Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Trich-Dan-Van-Thien-Dong-Quy-Cua-Dai-Su-Vinh-Minh

Trích Dẫn Vạn Thiện Đồng Quy Của Đại Sư Vĩnh Minh
| Dịch Giả :Thượng Tọa Thích Minh Thành

Trích dẫn “Vạn thiện đồng quy” của Đại sư Vĩnh Minh

Trong kinh Quán Vô Lượng Thọ nói về chín phẩm có sự cao thấp. Tuy gồm đủ Thượng phẩm và Hạ phẩm nhưng chẳng ra ngoài hai thứ tâm:

1. Định tâm: Như tu định tập quán.
2. Chuyên tâm: Chỉ cần niệm danh hiệu Phật, thực hành mọi điều lành, hồi hướng phát nguyện.

Vẫn cần phải cả đời quy hướng, suốt kiếp tinh tu, khi nằm ngồi thường hướng về phương Tây. Mỗi khi hành đạo kính lễ và lúc niệm Phật phát nguyện, nên chí thành khẩn thiết không có ý niệm gì khác. Giống như phạm nhân khi đi đến pháp trường, như kẻ mang tội thân ở trong tù ngục. Lại giống như đang bị giặc thù bức bách, nạn nước lửa vây khốn, chỉ chuyên tâm cầu giải cứu. Nguyện cầu thoát khỏi đau khổ trong luân hồi, nhanh chóng chứng đắc Vô sinh, cứu độ khắp cả muôn loài, kế thừa và làm hưng thịnh Tam Bảo, quyết tâm báo đáp bốn ơn. Nếu có tâm chí thành như thế, tất nhiên sẽ đạt được như nguyện.

Còn như ngôn ngữ và hành động hoàn toàn không phù hợp, lòng tin yếu kém, không có tâm niệm Phật liên tục, lại có ý thường hay gián đoạn, dựa vào sự lười biếng này hy vọng lúc lâm chung được vãng sinh, chỉ e bị nghiệp chướng ngăn trở, khó gặp bạn lành, gió lửa bức bách, chánh niệm không thành tựu.

Tại sao? Vì hiện nay là nhân, lúc lâm chung là quả. Cần phải có nhân chân thật, quả mới không giả dối. Nếu muốn lâm chung thành tựu mười niệm, phải có sự chuẩn bị trước, tập hợp mọi công đức, đồng thời hồi hướng lúc lâm chung,niệm niệm không thiếu sót thì chẳng phải lo lắng điều gì.

Hỏi: “Trong luận nói, kinh hành niệm Phật và ngồi niệm công đức như thế nào?”.

Đáp: “Ví như đi thuyền ngược nước cũng gọi là đi, còn như thuận nước thì rất mau chóng. Ngồi niệm Phật một câu còntiêu diệt tội lỗi trong 80 ức kiếp, kinh hành niệm Phật công đức ấy sao có thể suy lường? Cho nên, bài kệ nói:

“Kinh hành năm trăm vòng
Niệm Phật một ngàn câu.
Thường thực hành như thế,
Tự thành Phật phương Tây”.

Nếu lễ bái thì khuất phục vô minh, vào sâu nơi mảnh đất giác ngộ, khi mạng chung vãng sinh mau chóng chứng Niết-bàn.
 
Trích từ: Niệm Phật Chỉ Nam

Từ Ngữ Phật Học
Niết Bàn
(s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃): âm dịch là Nê Hoàn (泥洹), Niết Bàn Na (涅槃那), Niết Lệ Bàn Na (涅隷槃那); ý dịch là Diệt (滅), Diệt Độ (滅度), Tịch (寂), Tịch Diệt (寂滅). Theo nguyên ngữ tiếng Sanskrit nirvāṇa, nó có nghĩa là thổi tiêu đi, cho nên nó nói lên trạng thái thổi tiêu tan lửa phiền não của Ba Độc tham sân si. Về định nghĩa của từ này, trong các Kinh A Hàm (p: Āgama, 阿含) thì có câu định hình là diệt tận tham dục, sân nhuế và ngu si. Tỷ dụ như trong Kinh Tạp A Hàm 19 (雜阿含經) có đoạn rằng: "Vân hà vi Niết Bàn ? Xá Lợi Phất ngôn: Niết Bàn giả, tham dục vĩnh tận, sân nhuế vĩnh tận, ngu si vĩnh tận, nhất thiết chư phiền não vĩnh tận, thị danh Niết Bàn (云何爲涅槃、舍利弗言、涅槃者、 貪欲永盡、瞋恚永盡、愚癡永盡、一切諸煩惱永盡、是名涅槃, Thế nào gọi là Niết Bàn ? Xá Lợi Phất bảo rằng: Niết Bàn là hết sạch tham dục, hết sạch sân nhuế, hết sạch ngu si. Đó gọi là Niết Bàn)". Đến thời kỳ bộ phái Phật Giáo thì Niết Bàn được chia thành 2 loại là Hữu Dư Niết Bàn (有餘涅槃, hay Hữu Dư Y Niết Bàn) và Vô Dư Niết Bàn (無餘涅槃, hay Vô Dư Y Niết Bàn). Hữu Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận phiền não nhưng nhục thân vẫn còn sống. Vô Dư Niết Bàn là trạng thái mà người giác ngộ đã diệt tận luôn nhục thân của mình sau khi chết. Từ quan niệm đó, sự qua đời của đức Phật được gọi là Niết Bàn hay nhập Niết Bàn, viên tịch, v.v.; cho nên kinh điển mà đức Phật thuyết trước khi nhập Niết Bàn thì được gọi là Niết Bàn Kinh (涅槃經) hay Đại Bát Niết Bàn Kinh (大般涅槃經). Trong Thành Duy Thức Luận 10 (成唯識論) lại chia Niết Bàn thành 4 loại là Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn (自性清淨涅槃), Hữu Dư Y Niết Bàn (有餘依涅 槃), Vô Dư Y Niết Bàn (無餘依涅槃) và Vô Trú Xứ Niết Bàn (無住處涅槃). Tự Tánh Thanh Tịnh Niết Bàn là chỉ về trạng thái mà tâm tánh của hết thảy chúng sanh xưa nay vốn thanh tịnh. Vô Trú Xứ Niết Bàn là cõi Niết Bàn lý tưởng của Đại Thừa, chỉ về trạng thái của chư Phật cũng như Bồ Tát chẳng trú vào sanh tử, cũng chẳng nương vào Niết Bàn, mà cho rằng sanh tử chính là Niết Bàn, với từ bi và trí tuệ đầy đủ, sống tùy duyên tự tại, nhậm vận vô tác. Tuệ Trung Thượng Sĩ (慧中上士, 1230-1291) của Việt Nam có câu: “Niết Bàn tâm tịch tịch, sanh tử hải trùng trùng, bất sinh hoàn bất diệt, vô thỉ diệc vô chung (涅槃心寂寂、生死海重重、不生還不滅、無始亦無終, Niết Bàn tâm vắng lặng, sanh tử biển trùng trùng, chẳng sanh lại chẳng diệt, không trước lại không sau).”
công đức
(功德) Phạm: Guịa. Dịch âm là Cụ nẵng, Ngu nẵng, Cầu na. Hàm ý công năng phúc đức. Cũng nói về quả báo do làm việc thiện mà được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 có chép việc vua Vũ đế nhà Lương hỏi tổ Bồ đề đạt ma như sau (Đại 51, 219 thượng): Từ ngày trẫm lên ngôi đến nay, trẫm đã làm chùa, viết kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như thế có công đức gì không? Tổ đáp: Chẳng có công đức gì cả. Bởi vì những việc thiện mà nhà vua làm đó chỉ là cái nhân hữu lậu sẽ được quả nhỏ ở cõi người, cõi trời, tuy có mà chẳng thực. Còn cái công đức chân thực thì là tịnh trí tròn sáng, thể tự vắng lặng, không cầu gì ở đời. Vãng sinh luận chú quyển thượng cũng nói rõ hai thứ công đức hư dối và chân thực. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 (Đại 44, 649 hạ), nói: Công đức - công, có nghĩa là công năng, có cái công giúp cho điều phúc lợi, cho nên gọi là Công - công ấy khiến làm được những việc tốt lành có đức, gọi là công đức. Thắng man bảo quật quyển thượng phần đầu (Đại 37, 11 trung), nói: Ác diệt sạch gọi là công, thiện tròn đầy gọi là đức. Lại đức là được - do công tu mà được, cho nên gọi là công đức. Lại nữa, sự sâu rộng của đức thí dụ như biển, gọi là biển công đức (Phạm: Guịa-sàgara) - nó quí trọng như của báu nên gọi là công đức bảo (Phạm: Guịa-ratna). Ngoài ra còn có nhiều tên gọi khác như: công đức tạng, công đức tụ, công đức trang nghiêm, công đức lâu v.v... [X. Duy ma nghĩa kí Q.1 (Tuệ viễn), Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.thượng phần 1 (Cát tạng)]. (xt. Lợi Ích).
Vô minh
無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;
Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).
Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).

Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
thiện
(善) Phạm: Kuzala. Pàli:Kusala. Chỉ cho pháp bạch tịnh(thanh tịnh), có tính an ổn, có năng lực mang lại lợi ích cho mình và người trong đời hiện tại và đời vị lai. Thiện, bất thiện và vô kí(chẳng phải thiện cũng chẳng phải bất thiện)gọi chung là Tam tính. Trong đó, Thiện là bạch pháp (nghĩa là pháp thanh tịnh), Bất thiện là hắc pháp(nghĩa là pháp nhơ nhớp). Nói theo nghĩa rộng thì Thiện chỉ cho tất cả tư tưởng hành vi tương ứng với tâm thiện, hễ hợp với giáo lí Phật giáo thì đều được gọi là Thiện; còn nói theo nghĩa hẹp thì Thiện chỉ cho 1 trong các pháp Tâm sở của tông Pháp tướng, bao gồm: Tín (tin), tàm(thẹn), quí(hổ), vô tham, vô sân, vô si, tinh tiến(gắng sức tiến lên), khinh an(nhẹ nhàng an ổn), bất phóng dật(không buông thả, lêu lổng), hành xả(xả bỏ tiền của giúp đỡ người khác) và bất hại(không làm hại người và sinh vật). Cứ theo các kinh luận thì Thiện có nhiều loại, sau đây sẽ nêu mấy thuyết: I. Nhị Thiện. 1.Chỉ cho hữu lậu thiện và vô lậu thiện. Hữu lậu thiện là bạch pháp, vô lậu thiện là tịnh pháp. Theo luận Câu xá quyển 4, Thành duy thức luận thuật kí quyển 10 và Đại thừa huyền luận quyển 2 thì hữu lậu thiện là thiện thế gian chưa đoạn trừ phiền não, bao gồm 5 giới cấm, 10 điều thiện... y theo các pháp thiện này mà tu thì có thể được quả báo vui ở vị lai. Hữu lậu thiện khác với lí pháp tính vô tướng. Hữu lậu thiện là Thiện tu theo tâm chấp tướng sai biệt giữa mình và người, cho nên cũng gọi là Tướng thiện. Vô lậu thiện thì là thiện xuất thế gian đoạn trừ phiền não, tu theo pháp thiện này thì không mang lại quả báo ở vị lai. Vô lậu thiện nàycũng làthiện đạt được Bồ đềniết bàn. 2. Chỉ cho Chỉ thiện và Hành thiện: Theo pháp giới thứ đệ sơ môn của ngài Trí khải thì chấm dứt hành vi xấu xa, tội ác gọi là Chỉ thiện, thuộc về thiện tiêu cực; trái lại, tích cực tu hành các thắng đức gọi là Hành thiện. Chỉ thiện như không giết hại, không trộm cướp, còn Hành thiện thìnhư phóng sinh, bố thí... 3. Chỉ cho Định thiện và Tán thiện: Theo Quán vô lượng thọ kinh sớ quyển đầu và Quán kinh sớ Huyền nghĩa phần của ngài Thiện đạo...thì tập trung tâmchí để ngăn dứt vọng niệm, thiện căn nhờ tâm định này mà tu được gọi là Định thiện; trái lại, thiện căn do tâm bình thường tán loạn bỏ ác mà tu được thì gọi là Tán thiện. Ngài Thiện đạo cho 13 pháp quán là Định thiện, cho 3 phúc, 9 phẩm là Tán thiện. II. Tam Thiện. 1. Chỉ cho tam phúc: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. Cũng gọi Thế thiện (Thế tục thiện), Giới thiện và Hành thiện. Theo Quán kinh sớ tự phần nghĩa của ngài Thiện đạo thì Thế phúc là chỉ cho đạo trung tín hiếu đễ, Giới phúc là chỉ cho giới pháp, còn Hành phúc là chỉ cho hạnh tự hành hóa tha của Đại thừa. 2. Chỉ cho Sơ thiện, Trung thiện và Hậu thiện. Có nhiều cách giải thích. Kinh Đại phương quảng bảo khiếp quyển trung nêu 3 loại thiện của Thanh văn, cho rằng Tam thiện hạnh thuộc thân, khẩu, ý là Sơ thiện, Tam học hạnh giới, định, tuệ là Trung thiện và Tam tam muội giải thoát pháp môn Không,Vô tướng,Vô nguyện là Hậu thiện. Lại như 3 phần(3 đoạn) là phần Tựa, phần Chính tông và phần Lưu thông của kinh Pháp hoa cũng là Tam thiện. III. Tứ Chủng Thiện. Theo luận Câu xá quyển 13 thì Tứ chủng thiện là: 1. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. 2. Tự tính thiện: Tự thể của bản chất thiện, tức chỉ cho Tam thiện căn vô tham, vô sân, vô si và tàm quí. 3. Tương ứng thiện: Chỉ tâm, tâm sở thiện tương ứng với tự tính thiện. 4. Đẳng khởi thiện: Chỉ cho thiện tương ứng với tự tính thiện mà dẫn khởi thiện của thân nghiệp, ngữ nghiệp và 4 tướng, đắc và 2 định vô tâm. Trái với Tứ chủng thiện là Tứ chủng bất thiện, tức Thắng nghĩa bất thiện, Tự tính bất thiện, Tương ứng bất thiện và Đẳng khởi bất thiện. IV. Thất Chủng Thiện. A. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 2 thì Thất chủng thiện là: 1. Sinh đắc thiện: Chỉ cho cái thiện tiên thiên. 2. Văn thiện: Chỉ cho thiện do nghe pháp mà được. 3. Tư thiện: Chỉ cho thiện do suy tư mà được. 4. Tu thiện: Chỉ cho thiện nhờ tu hành mà được. 5. Học thiện: Chỉ cho thiện sinh khởi ở bậc Hữu học. 6. Vô học thiện: Chỉ cho thiện khởilên ở bậc Vô học. 7. Thắng nghĩa thiện: Chỉ cho Niết bàn. Trong 7 loại thiện trên đây, 4 loại đầu là các loại thiện sinh khởi ở địa vị phàm phu trước Kiến đạo(địa vị mới sinh trí vô lậu), tức Hữu lậu thiện; 3 loại sau cùng là các loại thiện sinh khởi ở địa vị Thánh nhân từ Kiến đạo trở lên, tức Vô lậu thiện. B. Pháp hoa văn cú quyển 7 (hội bản) nêu 7 thứ thiện của Đốn giáo: 1. Thời thiện(cũng gọi Thời tiết thiện): Chỉ cho thiện của Tự phần, Chính tông phần và Lưu thông phần thuộc Đốn giáo. 2. Nghĩa thiện: Chỉ cho lí liễu nghĩa của Đốn giáo, là cái thiện có đầy đủ ý nghĩa sâu xa. 3. Ngữ thiện: Chỉ cho sự thuyết pháp thuộc Đốn giáo, là cái thiện có đủ ngôn ngữ xảo diệu. 4. Độc nhất thiện: Chỉ cho Đốn giáo là giáo thuần nhất không pha trộn, là không chung cho Nhị thừa. 5. Viên mãn thiện: Chỉ cho Đốn giáo là pháp bao hàm cả giới nội, giới ngoại, là giáo viên mãn hoàn toàn. 6. Điều nhu thiện: Chỉ cho Đốn giáo không cực đoan, là cái thiện không thiên lệch về một phía. 7. Vô duyêntừthiện: Chỉ cho Đốn giáo có đầy đủ tướng từ bi, thanh tịnh, vô duyên. V. Thập Nhất Thiện. Tông Duy thức Đại thừa lập ra 11 thứ tâm sở thiện, đó là: Tín, tàm, quí, vô tham, vô sân, vô si, cần, khinh an, bất phóng dật, hành xả và bất hại. VII. Thập Tam Thiện. Cứ theo luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 3 thì Thập tam thiện là: 1. Tự tính thiện: Chỉ cho 11 thứ thiện như: Tín, tàm, quí...nói trên. 2. Tương thuộc thiện: Chỉ cho các pháp tâm sở khác tương ứng với tự tính thiện. 3. Tùy trục thiện: Chỉ cho tập khí của thiện pháp. 4. Phát khởi thiện: Chỉ cho cái thiện của thân nghiệp và ngữ nghiệp. 5. Đệ nhất nghĩa thiện: Chỉ cho chân như. 6. Sinh đắc thiện: Chỉ cho thứ thiện do tư duy gia hành mà sinh khởi. 7. Phương tiện thiện: Chỉ cho thứ thiện do nghe pháp mà sinh ra tác ý như lí. 8. Hiện tiền cúng dường thiện: Chỉ cho thứ thiện cúng dường Như lai. 9. Nhiêu ích thiện: Chỉ cho loại thiện dùng pháp Tứ nhiếp làm lợi ích cho hữu tình.10. Dẫn nhiếp thiện: Chỉ cho loại thiện dị thục dùng phúc nghiệp bố thí, trì giới... để nhiếp dẫn chúng sinh sinh lên cõi trời, hoặc dùng làm nhân để được Niết bàn. 11. Đối trị thiện: Chỉ cho các loại đối trị như yếm hoại đối trị, Đoạn đối trị, trì đối trị, viễn phần đối trị... 12. Tịnh tĩnh thiện: Chỉ cho vô lậu thiện đoạn hết tất cả phiền não, được Niết bàn vắng lặng. 13. Đẳng lưu thiện: Nhờ năng lực tăng thượng tịch tĩnh mà phát khởi các pháp công đức như thần thông... Ngoài ra, thiện căn mà hàng phàm phu tu được có lẫn lộn cái độc chất của phiền não tham, sân, si... cho nên gọi là Tạp độc thiện. Còn tông Tịnh độ thì ngoài loại thiện niệm Phật tha lực ra, tất cả thiện căn tự lực khác đều gọi là Tạp độc thiện. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; phẩm Tựa kinh Pháp hoa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.51, 44; luận Thành duy thức Q.5, 10; luận Phẩm loại túc Q.6; luận Đại trí độ Q.37; luận A tì đàm cam lộ vị Q.thượng; luận Tạp a tì đàm tâm Q.3; luận Câu xá Q.15; luận Thuận chính lí Q.36; luận Nhiếp đại thừa Q.13 (bản dịch đời Lương); Bồ tát giới nghĩa sớ Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.7].
Vãng sanh
(徃生): sau khi mạng chung sanh vào thế giới khác; thông thường từ này được dùng thay thế cho từ “chết”. Nếu nói về nghĩa rộng, vãng sanh có nghĩa là thọ sanh vào Ba Cõi, Sáu Đường cũng như Tịnh Độ của chư Phật; nhưng sau khi thuyết Di Đà Tịnh Độ (彌陀淨土) trở nên thịnh hành, từ này chủ yếu ám chỉ thọ sanh về thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Vãng sanh được chia làm 3 loại:
(1) Cực Lạc Vãng Sanh (極樂徃生), căn cứ vào thuyết của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經); tức là xa lìa thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), đi về cõi Cực Lạc Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà ở phương Tây, hóa sanh trong hoa sen của cõi đó.
(2) Thập Phương Vãng Sanh (十方徃生), căn cứ vào thuyết của Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh (十方隨願徃生經), tức vãng sanh về các cõi Tịnh Độ khác ngoài thế giới của đức Phật A Di Đà.
(3) Đâu Suất Vãng Sanh (兜率徃生), y cứ vào thuyết của Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經) cũng như Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經); có nghĩa rằng Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) hiện đang trú tại Nội Viện Đâu Suất (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率), đến 16 ức 7 ngàn vạn năm sau, Ngài sẽ giáng sanh xuống cõi Ta Bà để hóa độ chúng sanh. Người tu pháp môn này sẽ được vãng sanh về cung trời Đâu Suất, tương lai sẽ cùng Bồ Tát Di Lặc xuống thế giới Ta Bà. Phần nhiều hành giả Pháp Tướng Tông (法相宗) đều tu theo pháp môn này.
Ngoài ra, còn có các tín ngưỡng vãng sanh khác như người phụng thờ đức Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) thì sẽ được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) của Ngài; người phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) thì được vãng sanh về cõi Bổ Đà Lạc Ca (s: Potalaka, 補陀洛迦); người tín phụng đức Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦) thì được sanh về Linh Thứu Sơn (靈鷲山); người tín phụng Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) thì được vãng sanh về Hoa Tạng Giới (華藏界); tuy nhiên, các tín ngưỡng này rất ít, nên vẫn chưa hình thành tư trào. Như đã nêu trên, Cực Lạc Vãng Sanh và Đâu Suất Vãng Sanh là hai dòng tư tưởng chủ lưu của Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, v.v. Đối với Tam Luân Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông, v.v., Cực Lạc Vãng Sanh là phương pháp tự lực thành đạo. Riêng đối với Tịnh Độ Tông, tư tưởng này nương vào sự cứu độ của đức giáo chủ Di Đà làm con đường thành Phật, nên được gọi là Tha Lực Tín Ngưỡng. Còn Đâu Suất Vãng Sanh là tư tưởng thích hợp đối với Pháp Tướng Tông, được xem như là pháp môn phương tiện tu đạo. Tại Nhật Bản, trong Tây Sơn Tịnh Độ Tông (西山淨土宗) có lưu hành 2 thuyết về vãng sanh là Tức Tiện Vãng Sanh (卽便徃生) và Đương Đắc Vãng Sanh (當得徃生). Tịnh Độ Chơn Tông thì chủ trương thuyết Hóa Sanh (化生) vãng sanh về Chân Thật Báo Độ (眞實報土), và Thai Sanh (胎生) vãng sanh về Phương Tiện Hóa Độ (方便化土), v.v. Một số tác phẩm của Trung Quốc về tư tưởng vãng sanh như An Lạc Tập (安樂集, 2 quyển) của Đạo Xước (道綽, 562-645) nhà Đường, Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註, còn gọi là Tịnh Độ Luận Chú [淨土論註], 2 quyển) của Đàm Loan (曇鸞, 476-?) thời Bắc Ngụy, v.v. Về phía Nhật Bản, cũng có khá nhiều thư tịch liên quan đến tư tưởng này như Vãng Sanh Thập Nhân (徃生拾因, 1 quyển) của Vĩnh Quán (永觀); Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) của Nguyên Tín (源信); Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký (日本徃生極樂記) của Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤); Tục Bản Triều Vãng Sanh Truyện (續本朝徃生傳) của Đại Giang Khuông Phòng (大江匡房); Thập Di Vãng Sanh Truyện (拾遺徃生傳), Hậu Thập Di Vãng Sanh Truyện (後拾遺徃生傳) của Tam Thiện Vi Khang (三善爲康); Tam Ngoại Vãng Sanh Truyện (三外徃生傳) của Liên Thiền (蓮禪); Bản Triều Tân Tu Vãng Sanh Truyện (本朝新修徃生傳) của Đằng Nguyên Tông Hữu (藤原宗友); Cao Dã Sơn Vãng Sanh Truyện (高野山徃生傳) của Như Tịch (如寂), v.v. Thần chú trì tụng để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (拔一切業障根本得生淨土陀羅尼), còn gọi là Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言) hay Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú (徃生淨土神呪). Trong Tịnh Độ Chứng Tâm Tập (淨土證心集) của Vạn Liên Pháp Sư (卍蓮法師) nhà Thanh có câu: “Tam Giáo đồng nguyên, thống Nho Thích Đạo, câu kham niệm Phật, nhất tâm quy mạng, cụ Tín Nguyện Hạnh, tận khả vãng sanh (三敎同源、統儒釋道、俱堪念佛、一心歸命、具信願行、盡可徃生, Ba Giáo cùng gốc, cả Nho Thích Đạo, đều chung Niệm Phật; một lòng quy mạng, đủ Tín Nguyện Hạnh, thảy được vãng sanh).”
tam bảo
(三寶) Phạm: Tri-ratna hoặc Ratna-traya. Pàli: Ti-ratana hoặc Ratanattaya. Cũng gọi Tam tôn. Chỉ cho 3 ngôi báu: Phật bảo, Pháp bảo, Tăng bảo được tín đồ Phật giáo tôn kính, cúng dường. Phật (Phạm:Buddha) là bậc đã giác ngộ, có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, là Giáo chủ của Phật giáo, hoặc chỉ chung cho hết thảy chư Phật; Pháp (Phạm: Dharma) là giáo pháp của đức Phật; Tăng (Phạm: Saôgha) là tăng đoàn đệ tử của Phật tu học theo giáo pháp. Ba ngôi trên có uy đức cao tột, có năng lực mang lại giải thoát, yên vui cho hết thảy chúng sinh, như của báu thế gian, nên gọi là Tam bảo. Theo luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính quyển 2 thì Tam bảo có 6 nghĩa: 1. Hi hữu: Ba ngôi báu này trải qua trăm nghìn muôn kiếp mới có, cũng như vật trân bảo ở thế gian rất khó có được. 2. Minh tịnh: Ba ngôi báu này xa lìa tất cả pháp hữu lậu, trong sạch sáng suốt. 3. Thế lực: Ba ngôi báu này có đầy đủ uy đức tự tại không thể nghĩ bàn. 4. Trang nghiêm: Ba ngôi báu này có năng lực trang nghiêm xuất thế gian, giống như của báu ở thế gian có thể làm đẹp thế gian.5. Tối thắng: Ba ngôi báu này thù thắng mầu nhiệm hơn hết trong các pháp xuất thế gian. 6. Bất biến: Ba ngôi báu này là pháp vô lậu, tám pháp của thế gian không thể làm cho lay động, biến đổi. Đại thừa nghĩa chương quyển 6, phần đầu thì nêu 4 nghĩa thiết lập Tam bảo: 1. Vì đối trị tà tam bảo của ngoại đạo, đó là nghĩa bỏ tà về chính. 2. Phật là bậc Điều ngự sư, Pháp là giáo pháp của Phật, Tăng là đồ đệ của Phật. Chỗ chứng ngộ của 3 ngôi báu này là vô lượng, nhưng chủng loại giống nhau, cho nên lập chung là 1 pháp. Nhưng, vì nhân quả chứng ngộ có khác nhau nên chia ra thầy và trò. 3. Vì người thượng căn muốn chứng được quả Phật bồ đề mà nói Phật bảo; vì người trung căn cầu được trí tự nhiên để rõ suốt pháp nhân duyên mà nói Pháp bảo; vì người hạ căn nương theo thầy lãnh nhận giáo pháp, sự lí không trái mà nói Tăng bảo.4. Phật như thầy thuốc giỏi, Pháp như thuốc hay, Tăng như người khám bệnh; đối với 1 người đang có bệnh mà nói thì thầy thuốc giỏi, phương thuốc hay và người xem bệnh đều rất cần thiết, không thể thiếu một. Còn luận Du già sư địa quyển 64 thì nói Tam bảo có 6 nghĩa khác nhau: 1. Tướng khác nhau: Phật là tướng của sự giác ngộ tự nhiên, Pháp là quả tướng của sự giác ngộ, Tăng là tướng tu hành chân chính theo lời Phật chỉ dạy. 2. Việc làm khác nhau: Việc làm của Phật là giảng nói giáo pháp chân chính, việc của Pháp là diệt trừ các khổ phiền não do cảnh sở duyên tạo ra, việc của Tăng là dũng mãnh tinh tiến. 3. Tin hiểu khác nhau: Đối với Phật bảo phải có lòng tin hiểu gần gũi, phụng sự; đối với Pháp bảo phải có lòng tin mong cầu chứng ngộ; đối với Tăng bảo phải có lòng tin hiểu hòa hợp đồng nhất, cùng an trú trong pháp tính. 4. Tu hành khác nhau: Đối với Phật bảo phải tu hành chân chính, phụng thờ; đối với Pháp bảo phải tu chính hạnh phương tiện du già; đối với Tăng bảo phải tu chính hạnh cùng thụ tài pháp. 5. Tùy niệm khác nhau: Mỗi người nên tùy theo các tướng mà niệm Phật, Pháp và Tăng bảo. 6. Sinh phúc khác nhau: Đối với Phật y vào 1 hữu tình mà sinh phúc tối thắng; đối với Pháp y vào pháp này mà sinh phúc tối thắng; đối với Tăng y vào nhiều hữu tình mà sinh phúc tối thắng. Cứ theo các luận thì Tam bảo có nhiều chủng loại, phổ thông có 3 thứ: 1. Biệt tướng tam bảo(cũng gọi Giai thê tam bảo, Biệt thể tam bảo): Phật, Pháp, Tăng, mỗi mỗi đều khác nhau. Đầu tiên, Phật thành đạo ở gốc cây Bồ đề, chỉ thị hiện thân trượng sáu và khi nói kinh Hoa nghiêm thì đặc biệt hiện thân Phật Lô xá na, cho nên gọi là Phật bảo. Các kinh luật Đại thừa, Tiểu thừa do đức Phật nói trong 5 thời, gọi là Pháp bảo. Hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát nhờ tu theo giáo pháp của Phật mà chứng được quả giác ngộ, giải thoát gọi là Tăng bảo. 2. Nhất thể tam bảo(cũng gọi Đồng thể tam bảo, Đồng tướng tam bảo): Đứng về phương diện ý nghĩa và bản chất mà nói, Phật Pháp, Tăng có 3 tên gọi khác nhau nhưng thể tính chỉ là một. Chẳng hạn như đứng trên lập trường của người giác ngộ mà nói thì Phật là thể tính linh giác, soi rõ các pháp, chẳng phải không, chẳng phải có nên gọi là Phật bảo; chỉ Phật mới có đầy đủ đức hạnh làm khuôn phép cho tất cả chúng sinh, cũng tức là pháp tính vắng lặng mà có hằng sa tính đức, đều đáng làm khuôn mẫu, cho nên cũng gọi là Pháp bảo; lại như Phật là trạng thái hòa hợp, hoàn toàn không tranh đua, mà đặc chất của Tăng đoàn là hòa hợp không tranh đua, vì thế cũng gọi là Tăng bảo. Như vậy thì trong một Phật bảo mà có đủ cả Tam bảo. 3. Trụ trì tam bảo: Chỉ cho Tam bảo lưu truyền, duy trì Phật pháp ở đời sau, tức là 3 ngôi báu: Tượng Phật, kinh Phật và các tỉ khưu xuất gia. Đại thừa cho rằng 8 tướng thành đạo là Trụ trì Phật, tất cả giáo pháp làm lợi ích cho thế gian gọi là Trụ trì pháp và chúng Tam thừa được giáo hóa, thành lập là Trụ trì tăng. Ba ngôi báu này gọi chung là Trụ trì tam bảo. Ngoài ra còn có các thuyết 4 loại Tam bảo (Nhất thể Tam bảo, Duyên lí Tam bảo, Hóa tướng Tam bảo, Trụ trì Tam bảo), 6 loại Tam bảo (Đồng thể, Biệt thể, Nhất thừa, Tam thừa, Chân thực và Trụ trì)... Về tiêu biểu của Tam bảo thì Trung quốc và Nhật bản từ xưa đến nay tương đối ít dùng phù hiệu hay hình vẽ để tượng trưng Tam bảo, nhưng ở Ấn độ thì việc sử dụng phù hiệu hoặc hình vẽ để biểu thị Tam bảo tương đối phổ biến. Có 2 loại biểu hiện khác nhau: 1. Dùng hình tháp tượng trưng Phật bảo, bánh xe tượng trưng Pháp bảo và tòa Bồ đề hoặc tòa Sư tử tượng trưng Tăng bảo. 2. Vẽ hình dáng cây kích 3 chĩa để tượng trưng Tam bảo. Còn Phật giáo Tây tạng thì dùng hạt bảo châu có 3 cánh để tượng trưng Tam bảo.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.12; kinh Quá khứ hiện tại nhân quả Q.3; kinh Quán Vô lượng thọ; kinh Hoa nghiêm Q.18 (bản dịch mới); phẩm Cụ túc trong luận Thành thực Q.1; luận Tạp a tì đàm tâm Q.10; luận Đại tì bà sa Q.34; luận Câu xá Q.14; Đại thừa nghĩa chương Q.10]. (xt. Tam Qui Y, Tam Bảo Chương, Tứ Chủng Tam bảo).