Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Trich-Dan-Vo-Luong-Tho-Kinh-Luan-Cua-Thien-Than-Bo-Tat

Trích Dẫn Vô Lượng Thọ Kinh Luận Của Thiên Thân Bồ Tát
Mao Lăng Vân | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Nếu thiện nam tử, thiện nữ nhân tu Ngũ Niệm Môn, thực hành thành tựu thì rốt ráo được sanh về cõi nước An Dưỡng, gặp đức A Di Ðà Phật.

1. Một là Lễ Bái Môn: Thân nghiệp lễ bái A Di Ðà Như Lai để sanh về cõi ấy.

2. Hai là Tán Thán Môn: Khẩu nghiệp khen ngợi, xưng danh hiệu đức Phật ấy như quang minh trí tướng của đức Phật ấy, như danh nghĩa của đức Phật ấy, vì muốn được như thật tu hành tương ứng vậy.

3- Ba là Tác Nguyện Môn: Tâm thường phát nguyện, nhất tâm chuyên niệm, rốt ráo sanh về cõi nước An Lạc, vì muốn được như thật tu hành Xa Ma Tha vậy.

4- Bốn là Quán Sát Môn: Trí huệ quán sát, chánh niệm quán sát cõi ấy, vì muốn như thật tu hành Tỳ Bát Xá Na vậy. Quán Sát gồm có ba: Một là quán sát công đức trang nghiêm của cõi ấy, hai là quán sát công đức trang nghiêm của A Di Ðà Phật, ba là quán sát công đức trang nghiêm của các vị Bồ Tát cõi ấy.

5- Năm là Hồi Hướng Môn: Chẳng bỏ hết thảy chúng sanh khổ não, tâm thường phát nguyện, lấy hồi hướng làm đầu, vì được thành tựu tâm đại bi vậy.

Nhận định:

Bồ Tát dựa trên Vô Lượng Thọ Kinh để viết Nguyện Sanh Kệ Luận. Hễ ai thấy nghe đều nguyện vãng sanh, nên còn có tên là Vãng Sanh Luận. Cùng với kinh A Di Ðà, kinh Vô Lượng Thọ và Quán Kinh, luận này hợp thành Tịnh Tông Tam Kinh Nhất Luận. Ðại sư Ðàm Loan chú giải như sau:

- Danh hiệu Vô Ngại Quang Như Lai ấy là tướng trí huệ, phá được vô minh của hết thảy chúng sanh, thỏa mãn chí nguyện của hết thảy chúng sanh. Nhưng nếu có ai xưng danh, ức niệm mà vô minh vẫn còn, chẳng được thỏa mãn chí nguyện, là do chẳng tu hành như thật, do chẳng tương ứng với danh nghĩa, nghĩa là: Chẳng biết Như Lai là thân Thật Tướng. Có ba điều chẳng tương ứng:

- Một là tín tâm chẳng thuần, vì hoặc còn, hoặc mất.

- Hai là tín tâm bất nhất, vì không quyết định.

- Ba là tín tâm chẳng liên tục, vì các niệm khác xen vào.

Ba câu này lần lượt lập thành lẫn nhau: Do tín tâm chẳng thuần, nên tâm không quyết định. Do không quyết định, nên niệm chẳng liên tục. Cũng có thể bảo là vì niệm chẳng liên tục, nên chẳng được quyết định; vì chẳng được quyết định, nên tâm chẳng thuần. Không có những điều ấy thì gọi là như thật tu hành tương ứng.

Hồi hướng có hai điều:

1. Một là vãng tướng: Đem công đức của chính mình hồi thí hết thảy chúng sanh, nguyện cùng vãng sanh cõi Phật An Lạc của A Di Ðà Như Lai.

2. Hai là hoàn tướng: Ðã sanh trong cõi ấy rồi, được thành tựu sức phương tiện Xa Ma Tha, Tỳ Bát Xá Na, trở vào rừng rậm sanh tử, giáo hóa hết thảy chúng sanh cùng hướng đến Phật đạo.

Dù Vãng hay Hoàn, đều là cứu vớt chúng sanh vượt qua biển sanh tử, cho nên bảo Hồi Hướng làm đầu, vì được thành tựu tâm Ðại Bi vậy!

Bản chú giải này lâu ngày đã thất lạc. Ðến cuối đời Thanh, cư sĩ Dương Nhân Sơn mới tìm lại được ở Nhật Bản, khắc bản lưu hành trong đời. Ấn Quang đại sư đem in vào cuối cuốn Thập Yếu. Ðiều này cho thấy: Trong khóa lễ sáng tối, cần phải lễ Phật, tán thán, phát nguyện, hồi hướng. Chỉ có mỗi Quán Sát Môn thuộc về Quán Tưởng Niệm Phật, kẻ trì danh chẳng cần phải kiêm tu.
 
Trích từ: Niệm Phật Pháp Yếu

Từ Ngữ Phật Học
hồi hướng
(回向) I. Hồi Hướng. Phạm: Parìịàma. Cũng gọi Chuyển hướng, Thí hướng. Đem công đức thiện căn do chính mình tu được chuyển lại cho chúng sinh để cùng được lợi ích như mình, gọi là hồi hướng. Trong các kinh luận có nhiều thuyết nói về hồi hướng. 1. Theo thuyết Tính không của hệ tư tưởng Bát nhã, nếu hồi hướng mà không thấy có người hồi hướng, có pháp để hồi hướng, có nơi chốn để hồi hướng, thì mới được gọi là Hồi hướng chân thực. Phẩm Hồi hướng trong kinh Tiểu phẩm bát nhã do ngài Cưu ma la thập dịch (Đại 8, 548 trung), nói: Không có một pháp nào có thể gọi là pháp hồi hướng, mới được gọi là chính hồi hướng A nậu đa la tam miệu tam bồ đề (…) Vì chư Phật dạy hồi hướng không được chấp tướng, (...), nếu hồi hướng mà còn chấp tướng thì gọi là Tạp độc 2. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 của ngài Tuệ viễn chia hồi hướng làm 3 loại: a. Bồ đề hồi hướng: Đem tất cả thiện pháp mà mình tu hành để hướng cầu Bồ đề. b. Chúng sinh hồi hướng: Vì thương chúng sinh nên nguyện đem tất cả pháp lành mà mình tu được để ban cho họ. c. Thực tế hồi hướng: Đem thiện căn của mình hồi hướng để cầu pháp tính bình đẳng như thực. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 26, ngài Trừng quán nêu ra 10 loại hồi hướng, nhưng thâu tóm lại còn 3 loại: a. Bồ đề hồi hướng: Xoay nhân hướng tới quả, xoay kém hướng hơn, xoay tỉ hướng chứng. b. Chúng sinh hồi hướng: Xoay mình hướng tới người, xoay ít hướng nhiều, xoay nhân hạnh của mình hướng tới nhân hạnh của người. c. Thực tế hồi hướng: Xoay sự hướng lí, xoay hạnh sai biệt hướng hạnh viên dung. Ngoài 8 loại hồi hướng trên đây, 2 loại còn lại là: Xoay thế (việc thế tục) hướng xuất thế (cầu Phật đạo) và Xoay thuận lí sự hạnh hướng lí sở thành sự. Hai loại Hồi hướng này thông cả quả Bồ đề hồi hướng và Thực tế hồi hướng. 4. Theo thuyết của tông Tịnh độ thì có 2 loại Hồi hướng: a. Vãng tướng hồi hướng: Đem công đức của mình ở đời quá khứ và đời hiện tại hồi hướng cho chúng sinh, nguyện cùng được sinh về Tịnh độ phương tây. b. Hoàn tướng hồi hướng: Sau khi đã vãng sinh Tịnh độ, phát tâm đại bi trở lại cõi Sa bà, giáo hóa chúng sinh, cùng hướng về Phật đạo. 5. Trong An lạc tập quyển hạ, ngài Đạo xước nêu ra 6 loại hồi hướng: a. Đem các công đức do mình tu được hồi hướng đức Phật A di đà cầu sinh về Tịnh độ, để sau khi được 6 thần thông, trở lại thế gian cứu độ chúng sinh. b. Hồi nhân hướng quả. c. Hồi hạ hướng thượng. d. Hồi chậm hướng nhanh. e. Hồi hướng cho chúng sinh bi niệm hướng thiện. g. Hồi hướng dứt hết tâm phân biệt. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.8]. II. Hồi Hướng.Cũng gọi Thập hồi hướng vị. Mười giai vị tu hành của Bồ tát. (xt. Bồ Tát Giai Vị).