Thế Tôn
(世尊): đấng được thế gian tôn kính, hay chỉ cho đấng tối tôn trên thế gian này; là một trong 10 danh hiệu của đức Phật. Có nhiều Phạn ngữ dịch chữ Thế Tôn này; như loka-nātha (đấng chủ tể của thế gian), loka-jyeṣṭha (đấng tối tôn trên thế gian), lokādhipati (đấng nổi bậc nhất trên thế gian), v.v. Tuy nhiên, các kinh luận sử dụng từ bhagavat nhiều hơn. Từ này âm dịch là Bà Già Bà (婆迦婆), Bà Nga Phạ Đế (婆誐嚩帝), Bà Già Phạm (婆伽梵), Bạc Già Phạm (薄伽梵); ngoài ý dịch là Thế Tôn, còn có nghĩa là hữu đức (có đủ đức hạnh), hữu danh thanh (có tiếng tăm); trong đó nghĩa Thế Tôn là dễ hiểu nhất, nên từ xưa nay dịch giả vẫn thường lấy ý này để chuyển dịch. Trong Thiền Tông Tụng Cổ Liên Châu Thông Tập (禪宗頌古聯珠通集, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 65, No. 1295) quyển 2 có câu: “Thế Tôn vị ly Đâu Suất dĩ giáng vương cung, vị xuất mẫu thai độ nhân dĩ tất (世尊未離兜率已降王宮、未出母胎度人已畢, Thế Tôn chưa rời Đâu Suất đã xuống vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ mà độ người đã xong).” Hay trong Đại Huệ Phổ Giác Thiền Sư Ngữ Lục (大慧普覺禪師語錄, Taishō Vol. 47, No. 1998A) quyển 23 lại có đoạn: “Thế Tôn tại Pháp Hoa Hội thượng, chỉ độ đắc nhất cá nữ tử thành Phật, Niết Bàn Hội thượng diệc chỉ độ đắc nhất cá Quảng Ngạch đồ nhi thành Phật (世尊在法華會上、只度得一箇女子成佛、涅槃會上亦只度得一箇廣額屠兒成佛, Thế Tôn ở trên Hội Pháp Hoa chỉ độ được một người nữ thành Phật, trên Hội Niết Bàn cũng chỉ độ được một người đồ tể Quảng Ngạch thành Phật).”