Thập Song Thiếp Thích Quan Âm Phổ Môn
(十雙貼釋觀音普門) Chỉ cho 10 đôi do ngài Trí khải tông Thiên thai lập ra để giải thích phẩm Quán thế âm bồ tátphổ môn khi ngài soạn Quan âm huyền nghĩa. Mười đôi là: 1. Nhân pháp: Nhân là Quán thế âm, pháp là Phổ môn. Phẩm này có hỏi và đáp, trước nói về người, sau luận về pháp, vì người giữ pháp nên gọi là Nhân pháp. 2. Từ bi: Từ là nhớ mến, là tâm đại từ ban vui; bi là thương xót, là lòng đại bi cứu khổ.3. Phúc tuệ: Phúc là phúc đức, chỉ cho 5 độ bố thí, trì giới, tinh tiến, nhẫn nhục và thiền định; tuệ là trí tuệ, chỉ cho bát nhã. 4. Chân ứng: Chân là chân thực, chỉ cho Chân thân; Ứng là ứng hiện, chỉ cho Ứng thân. 5. Dược châu: Dược là cây thuốc, dụ cho Chân thân; Châu là như ý châu, dụ cho Ứng thân. 6. Minh hiển: Minh là thầm kín, tức Chân thân bao trùm mọi vật, âm thầm làm lợi ích; hiển là hiển hiện, tức Ứng thân tùy cơ nói pháp, làm lợi ích rõ ràng. 7. Quyền thực: Quyền là quyền trí quyền biến, thực là thực trí chân thực. 8. Bản tích: Bản là căn bản, tích là thùy tích. Bồ tát Quán thế âm là Phật Chính pháp minh đời quá khứ, Bản của Ngài đã cao mà Tích của quyền thực lại diệu, không có Bản không lấy gì để thùy tích, không có Tích không lấy gì để hiển Bản. 9. Duyên liễu: Duyên là trợ duyên, liễu là hiểu rõ, tức tính đức vốn có đủ nghĩa của Duyên nhân và Liễu nhân, cũng chính là bồ tát Quán âm và pháp Phổ môn đều do 2 chủng tử Liễu nhân và Duyên nhân của tính đức hiển phát. 10. Trí đoạn: Trí có công năng chiếu soi lí, đoạn có công năng đoạn trừ hoặc; chỉ cho 2 đức trí và đoạn của Phật quả hiển hiện, cũng tức là chỉ cho Niết bàn.