độ.
 

Trích từ: Tịnh Độ Thập Nghi Luận và Tịnh Độ Thập Nghi Luận Giảng Ký