Các hành giả trong cả ba thừa, từ khi tu hành cho đến lúc thành Phật, đều y cứ nơi Phật pháp mà làm khuôn mẫu. Tất cả các pháp(1) ở ngoài Phật pháp đều không đủ để nương tựa. Trước và sau khi thành Phật, hành giả cũng lại lấy Phật pháp mà cứu độ chúng sinh; chư Phật trong ba đời cũng đều như vậy. Tựu trung, vì cả tự độ và độ tha đều không xa rời Phật pháp, cho nên nó đã được liệt vào một trong Ba Ngôi Báu(2).

Phật là bậc phước tuệ đầy đủ, đại giác đã trọn, từ cái thân ứng hóa do Ngài thị hiện, nói ra lời là thành kinh điển, nhấc chân lên là thành Phật pháp(3), làm qui củ mực thước cho những người tu đạo xuất thế(4) về sau trong thiên hạ. Ở đây, nếu nói một cách cụ thể, toàn bộ ba tạng Kinh, Luật, Luận đều là Phật pháp; nếu nói một cách cục bộ thì một câu kinh, một bài kệ đều hàm chứa diệu dụng, ví như đống san hô gẫy, từng mẩu từng đoạn thảy đều là quí báu. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, khi còn tu tập hạnh Bồ tát ở một kiếp xa xưa, đã từng không tiếc tính mạng để chỉ cầu được nghe nửa bài kệ; tuy chỉ có tám chữ, nhưng giá trị của nửa bài kệ ấy cũng có thể suy lường được.

Tạng Tu đa la(5) tức là tạng Kinh, là những kinh văn do Phật nói; tạng Tì nạida(6) tức là tạng Luật, là những giới luật do Phật chế; tạng A tì đạt ma(7) tức là tạng Luận, là những luận thuyết do đệ tử Phật soạn ra. Cả ba tạng này đều có phân ra tiểu và đại thừa; nội dung được trình bày như sau: Tiểu thừa: Tạng KINH: bốn bộ kinh A Hàm

Tạng LUẬT: các bộ luật Tứ Phần, Ngũ Phần, và Thập Tụng Tạng LUẬN: các bộ luận Lục Túc, Phát Trí v.v...

Đại thừa: Tạng KINH: các bộ kinh như Hoa Nghiêm v.v...

Tạng LUẬT: các kinh Phạm Võng v.v...

Tạng LUẬN: các bộ luận như Du Già Sư Địa v.v...

Khi đức Phật còn tại thế, những lời Ngài nói ra tức là Pháp bảo. Sau khi Phật diệt độ, người đời sau đã từng đem ba tạng Kinh, Luật, Luận nguyên thỉ, cùng những trước tác của các bậc hiền(8) trải bao đời, tom góp, sắp xếp, làm thành các kinh điển hoàn chỉnh, gọi chung là “Nhất Thiết Kinh”, hay “Đại Tạng Kinh”, hoặc “Tạng Kinh”. Số lượng kinh quyển của nó, kể từ lúc khởi đầu vào thời nhà TiêuLương là 5. 400 quyển, đến ngày nay đã tăng lên đến 8. 416 quyển(9); có thể nói đó là một tập đại thành(10) của Phật pháp vậy.
CHÚ THÍCH

01. “Thừa” là cỗ xe, có ý nghĩa là chuyên chở. Cỗ xe Thanh văn, cỗ xe Duyên giác và cỗ xe Bồ tát là “ba cỗ xe” (ba thừa). “Hành giả” (hay “hành nhân”) là người tu hành.

02. Ba đời: là đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai.

03. Thân “ứng hóa” là một trong ba thân của Phật; đó là cái thân đức Phật ứng theo cơ duyên mà hóa hiện ra. Hễ không hiện ra thân Phật mà chỉ hiện ra thân các loài chúng sinh trong sáu đường thì gọi là “hóa thân”; cho nên “ứng” và “hóa”, thật ra chỉ là một loại.

04. “Kệ” cũng gọi là “tụng”, là thể văn có 4 câu, có qui định số chữ; mỗi câu có từ 3 chữ hoặc nhiều hơn, và cứ 4 câu là một bài kệ (hoặc tụng); dùng để tóm tắt ý nghĩa của kinh văn.

05. Trong đời quá khứ, lúc đức Thế Tôn còn tu tập, chưa thành Phật, có một lần trời Đế Thích hóa làm một con quỉ la sát, nói cho Ngài nửa bài kệ rằng: “Chư hành vô thường, thị sinh diệt pháp.” (Chư hành là vô thường, đều là pháp sinh diệt). Ngài nghe xong liền xin quỉ la sát nói cho nghe hết bài kệ. La sát bảo: “Ta lấy thịt người làm thức ăn. Nếu ngươi có thể đưa thân ngươi cho ta ăn thì ta mới nói tiếp.” Ngài hứa chịu. Hắn bèn nói tiếp: “Sinh diệt diệt dĩ, tịch diệt vi lạc.” (Khi sự sinh diệt đã chấm dứt thì cảnh giới tịch diệt là niềm vui.) Ngài liền leo lên cây cao, tự gieo mình xuống đất. Lúc bấy giờ quỉ la sát liền hiện lại nguyên hình là trời Đế Thích, ẵm Ngài để xuống đất, rồi ca ngợi và đảnh lễ Ngài.

06. Một trăm năm sau khi đức Phật nhập diệt, Tổ thứ năm được phó chúc pháp tạng là Ưu Ba Cúc Đa, có năm vị đệ tử. Cùng nơi Luật tạng, năm vị này đã lậ


Trích từ: Giáo Khoa Phật Học - Cấp Một


Kinh Sách Liên Quan

 
1.    Diệu Pháp Liên Hoa Kinh Luân Quán Hội Nghĩa Phần 2, Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
2.    Khuyên Người niệm Phật cầu sinh tịnh độ, Chu An Sĩ | Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến, Việt Dịch
3.    Lá Thư Tịnh Độ, Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang | Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, Việt Dịch
4.    Phật Giáo Và Cuộc Sống, Đại Sư Thích Ấn Thuận | Thượng Tọa Thích Hạnh Bình, Việt Dịch
5.    Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Ký, Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
6.    Phật Thuyết A Di Đà Yếu Giải Giảng Ký, Cư Sĩ Lưu Thừa Phù Ghi Chép | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
7.    Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Kinh, Tam Tạng Cương Lương Da Xá Gốc Người Tây Vực | Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền, Việt Dịch
8.    Phật Thuyết Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Giảng Ký, Lão cư sĩ Từ Tỉnh Dân | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
9.    Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm Giảng Ký, Pháp Sư Thích Khoan Nghiêm Ghi | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
10.    Tịnh Độ Cảnh Ngữ, Bồ Tát Bật Sô Hành Sách Triệt Lưu | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
11.    Tịnh Độ Đại Kinh Giải Diễn Nghĩa, Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Cư Sĩ Như Hòa, Việt Dịch
12.    Tịnh Độ Hoặc Vấn, Đại Sư Duy Tắc Thiền sư Thiên Như Đời Dao Tần | Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, Việt Dịch
13.    Tịnh Độ Nhập Môn, Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Cư Sĩ Diệu Âm, Việt Dịch
14.    Tịnh Độ Pháp Ngữ, Nhiều Dịch Giả, Việt Dịch
15.    Tịnh Độ Sanh Vô Sanh Luận, Sa Môn U Khê Truyền Đăng, ở núi Thiên Thai | Linh Sơn Pháp Bảo Đại Tạng Kinh, Việt Dịch
16.    Tịnh Độ Tập Yếu, Thích Nữ Minh Tâm
17.    Tịnh Độ Thập Nghi Luận, Đại Sư Đời Tùy, Thiên Thai Trí Giả | Hòa Thượng Thích Thiền Tâm, Việt Dịch
18.    Tịnh Độ Thực Hành Vấn Đáp, Thượng Tọa Thích Minh Tuệ
19.    Tịnh Độ Vấn Đáp, Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Thích Nhuận Nghi, Việt Dịch
20.    Tịnh Độ Vựng Ngữ, Đại Sư Liên Trì | Đại Sư Liên Trì, Việt Dịch