Giáo lý thâm sâu trong Đại tạng cũng như đồ vật chứa hư không.  Hư không thì không có hình tướng mà đồ vật lại có hình dáng vuông, tròn.  Khi trừ bỏ đồ vật rồi, thì hư  không không còn bị giới hạn trong đồ vật nữa.  Khi nhân duyên hết, thì giáo pháp cũng tiêu vong.  Cho nên, Như Lai tùy duyên ứng hiện khắp nơi rồi cũng thể nhập chân như, niết bàn như đồ vật kia.  Chuyên trì danh tướng thì xứng hợp với trí tự tại như hư không.

Thuốc không có bài thuốc cố định, chỉ cho thuốc theo từng căn bệnh.  Đâu có thể nói rằng mạt ngọc, san hô là thuốc vô cùng tuyệt diệu có thể điều trị bốn trăm lẻ bốn chứng bệnh.  Thuốc trị hết bệnh là loại thuốc quý thì nước tiểu tức là đề hồ (thuốc hay).  Còn đối với những chứng bệnh khác nhau mà chỉ dùng một loại thuốc thì phục linh, nhân sâm cũng trở thành độc dược; huống chi thuốc của y sĩ bậc nhất điều trị cho bậc tam thừa xuất thế gian, và chữa trị những bệnh ung nhọt cho phàm phu, người, trời, thanh văn v.v… Vì vậy, đứng về phương diện giáo nghĩa, tiên đức hoặc nói một, hoặc nói nhiều.  Danh tướng tuy có muôn vàn khác biệt nhưng lý thú chỉ có một mà thôi.  Tôi không ngại sự hiểu biết giới hạn ở tôi, dựa vào lời của các nhà hiền triết thời xưa, phân biệt các câu để làm sáng tỏ nghĩa lý nhất thừa, để khiến cho người xem qua biết được pháp môn Tịnh Độ bao hàm cả giáo pháp mà Thích Tôn đã tuyên thuyết trong một đời.  Chớ để bị mê hoặc bởi những người chỉ biết qua loa về Thiền tông mà lại khinh khi giáo nghĩa.

1/ Giáo giả có.
2/ Giáo hướng về chỗ vắng lặng.
3/ Giáo hữu dư.
4/ Giáo vô dư
5/ Giáo đốn ngộ.
6/ Giáo viên cực.

1/ Giáo giả có

Kẻ phàm phu đam mê, đắm chìm trong biển cả ái dục rồi tạo đủ thứ nghiệp dữ.  Như Lai thương xót, chỉ bày những nỗi khổ trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, và nỗi khổ của chúng sinh không có phước đức, chấp chặt vào cái ta và những gì thuộc về cái ta.  Muốn sinh trong cõi trời, cõi người, chúng sinh nên tu tập căn lành như mới thành đạo, Phật vì Đề Vị mà tuyên thuyết nguyên lý nhân quả thế gian.  Khi đó có năm trăm người lái buôn cùng thọ năm giới.  Trước tiên, họ sám hối những tội lỗi như tội ngũ nghịch, thập ác, tội khinh chê pháp … Đây là giáo giả có.  Quán kinh chỉ dạy tu tập ba điều phước:

1/ Hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng
2/ Tâm từ bi không sát sinh.
3/ Tu tập mười nghiệp lành.

Kinh Vô Lượng Thọ hết sức răn nhắc về nỗi khổ do tạo năm điều dữ mà hiện đời bị chính quyền trừng trị, thân bị tai nạn khốn cùng; đời sau chịu quả báo trong ba đường dữ.  Kinh dạy mọi người tu tập năm điều lành cũng bao hàm nghĩa này.  Nhưng mà, kinh này chỉ dạy chúng sinh ngăn dứt các điều dữ vì cầu vãng sinh, chứ không phải vì ưa thích quả nhỏ của người, trời.  Việc tu tập tuy giống nhau nhưng sự chứng quả có thiên sai vạn biệt.  Kinh Lăng nghiêm, kinh Hoa nghiêm và các kinh Phương đẳng tuy không nói riêng nhưng vẫn bao hàm nghĩa này, không nên cho đó là giáo giả có.  Quán kinh sao ghi: “Hành giả tu tập bên giáo viên đốn đâu có trái nghịch với đường lối của các vị xuất gia bên tiểu thừa, cũng đâu có trái nghịch với tam qui, giới luật, các oai nghi v.v…”.  Lại nói: ”Người mới đến giai vị trước thì không đạt được các giai vị sau, người đến được giai vị sau thì đã đạt được các giai vị trước”.  Tại sao vậy? Vì tất cả đức Phật đều từ mười điều lành mà được giải thoát.  Kinh Hoa nghiêm ghi: “Mười điều chẳng lành là nguyên nhân tái sinh trong cõi địa ngục, súc sinh, ngạ quỷ, còn mười điều lành chính là nguyên nhân tái sinh trong cõi người, cõi trời cho đến cõi trời Hữu Đảnh”.

– Đối với mười điều lành thượng phẩm này, hành giả vận dụng trí tuệ để tu tập, do tâm lượng hẹp hòi, do sợ hãi nỗi khổ trong ba cõi, do thiếu tâm đại bi, do nghe lời dạy từ người khác mà tỏ ngộ nên thành bậc thanh văn thừa.

– Đối với mười điều lành thượng phẩm này, hành giả do tu tập thanh tịnh, không do người khác chỉ dạy, do tự mình giác ngộ, do phương tiện đại bi không đầy đủ, do giải ngộ thâm sâu pháp nhân duyên nên thành bậc độc giác thừa.

– Đối với mười điều lành thượng phẩm này, hành giả do tu tập thanh tịnh, do tâm rộng lớn vô lượng, do đầy đủ lòng thương xót, do phương tiện tiếp nhận, do phát nguyện rộng lớn, do không bỏ rơi chúng sinh, do mong cầu trí tuệ thâm sâu, rộng lớn như đức Phật, do tu tập thanh tịnh các địa của bồ tát , do tu tập thanh tịnh tất cả các độ nên thành tựu hạnh rộng lớn của bồ tát.

– Đối với mười điều lành thượng phẩm này, hành giả do tất cả các thứ thanh tịnh cho đến chứng nhập mười lực, vô úy nên tất cả Phật pháp đều thành tựu.

Vì vậy, hôm nay, chúng ta tu tập mười điều lành khiến cho tất cả chúng sinh đều được thanh tịnh viên mãn cho đến bồ tát tích lũy căn lành, thành tựu căn lành, thêm lớn căn lành, suy xét căn lành, buộc niệm căn lành, phân biệt căn lành, ưa thích căn lành, tu tập căn lành, an trụ căn lành.  Vị đại bồ tát đã tích lũy các căn lành như thế, vận dụng kết quả mà căn lành này thành tựu để tu hạnh bồ tát.  Ở trong mỗi niệm thấy vô lượng Phật, theo sự ứng hiện của các Ngài để thừa sự cúng dường.  Lại nói: “Dù không có làm gì hết nhưng thường an trụ căn lành.  Dù biết các pháp không có chỗ nương tựa nhưng nói được giải thoát do dựa vào pháp lành”.  Kính khuyên các vị tỏ ngộ chớ khinh thường giới luật, chớ tham đắm hư danh, hãy mạnh dạn xét rõ lời răn ngài Vĩnh Gia về tai hại của sự chấp không mà sớm tìm bạn bất thỉnh trong Bạch Liên xã thì Liên Bang không cách xa.  Xin hãy cố gắng!

2/ Giáo hướng về chỗ vắng lặng

Giáo hướng về chỗ vắng lặng tức là giáo tịch diệt của nhị thừa hướng về niết bàn.  Đối với sự lợi tha của pháp môn Tịnh Độ, nhị thừa không ưa thích.  Đó là sự khác biệt giữa giáo lý tiểu thừa với Tịnh Độ đại thừa.  Bây giờ nói về phần tiếp nhận:

Kinh Vô Lượng Thọ và Quán kinh đều có nói đến quả tu đà hoàn cho đến quả a la hán.  Tiên đức nói rằng: “Hàng tiểu thừa không sinh về Tịnh Độ, vì căn cứ vào tánh quyết định”.  Ở đây nói nhị thừa được sinh về Tịnh Độ, vì ở thế gian, trước tiên, những người này phát tâm đại thừa huân tập thành hạt giống .  Về sau, tâm lui sụt xuống địa vị thấp.  Thế nhưng, đến khi lâm chung, họ chuyển tâm tiểu thừa để hướng về đại thừa.

Hỏi: Đã chuyển tâm hướng về đại thừa, tại sao họ sinh về cõi nước  kia lại chứng quả vị nhỏ?

Đáp: Vì tâm đại thừa của họ lui sụt đã lâu mà công phu huân tập bên tiểu thừa lại thâm sâu.  Cho nên, vì thích hợp với thói quen, Phật A Di Đà nói pháp tiểu thừa khiến cho họ chứng đắc quả vị.  Về việc chứng đắc quả vị nhỏ này, họ không mắc kẹt vào quả vị nhỏ mà khởi tâm rộng lớn.  Vì vậy, sự chứng quả càng mau chóng, hoặc năm kiếp, hoặc mười kiếp chứng đắc sơ quả.  Tiến trình tu tập như thế thật là thù thắng, cho nên có sự bất đồng.  Trong kinh này cũng có nói đến vua Tần Bà Sa La chứng quả a na hàm, nhưng không phải là căn cơ được tiếp nhận chính yếu của giáo này.  Bây giờ, Phật dạy Vi Đề Hy mười sáu phép quán về Tịnh Độ còn không phải thông giáo, biệt giáo, chẳng lẽ là tiểu thừa sao?  Phật Thích Ca Văn ra đời cũng có thanh văn nhưng rốt cuộc hướng về đại thừa.  Đây chính là xe dê, xe nai, v.v… chứ không phải xe thật.

3/ Giáo hữu dư

Bậc thấu suốt chân lý nhị không, tu tập vạn hạnh để hướng về quả Phật của đại thừa thì không chấp nhận xiển đề, nhị thừa thành Phật vì cho rằng xiển đề không có Phật tánh, nhị thừa có tánh quyết định.  Nếu  nói như thế thì chưa thông suốt chân lý của đại thừa, cho nên gọi là hữu dư.  Kinh này nói rằng: “Trừ những kẻ tạo tội ngũ nghịch thì không sinh về Tịnh Độ”.  Lại nói rằng: “Nhị thừa cũng không sinh về Tịnh Độ”, nghĩa lý của giáo này ở trên đã giải thích rồi.

Kinh nói những kẻ tạo tội ngũ nghịch không được sinh về Tịnh Độ vì khinh chê pháp, vì không tin tưởng, vì tánh quyết định nên không thể nào thành tựu.  Quán kinh ghi:  “Người phá giới, đến khi lâm chung, thấy các tướng dữ.  Người này nghe thiện tri thức tán dương công đức của Phật nên địa ngục, lửa dữ biến thành gió mát cho đến kẻ tạo tội ngũ nghịch, thập ác niệm danh hiệu Phật đầy đủ mười niệm thì thấy hoa sen vàng giống như vầng mặt trời, trong khoảng giây phút liền được vãng sinh”.  Đây là do công đức không thể nghĩ bàn của tự tánh, và cũng do nương tựa năng lực Phật không thể nghĩ bàn mà thành tựu.  Nếu không có Phật tánh viên mãn thì như hòn đá cứng ngắc, như nước vẩn đục, vầng trăng làm sao có thể soi bóng?  Sự niệm Phật vãng sinh có khả năng hiển bày tự tánh như vậy.  Đó là do năng lực của tự tánh, như mặt trời có thể chiếu sáng khắp hư không chứ hư không chẳng phải là nhân của mặt trời.  Tất cả chúng sinh đều thành Phật.  Vì vậy, giáo Tịnh Độ viên đốn này không đồng với giáo hữu dư của đại thừa thỉ giáo.

4/ Giáo vô dư

Tự tánh của tất cả chúng sinh thì bình đẳng, đều sẽ thành Phật.  Đó là giáo cực tắc của đại thừa; chỉ một tự tâm là thể của giáo, cho nên nói vô dư.  Nay pháp môn Tịnh Độ này dựa vào pháp chánh tín, nguyện v.v… nhưng đến chỗ cứu cánh chỉ trở về nhất tâm mà thôi. Kinh ghi: “Nhật tâm bất loạn liền được vãng sinh”.  Lại nữa, kinh Vô Lượng Thọ nói ba tầng lớp  người được  vãng sinh đều do phát tâm bồ đề vô thượng.  Tâm bồ đề tức là Phật tánh.  Kinh Hoa nghiêm ghi: “Tâm bồ đề như hạt giống có khả năng sinh tất cả pháp của các đức Phật.  Tâm bồ đề như mảnh ruộng tốt có thể tăng trưởng pháp lành thanh tịnh.  Tâm bồ đề như đất đai có thể dung chứa tất cả thế gian. Tâm bồ đề như nước sạch có thể gội rửa tất cả phiền não bợn nhơ. Tâm bồ đề như ngọn gió lớn thổi khắp cả thế gian mà không trở ngại.  Tâm bồ đề như ngọn lửa bừng cháy có thể thiêu đốt tất cả củi kiến chấp”.  Những điều ấy được nói rộng trong kinh Hoa nghiêm. Nên biết, tâm bồ đề là loại thuốc nổ nhạy nhất trong nòng súng đại bác, còn niệm Phật là ngòi nổ.  Kinh Hoa nghiêm ghi: “Khi mới phát tâm liền thành chánh giác” tức là nghĩa này.  Trong năm giai vị tu chứng của bồ tát, gia hạnh vị chỉ là ngòi thuốc nổ.  Vô lượng hạnh tuyệt diệu đâu có pháp môn nào khác hơn pháp Nhất hạnh tam muội này.

5/ Giáo đốn ngộ

Hoa nghiêm hiệp luận của trưởng giả Lý Thông Huyền nói rằng: “Chỉ một niệm không sinh tức là Phật, không cần bàn luận theo địa vị, thứ lớp, nên gọi là đốn giáo”.  Kinh Tư ích ghi: “Nếu tỏ ngộ được tánh của các pháp thì không cần trải qua từ địa vị này đến địa vị khác”.  Kinh Lăng già ghi: “Thập địa tức là sơ địa, sơ địa tức là bát địa cho đến không có thứ lớp nào cả”.  Nên biết, đốn ngộ nghĩa là không trải qua các giai vị. Quán kinh sớ của tông Thiên Thai ghi: “Đốn ngộ rồi thì dần dần thể nhập.  Đó là đốn giáo, như Vi Đề Hy và các thị nữ đều là phàm phu, chưa chứng nhập quả nhỏ.  Vì thế, nên biết, đốn này không theo tiệm mà vào”.  Và giải thích thêm rằng “Hiện nay, đốn của kinh này chính là hóa pháp, lấy viên làm đốn.  Tại sao vậy?  Vì biệt giáo ở sơ địa, viên giáo ở sơ trụ, người phàm phu thuộc biệt giáo tu tập trải qua vô số kiếp mới đến địa vị vô sinh pháp nhẫn; chỉ có viên giáo ngay đời này có thể chứng nhập, như Vi Đề Hy ngay thân đời này chứng nhập vô sinh pháp nhẫn.  Phán giáo là đốn thuộc về viên đốn”.  Kinh khác nói: “Người phàm phu từ khi mới thọ giới bồ tát và đời nào cũng giữ giới hạnh không khuyết phạm, trải qua một kiếp, hai kiếp, ba kiếp mới đến địa vị sơ phát tâm trụ, và tiếp tục tu tập  mười ba la mật với vô lượng hạnh nguyện,…nối nhau không ngừng, đủ một vạn kiếp đến đệ lục chánh tâm trụ.  Từ đây tu tập tiến thêm nữa mới đến đệ thất bất thoái trụ.  Nay kinh này nói: “Kẻ phàm phu tạo tội ngũ nghịch, thập ác mà trì danh hiệu Phật liền được vãng sinh, bước lên địa vị bất thoái” chính là phù hợp với nghĩa đốn .  Quán kinh ghi: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.  Lời nói ấy chỉ thẳng Tâm tông không có quanh co.  Hơn nữa, một tiếng A Di Đà quét sạch cả thị phi.  Thẳng tắt biết bao!  Người xưa nói rằng: “Một câu niệm Phật là công án bậc nhất trong các công án”.  Dưới đáy của vạc nước sôi sùng sục thì đâu thể chứa giá băng!  Ở trong đống lửa cháy hừng hực thì đâu thể dung một ngọn cỏ!  Dù cho Đạt Ma có sống lại nhưng mà không dễ gì làm lay chuyển được lời nói của tôi.  Còn nếu như cứ ngập ngừng, do dự thì trễ muộn cả muôn  dặm, ngàn năm.

6/ Giáo viên cực

Từ Ân Thông Tán nói: “Phương này, các bậc tiên đức đều phán quyết kinh, luận có bốn tông:

1/ Lập tánh.
2/ Phá tánh.
3/ Phá tướng.
4/ Hiển thật.

Kinh Niết bàn, kinh Pháp hoa, kinh Hoa nghiêm, … đã làm sáng tỏ nghĩa thật tướng trung đạo: xả bỏ hóa thành để trở về bảo sở.  Cho nên, kinh A Di Đà chính là tông Hiển thật.  Lại nữa, nếu lấy giáo để làm khuôn vàng thước ngọc cho tông thì tông có tám thứ:

1/ Ngã , pháp đều có.
2/ Có pháp, không ngã.
3/ Pháp không tới, lui.
4/ Hiện thông giả thật.
5/ Tục vọng chân thật.
6/ Các pháp chỉ là giả danh.
7/ Thắng nghĩa đều không.
8/ Ứng lý viên thật.

Kinh Hoa nghiêm , kinh A Di Đà là tông thứ tám. Thiền sư Chơn Yết Liễu v.v… lấy lưới báu có ngàn hạt châu của trời Đế Thích để phát minh nghĩa viên dung của Tịnh Độ.  Các sách đều có ghi đầy đủ nghĩa này.  Gần đây, các bậc lão túc lấy kinh Hoa nghiêm phối hợp với kinh A Di Đà, cho rằng viên giáo bao hàm hoàn toàn kinh A Di Đà, còn kinh A Di Đà chỉ bao hàm được một phần của viên giáo.  Căn cứ vào kinh để phán quyết nghĩa thì rất đúng tông chỉ.  Thế nhưng, nghĩa viên cực không phải toàn phần mà cũng không phải từng phần, như đêm rằm trăng chiếu vằng vặc xuống vô số dòng sông thì dòng sông nào cũng đều có bóng trăng cho đến cái bình chứa nước ao hồ, một giọt nước cũng đại loại như vậy, vì trăng không có phân biệt; như gió thổi vi vút qua các hàng cây thì thân cây nào cũng đều thấm nhuần gió mát cho đến lá cây, ngọn cỏ cũng đại loại như vậy, vì gió không có phân biệt.  Nếu trong viên có từng phần thì viên có từng đoạn rời rạc.  Nếu trong viên có từng phần, chẳng phải toàn phần, thì viên không còn trùm khắp nữa.  Vì vậy, từng phần, toàn phần đối chọi nhau thì nghĩa viên không đứng vững được.

Bây giờ đứng về phương diện viên cực của Liên tông chia ra năm nghĩa:

1/ Mười phương thế giới dung chứa lẫn nhau.
2/ Một thời trong ba thời.
3/ Vô tình làm Phật.
4/ Y báo, chánh báo đều vô ngại.
5/ Trùm khắp chẳng động.

1/ Mười phương thế giới dung chứa lẫn nhau

Cõi nước, báo thân, hóa thân của tất cả các đức Phật đều dung nhiếp vào lẫn nhau.  Cái này vào cái kia, cái kia vào cái này, chứ không có chướng ngại gì.  Nếu cho rằng không thể vào nhau được thì đây chính là cái tri kiến sai lầm, không thật như một căn nhà choáng một khoảng hư không, trong đó các loại hoặc người, hoặc quỷ, hoặc súc vật, hoặc côn trùng, hoặc ghế, hoặc bình, hoặc giá, … đều dựa vào hư  không để tồn tại.  Khi hư không thuộc về người thì quỷ, súc vật, côn trùng, ghế, bình, giá,… dựa vào hư không đều thuộc về người thuộc về người, cho đến hư không thuộc về giá thì người, quỷ, súc vật, côn trùng, ghế, bình, … dựa vào hư không đều thuộc về giá.  Tất cả đều vào nhau mà không lẫn lộn, lìa mà không tách rời , chẳng vào nhau mà cũng không phải chẳng vào nhau.  Kinh ghi: “Ánh sáng trong cõi nước thì thanh tịnh, trùm khắp vô cùng tận, chiếu suốt vô lượng, vô số thế giới không thể nghĩ bàn, như gương sáng thì hiện muôn hình vạn trạng”.  Nên biết, ánh sáng của uế độ, tịnh độ đan xen vào nhau như ngàn ngọn đèn rực sáng trong một căn phòng.

2/ Một thời trong ba thời    

Tri kiến sai lầm của chúng sinh chấp có ba thời gian: quá khứ,hiện tại, vị lai.  Đứng về phương diện thật tướng thì thể của thời gian không có bản chất chân thật.  Tại sao vậy?  Nếu chấp sáng, tối là thời gian thì sáng, tối là tướng của nghiệp, như nguời bệnh mắt thấy có bóng lòa, chứ bóng lòa không phải là tướng cố định.  Nếu chấp tuổi già, tuổi trẻ là thời gian thì thật ra, bản chất của già, trẻ là hư huyễn như gió ở trong cái lưới rách, chứ không phải là bản chất cố định.  Làm sao ở trong thời gian này có nghĩa chân thật được!  Bây giờ đứng về phương diện hai nghĩa: thời gian dài, thời gian ngắn vào nhau để nói về thể của thời gian.

a/ Trong thời gian ngắn có thời gian dài

Như người chìm trong giấc ngủ thấy rõ ràng những thành phố, thị trấn, thôn xóm, những người quen biết trước kia và những chuyện buồn , vui trải qua thời gian nhiều tháng, nhiều năm.  Khi giật mình tỉnh dậy, anh ta liền hỏi kẻ hầu cận:

– Thời gian mà tôi ngủ say là bao lâu?

Kẻ hầu cận đáp:

– Thời gian mà Ngài ngủ say bằng thời gian đếm vài ngàn đồng tiền.

Người kia tự suy nghĩ: “Ta ngủ chẳng bao lâu, tại sao trải qua những trạng thái khác thường như vậy?  Không phải do bệnh mà cũng không phải do ngủ say.  Rõ ràng là do ký ức” , suy nghĩ mãi về nghĩa này mới vỡ lẽ ra là thời gian không có bản chất chân thật.

b/ Trong thời gian dài có thời gian ngắn

Như người hai mươi tuổi bỗng nhiên bị bệnh tâm thần, anh ta nuốt dao, cầm lửa hoặc nói những việc vị lai với người khác, hoặc đối với vợ con thì cười giỡn như bình thường, hoặc sinh ra con trai, con gái, hoặc bỗng nhiên làm văn, trứ tác các loại sách vở.  Trải qua thời gian đến năm ba mươi tuổi, anh ta gặp được một dị nhân niệm chú vào nước để cho uống.  Như kẻ ngủ say bỗng giật mình thức dậy, anh ta cho rằng những việc xảy ra lúc hai mươi tuổi như những việc mới xảy ra vào ngày hôm qua.  Người nhà vì anh ta mà bấm đốt tay, đếm những tháng, năm, chỉ rõ con trai, con gái, các loại sách vở.  Còn anh ta thì tự suy xét rằng, vốn không có tháng, năm thì đâu có những việc ấy, cũng không nhớ lại chính mình có bệnh hay không có bệnh.

Từ hai ví dụ kể trên thường xuyên quán xét tới, lui thì vỡ lẽ ra rằng quá khứ, hiện tại, vị lai đều không có bản chất chân thật.  Kinh ghi: “Quán xét thời gian lâu xa như ngày hôm nay, trong khoảng giây phút đi cúng dường các đức Phật khắp các cõi nước trong mười phương”. Đó là nghĩa ba thời gian không gián đoạn.  Ba thời gian không gián đoạn,  vì thời gian không có bản chất chân thật.

3/ Vô tình làm Phật

Quyền giáo cho rằng loài hữu tình có Phật tánh, vật vô tình thì không có Phật tánh, nghĩa là tất cả cỏ, cây, cõi nước, thế giới đều không thể thành đạo và chuyển pháp luân.  Đây là kiến chấp rất sai lầm, cho rằng những gì có ý thức thì có Phật tánh, những gì vô tri thì không có Phật tánh , chứ không biết rõ các pháp đều trụ pháp vị.  Tại sao vậy?  Vì ý là sắc, ý là nguồn gốc của hư không, ý là thời gian (quá khứ, hiện tại, vị lai), vì ý là vô tình.

Hễ một pháp vô tình thì tất cả pháp đều vô tình.  Do đó, màu sắc xanh, vàng là ý; âm vang của gió thổi, của chim hót, của hang động là ý; cỏ, cây, ngói, đá là ý, là loài hữu tình.  Hễ một pháp là hữu tình thì tất cả pháp đều là hữu tình.  Vì thế, nên biết, tình đó là Tình, cũng có thể nói là mình, cũng có thể nói là vật.  Không nên nói rằng cái nào là hữu tình?  Cái nào là vô tình?  Như cặp vợ chồng có một đứa con, không nên nói rằng ai sinh ra?  Ai không sinh ra?  Tóc, lông, răng, móng cũng là vô tình.  Vô tình cùng với ta đều có Phật tánh hay vô tình cùng với ta đều không có Phật tánh?  Như người nằm chiêm bao thấy núi, sông, cây, đá cũng là vô tình.  Đó thuộc về cái tưởng của tình thức hay không thuộc về cái tưởng của tình thức?  Nên biết, trong giấc chiêm bao kia không phải là ta, cũng không phải là phi ta.  Tại sao lại chấp là hữu tình, là vô tình?  Kinh ghi: “Đạo tràng, cây báu đều có thể làm thanh tịnh các căn.  Âm vang của  nước, của gió, của cây đều phát ra pháp âm vi diệu”.  Không một vật nào chẳng phải là thân Phật.  Không một vật nào chẳng chuyển pháp luân.  Đâu phải là tri kiến sai lầm có thể suy lường đến được.

4/ Y báo, chánh báo đều vô ngại

Y báo là cõi nước, thế giới.  Chánh báo là thân thể.  Nếu đứng về phương diện tư tưởng phàm phu thì chấp có y báo, chánh báo.  Kiến chấp đó không đúng.  Tại sao vậy?  Nếu nói hư không là y báo thì như người há miệng ra, hư không lọt vào trong miệng cho đến ở bên trong lỗ chân lông, khớp xương, tim, bụng đều có hư không.  Như vậy, hư không là y báo hay chánh báo?  Nếu nói đất, nước, gió, lửa là y báo thì nước dãi của con người khạc vào ống nhổ là nước, tóc hơ khô là đất, hai bàn tay chà sát vào nhau sinh ra hơi nóng là lửa, hơi thở khì khịt là gió.  Những thứ ấy là y báo hay là chánh báo?  Kinh ghi: “Vô lượng hoa báu thì ở trong hoa nào cũng đều phóng ra ba mươi sáu ức trăm triệu trăm ngàn ánh sáng, ánh sáng nào cũng đều phóng ra ba mươi sáu ức trăm triệu trăm ngàn đức Phật nói tất cả pháp khắp cả mười phương”.  Đó là do năng lực của Phật biến hiện có hoa báu.  Vì có hoa báu nên lại hiện các đức Phật.  Vì thế, nên biết, khắp một cõi nước đều là thân Phật và cõi nước nào cũng đều như thế.  Không một thân nào chẳng phải là cõi Phật và thân nào cũng đều như thế.  Không phải là năng lực thần thông của Phật biến hiện mà chỉ do trí nhất chân pháp giới của các đức Phật làm y báo, chánh báo mà thôi.

5/ Trùm khắp chẳng động

Chúng sinh chấp sai lầm rằng thân Phật có đến, có đi.  Nhưng thật ra thân Phật chẳng đến, chẳng đi mà cũng không phải chẳng đến , chẳng đi như đàn chim tung bay giữa hư  không bao la vô hạn, một ngày bay cả ngàn dặm.  Hư không chẳng phải đuổi theo chim và chim cũng chẳng phải tách rời hư không.  Kinh ghi: “Phật A Di Đà thường trú ở Tây Phương”.  Lại ghi: ‘Phật đến chỗ của tất cả hành giả”.  Trong kinh Niết bàn, Phật nói: “Này thiện nam tử, thành Ba La Nại có một ưu bà di đã gieo trồng các căn lành trong vô lượng đức Phật thời quá khứ.  Trong ba tháng hạ , ưu bà di này cung thỉnh chúng tăng để cúng dường thuốc.  Bấy giờ, trong chúng tăng có một thầy tỳ kheo lâm bệnh trầm trọng.  thầy thuốc chẩn đoán, bảo rằng phải có thuốc được làm bằng chất thịt thì bệnh mới khỏi.  Khi ấy, ưu bà di tự tìm con dao, cắt thịt ở bắp vế của mình để làm canh thịt dâng cho thầy tỳ kheo.  Sau khi dùng xong, bệnh trạng của thầy giảm bớt.  Nhưng, ưu bà di bị vết thương hành hạ nhức nhối không thể nào chịu nổi, liền niệm to lên”Nam mô Phật Đà! Nam mô Phật Đà!”.  Khi ấy, ở thành Xá Vệ, nghe được âm thanh kia, đối với ưu bà di, ta khởi tâm đại từ.  Ưu bà di thấy ta sử dụng thuốc bôi trên vết thương nên  thân thể được lành lặn như trước kia, và nghe ta thuyết pháp.  Ưu bà di này vui mừng, phát tâm bồ đề vô thượng.  Này thiện nam tử, thật ra, khi ấy, ta không có đến thành Ba La Nại làm những việc như vậy.  Tất cả đều do năng lực căn lành của tâm từ khiến cho ưu bà di thấy những việc như thế.

– Lại nữa, thiện nam tử, Điều Đạt là kẻ độc ác, tham ăn quá độ.  Do uống nhiều sữa cho nên đầu đau, bụng trướng, phải chịu vô cùng thống khổ.  Điều Đạt liền niệm:”Nam mô Phật Đà! Nam mô Phật Đà!”.  Bấy giờ, ở thành Ưu Thiền Ni, nghe âm thanh kia, ta liền khởi tâm từ.  Khi ấy, Điều Đạt thấy ta đến chỗ của ông ấy, lấy tay xoa vào đầu, bụng trao cho nước muối nóng.  Sau đó khỏi được cơn bệnh.  Này thiện nam tử, thật ra, ta không có đến chỗ của Điều Đạt làm những việc đó.  Tất cà đều do năng lực căn lành của tâm từ khiến cho Điều Đạt thấy những việc như vậy.

– Lại nữa, thiện nam tử, nước Kiều Tát La có năm trăm kẻ trộm cướp kết hợp lại thành đảng cướp.  Vua Ba Tư Nặc cho quân lính truy lùng ráo riết và bắt được đảng cướp này.  Sau khi bị bắt, chúng bị trừng trị bằng cách móc mắt, tống vào rừng rậm đen tối.  Chúng chịu khổ não ghê gớm và gào khóc thảm thiết.  Chúng đều niệm vang lên: “Nam mô Phật Đà! Nam mô Phật Đà!”.  Bấy giờ, ở tinh xá Kỳ Hoàn, nghe được âm thanh này, ta liền khởi tâm từ.  Khi ấy, có ngọn gió mát  thổi các loại thuốc hương thơm ngào ngạt từ trong núi hương.  Thuốc hương này lắp đầy vào vành mắt của chúng, cho nên mắt chúng được sáng tỏ như trước kia.  Khi mở mắt ra, chúng thấy Như Lai đứng ở trước mình để thuyết pháp.  Sau khi nghe pháp, chúng liền phát tâm bồ đề vô thượng.  Này thiện nam tử, thật ra, khi ấy, ta không có làm những việc như thế.  Tất cả đều do năng lực căn lành của tâm từ khiến cho chúng thấy những việc như vậy.

Các việc kể trên đâu có thể nghĩ bàn. Tất cả đều là nhất chân pháp giới (Pháp thân bình đẳng của các đức phật).  Không được nói là tự tâm cảm hiện, cũng không được nói là tâm Phật hòa hợp, vì trong Phật địa lìa tự, lìa tha, lìa hòa hợp.  Cho nên, bước vào cửa này thì không đồng với tri kiến sai lầm, phân biệt, suy lường của phàm phu, như ngài Thanh Lương nói: “Phật A Di Đà tức là bổn sư Lô xá na” cũng hãy còn là sự suy lường của thức tình.  Tại sao vậy? Vì mười phương thế giới chỉ có một trí cảnh, chứ không có Phật nào khác.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
lý thông huyền
(李通玄) (635-730) Học giả Hoa nghiêm Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thương châu (huyện Thương, Hà bắc), dòng dõi vua chúa. Ông bẩm tính thông minh, tinh thông cả Nho và Phật, ông thích nơi rừng núi, xa lánh sự ồn ào của thành thị. Năm Khai nguyên thứ 7 (719), ông ở ẩn trong căn nhà bằng đất trong núi Thọ dương phương thuộc phủ Thái nguyên, chuyên tâm nghiêm cứu kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới). Suốt mấy năm ở trong núi, hằng ngày ông chỉ dùng quả táo và lấy lá cây bách làm thức ăn, nên người đời gọi ông là Tảo bách Đại sĩ. Tháng 3 năm Khai nguyên 18 (730), ông ngồi trong khám thất mà hóa, thọ 96 tuổi. Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu: Hiển Giáo Diệu Nghiêm Trưởng Giả. Ông để lại các tác phẩm: Tân Hoa nghiêm kinh luận, 40 quyển, Hoa nghiêm kinh hội thích luận, 14 quyển, Lược thích tân Hoa nghiêm kinh tu hành thứ đệ quyết nghi luận, 4 quyển, Lược thích, 1 quyển, Thích giải mê hiển trí thành bi thập minh luận, 1 quyển, Thập huyền lục tướng, Bách môn nghĩa hải, Phổ hiền hành môn, Hoa nghiêm quán. [X. Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận tự cập hậu kí; Hoa nghiêm kinh hợp luận quyển thủ Lí trưởng giả sự tích; Hoa nghiêm luận tiết yếu quyển mạt hành trạng; Tống cao tăng truyện Q.22; Phật tổ thống kỉ Q.40; Phật tổ lịch đại thông tải Q.13; Đường Lí trưởng giả Thông huyền hành tích kí; Chiêu hóa tự thiếp; Chiêu hóa tự Lí trưởng giả khám kí (3 bộ trên được thu vào Kim thạch tục biên Q.17)].
phá giới
(破戒) Phạm:Du#zìla. Cũng gọi: Phạm giới. Đối lại: Trì giới. Hủy phá giới luật đã nhận giữ. Luận Đại trí độ quyển 91 nêu ra 2 loại phá giới: 1. Nhân duyên bất cụ túc giới: Nhân duyên không đầy đủ mà phá giới. Như người nghèo cùng, cơm áo thiếu thốn, sinh tâm trộm cắp mà phá giới. 2. Nhân duyên cụ túc giới: Nhân duyên đầy đủ mà phá giới. Như người tuy cơm áo đầy đủ nhưng vì tâm thích thói xấu, ưa làm việc ác nên hủy phạm giới cấm. Kinh Tì ni mẫu quyển 3 (Đại 24, 812 trung) nói: Phạm giới có 7 thứ: Ba la di, Tăng già bà thi sa, Ni tát kì ba dật đề, Ba dật đề, Thâu lan gia, Ba la đề xá ni và Đột cát la. [X. luật Ma ha tăng kì Q.33; luật Thập tụng Q.33].
Thập thiện
(十善): hay Thập Thiện Nghiệp (s: daśakuśala-karmāni, 十善業), Thập Thiện Nghiệp Đạo (十善業道), Thập Thiện Đạo (十善道), Thập Thiện Căn Bản Nghiệp Đạo (十善根本業道), Thập Bạch Nghiệp Đạo (十白善道), tức là 10 việc làm tốt lành của thân, miệng và ý; gồm 3 nghiệp của thân là:
(1) Không Sát Sanh,
(2) Không Trộm Cắp,
(3) Không Tà Dâm; 4 nghiệp của miệng là
(1) Không Nói Dối,
(2) Không Nói Lời Thêu Dệt,
(3) Không Nói Lời Thô Ác,
(4) Không Nói Hai Lưỡi; và 3 nghiệp của ý là
(1) Không Tham Dục,
(2) Không Sân Nhuế,
(4) Không Tà Kiến.
Mười điều trên được gọi là Thập Thiện Giới (十善戒). Những pháp hành này nhằm đối trị với 10 điều bất thiện, hay 10 nghiệp ác là
(1) Sát Sanh,
(2) Trộm Cắp,
(3) Tà Dâm,
(4) Nói Dối,
(5) Nói Lời Thêu Dệt,
(6) Nói Lời Thô Ác,
(7) Nói Hai Lưỡi,
(8) Tham Dục,
(9) Sân Nhuế,
(10) Tà Kiến.
Trong Thập Thiện Nghiệp Đạo Kinh (十善業道經, Taishō No. 600, 1 quyển) do Thật Xoa Nan Đà (s: Śikṣānanda, 實叉難陀, 652-710) nhà Đường dịch, giải thích rất rõ và chi tiết về công đức hành trì từng nghiệp một của Thập Thiện; tỷ dụ như xa lìa việc sát sanh thì sẽ được thành tựu 10 pháp xa lìa phiền não: “Long Vương, nhược ly sát sanh, tức đắc thành tựu Thập Ly Não Pháp. Hà đẳng vi thập ? Nhất ư chư chúng sanh phổ thí vô úy, nhị thường ư chúng sanh khởi đại bi tâm, tam vĩnh đoạn nhất thiết sân nhuế tập khí, tứ thân thường vô bệnh, ngũ thọ mạng trường viễn, lục hằng vi phi nhân chi sở thủ hộ, thất thường vô ác mộng tẩm giac khoái lạc, bát diệt trừ oán kết tự giải, cửu vô ác đạo bố, thập mạng chung sanh thiên (龍王、若離殺生、卽得成就十離惱法、何等爲十、一於諸眾生普施無畏、二常於眾生起大慈心、三永斷一切瞋恚習氣、四身常無病、五壽命長遠、六恆爲非人之所守護、七常無惡夢寢覺快樂、八滅除怨結眾怨自解、九無惡道怖、十命終生天, Long Vương, nếu xa lìa sát sanh, tức đạt được Mười Pháp Lìa Phiền Não. Thế nào là mười ? Một là ban khắp sự không sợ hãi cho các chúng sanh; hai là thường khởi tâm từ bi lớn đối với chúng sanh; ba là mãi đoạn tất cả tập khí sân nhuế; bốn là thân thường không bệnh; năm là thọ mạng dài lâu; sáu là thường được hàng phi nhân bảo hộ; bảy là ngũ thường không có ác mộng, tỉnh thức khoái lạc; tám là diệt trừ mọi oan kết, các oan khiên tự giải mở; chín là không sợ hãi trong đường ác, mười là khi mạng hết được sanh lên Trời).” Hay như trong Phật Thuyết Tín Giải Trí Lực Kinh (佛說信解智力經, Taishō No. 802) có đoạn: “Hựu phục chúng sanh, dĩ thân khẩu ý hành Thập Thiện Nghiệp, bất báng hiền thánh, khởi ư Chánh Kiến, tác chư thiện nghiệp, hành chư thiện pháp, giai thị chánh nhân sở khởi, do thử Chánh Kiến nhân duyên cố, mạng chung chi hậu, sanh ư thiên giới (又復眾生、以身口意行十善業、不謗賢聖、起於正見、作諸善業、行諸善法、皆是正因所起、由此正見因緣故、命終之後、生於天界, lại có chúng sanh, lấy thân miệng ý hành Mười Nghiệp Thiện, không phỉ báng hiền thánh, khởi lên Chánh Kiến, làm các nghiệp thiện, hành các pháp thiện, đều là do khởi lên nhân đúng, do nhân duyên Chánh Kiến này, sau khi mạng hết, sanh lên cõi Trời).”
Sơ địa
địa vị đầu tiên trong Thập địa, cũng gọi là Hoan hỷ địa (Pramuditbhmi). Đạt đến địa vị này, Bồ Tát được hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi, không còn nghĩ riêng đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí không cầu phước đức, chứng được tính vô ngã của tất cả các pháp. Xem Mười địa vị.
thập địa
(十地) Cũng gọi Thập trụ. Chỉ cho 10 địa vị. Địa, Phạm: Bhùmi. Hán dịch: Trú xứ, trụ trì, sinh thành. Tức trụ ở địa vị mình để duy trì pháp, nuôi dưỡng pháp khiến sinh ra quả. Trong các kinh luận nêu tên của Thập địa gồm 5 loại:I. Thập Địa Chung Cho Tam Thừa. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Đại phẩm bát nhã quyển 6, 17, vì Thập địa này chung cho cả Tam thừa, nên gọi là Tam thừa cộng thập địa, hoặc Cộng thập địa, Cộng địa. Tông Thiên thai gọi là Thông giáo thập địa. Trong Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 hạ và Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng, ngài Trí khải giải thích ý nghĩa của Thập địa này như sau: 1. Can tuệ địa (Phạm: Zukla-vidar= zanà-bhùmi), cũng gọi Quá diệt tịnh địa, Tịch nhiên tạp kiến hiện nhập địa, Siêu tịnh quán địa, Kiến tịnh địa, Tịnh quán địa. Nghĩa là địa vị này chỉ có tuệ chứ chưa có định, tương đương với giai vị Tam hiền của Thanh văn và Giác vị của Bồ tát từ Sơ phát tâm cho đến trước khi được Thuận nhẫn. 2. Tính địa (Phạm: Gotra-bhùmi), cũng gọi Chủng tính địa, Chủng địa. Tức địa vị tương đương với giai vị Tứ thiện căn của Thanh văn và giai vị Thuận nhẫn của Bồ tát, tuy đắm trước thực tướng các pháp, nhưng không sinh tà kiến, đầy đủ trí tuệ và thiền định. 3. Bát nhân địa (Phạm: Awỉamakabhùmi), cũng gọi Đệ bát địa, Bát địa. Nhân nghĩa là nhẫn. Tương đương với 15 tâm kiến đạo của Thanh văn và vô sinh pháp nhẫn của Bồ tát. 4. Kiến địa (phạm: Durzana-bhùmi), cũng gọi Cụ kiến địa. Tương đương với quả Tu đà hoàn của Thanh văn và địa vị A bệ bạt trí(bất thoái chuyển) của Bồ tát. 5. Bạc địa (Phạm:Tanù-bhùmi), cũng gọi Nhu nhuyến địa, Vi dục địa. Tức giai vị đã đoạn trừ 1 phẩm trong 9 phẩm Tu hoặc (phiền não) ở cõi Dục, tức quả Tu đà hoàn hoặc Tư đà hàm. Cũng chỉ cho địa vị Bồ tát đã đoạn trừ các phiền não, nhưng vẫn còn các tập khí mỏng(bạc), tức địa vị từ A bệ bạt trí trở lên cho đến trước quả Phật.6. Li dục địa (Phạm:Vìta-ràga-bhùmi), cũng gọi Li tham địa, Diệt dâm nộ si địa. Tức giai vị Thanh văn đoạn hết phiền não cõi Dục được quả A na hàm và địa vị Bồ tát lìa dục được 5 thần thông. 7. Dĩ tác địa (Phạm:Kftàvì-bhùmi), cũng gọi Sở tác biện địa, Dĩ biện địa. Tức địa vị Thanh văn được tận trí, vô sinh trí chứng đắc A la hán quả, hoặc Bồ tát thành tựu Phật địa. 8. Bích chiphật địa: Duyên giác quán xét 12 nhân duyên mà thành đạo. 9. Bồ tát địa: Chỉ cho các địa vị từ Can tuệ địa cho đến Li dục địa đã nói ở trên, hoặc chỉ cho Hoan hỉ địa cho đến Pháp vân địa(từ Sơ phát tâm đến Kim cương tam muội) sẽ nói ở sau, tức địa vị Bồ tát từ Sơ phát tâm đến trước khi thành đạo. 10. Phật địa: Chỉ cho địa vị hoàn toàn đầy đủ các pháp của chư Phật như Nhất thiết chủng trí... Theo luận Đại trí độ quyển 75 thì hàng Bồ tát tam thừa cộng vị này, nương vào trí vô lậu đoạn trừ hết nghi hoặc mà khai ngộ; như ngọn đèn tâm được thắp lên không nhất định làởngọn lửa đầu tiên hay ngọn lửa sau cùng, sự đoạn hoặc của hàng Thập địa cũng thế, không cố định ở bất cứ 1 Địa nào, mà là mỗi địa đều đưa đến quả Phật, vì thế mà ví dụ Thập địa như việc đốt đèn. [X. phẩm Thập trụ trong kinh Quang tán bát nhã Q.7; phẩm Trị địa trong kinh Phóng quang bát nhã Q.4, phẩm Thậm thâm Q.13; phẩm Tu trị trong kinh Đại bát nhã Q.415]. II. Thập Địa Theo Kinh Hoa Nghiêm. Thuyết này có xuất xứ từ kinh Hoa nghiêm quyển 23 (bản dịch cũ), kinh Hoa nghiêm quyển 34 (bản dịch mới), kinh Nhân vương bát nhã quyển thượng và kinh Hợp bộ kim quang minh quyển 3. Đó là: 1. Hoan hỉ địa (Phạm: Pramuditàbhùmi), cũng gọi Cực hỉ địa, Hỉ địa, Duyệt dự địa. Tức địa vị rất vui mừng, vì mới thành bậc Thánh. 2. Li cấu địa (Phạm:Vimalà-bhùmi), cũng gọi Vô cấu địa, Tịnh địa. Tức địa vị thanh tịnh, lìa các cấu nhiễm, lìa tâm sai lầm, phá giới và phiền não. 3. Phát quang địa (Phạm:Prabhàkarìbhùmi); cũng gọi Minh địa, Hữu quang địa, Hưng quang địa. Tức địa vị phát ra ánh sáng nhờ tu thiền định, chân lí dần sáng tỏ. 4. Diệm tuệ địa (Phạm: Arciwmatìbhùmi), cũng gọi Diệm địa, Tăng diệu địa, Huy diệu địa. Tức địa vị tăng thêm ánh sáng nhờ lìa bỏ kiến giải phân biệt của 3 địa trên. 5. Nan thắng địa (Phạm: Sudurjayàbhùmi), cũng gọi Cực nan thắng địa. Tức địa vị đã được chính trí xuất thế gian, nương vào phương tiện tự tại mà cứu độ chúng sinh.6. Hiện tiền địa (Phạm: Abhimukhìbhùmi), cũng gọi Hiện tại địa, Mục kiến địa, Mục tiền địa. Địa vị sinh khởi đại trí nhờ nghe Bát nhã ba la mật. 7. Viễn hành địa (Phạm: Dùraôgamà-bhùmi), cũng gọi Thâm hành địa, Thâm nhập địa, Thâm viễn địa, Huyền diệu địa. Tức địa vị tu hành vô tướng, tâm xa lìa thế gian. 8. Bất động địa (Phạm:Acalà-bhùmi), cũng gọi Sắc tự tại địa, Quyết định địa, Vô hành vô khai phát vô tướng trụ, Tịch diệt tịnh địa. Tức địa vị tuyệt đối không bị phiền não làm lay động, nhờ không ngừng sinh khởi trí tuệ vô tướng. 9. Thiện tuệ địa (Phạm:Sàdhumatìbhùmi), cũng gọi Thiện tai ý địa, Thiện căn địa. Tức địa vị trí tuệ được tự tại, Bồ tát dùng sức vô ngại nói pháp, đầy đủ hạnh lợi tha. 10. Pháp vân địa (Phạm: Dharma= meghà-bhùmi), cũng gọi Tác vũ địa. Tức địa vị được đại pháp thân, có năng lực tự tại.Trong Thập nhị trụ của kinh Bồ tát địa trì quyển 9 thì Thập địa tương đương với Hoan hỉ trụ thứ 3 cho đến Tối thượng bồ táttrụthứ 12. Cũng trong kinh này quyển 10 có thuyết Thất địa thì Sơ địa tương đương với Tịnh tâm địa thứ 3, địa thứ 2 cho đến địa thứ 7 tương đương với Hành tích địa thứ 4, địa thứ 8 tương đương với Quyết định địa thứ 5, địa thứ 9 tương đương với Quyết định hành địa thứ 6, địa thứ 10 và Phật địa tương đương với Tất cánh địa thứ 7. Ngoài ra, có thuyết cho rằng Sơ địa tương đương với Kiến đạo (Thông đạt vị), Nhị địa trở lên tương đương với Tu đạo(Tu tập vị), hoặc Thất địa trở về trước là Hữu công dụng địa, Bát địa trở lên là Vô công dụng địa. Hoặc Sơ, Nhị và Tam địa là Tín nhẫn, Tứ, Ngũ và Lục địa là Thuận nhẫn, Thất Bát và Cửu địa là Vô sinh nhẫn, Thập địa là Tịch diệt nhẫn. Lại có thuyết cho rằng 5 địa trước là Vô tướng tu, địa 6, 7, là Vô tướng tu tịnh, địa thứ 8, 9 là Vô tướng tu quả, địa thứ 10 là Vô tướng tu quả thành. Hoặc Sơ địa là Nguyện tịnh, Nhị địa là Giới tịnh, Tam địa là Định tịnh, Tứ, Ngũ, Lục địa là Tăng thượng tuệ, Thất địa trở lên là Thượng thượng xuất sinh tịnh. Nếu gọi các giai vị dưới Thập địa là Tín địa thì Thập địa được gọi chung là Chứng địa. Lại nữa, mỗi địa trong Thập địa đều Còn đối với tông Hoa nghiêm thì trong Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 9, khi giải thích về Thập địa, cho rằng nói về căn bản thì Thập địa thuộc tính chất quả hải bất khả thuyết; nói theo nội dung giác chứng thì có Li cấu chân như; nói theo giác trí thì có Căn bản trí, Hậu đắc trí và Gia hạnh trí; nói theo quan điểm đoạn phiền nãothìlà xa lìa 2 chướng Phiền não và Sở tri; nói theo quan điểm tự tu hành thì có Tu nguyện hạnh cho đến Thụ vị hạnh; nói theo phương diện thành tựu sở tu thì Sơ địa tu hạnh Tín nhạo, Nhị địa tu hạnh Giới, Tam địa tu hạnh Định, Tứ địa trở lên tu hạnh Tuệ; nói theo quả vị tu hành thì có Chứng vị và A hàm vị; nói theo kí thừa của Thập địa thì Sơ, Nhị, Tam địa là Nhân thiên thừa, Tứ, Ngũ, Lục, Thất địa là Tam thừa, Bát địa trở lên là Nhất thừa, đây là dựa(gửi gắm= kí) vào giai vị để nêu rõ hạnh tu tương đương với 10 Ba la mật; nói theo kí báo của Thập địa thì bao gồm hết Thập vương, từ vua cõi Diêm phù đề cho đến vua cõi trời Ma hê thủ la, nhớ nghĩ Tam bảo, dắt dẫn chúng sinh... Trong tông Chân ngôn cũng có thuyết Thập địa, nhưng kinh Đại nhật chỉ nêu ra địa thứ 8 và địa thứ 10, kinh Kim cương đính cũng chỉ nói địa đầu tiên và địa thứ 10. Như vậy, tông Chân ngôn chỉ viện dẫn các kinh luận của Hiển giáo như Hoa nghiêm, Nhân vương... để thiết lập từng danh mục và nội dung của Thập địa. Thập địa của tông Chân ngôn được chia làm 2 nghĩa sâu, cạn. Về Thập địa theo nghĩa nông cạn thì cũng giống như Thập địa của Hiển giáo đã nói ở trên, còn Thập địa theo nghĩa sâu kín thì qui kết về thực nghĩa của Mật giáo, tức cho rằng giữa Sơ địa và Thập địa hoàn toàn không có cao thấp khác nhau, Sơ địa chính là cực quả, đó là vì Sơ địa có năng lực ngộ được cực quả. Từ Nhị địa trở lên có 3 tâm: Nhập, trụ, xuất; khi vào mà chưa an trụ là Nhập tâm, lúc dừng lâu ở Địa này là Trụ tâm, lúc gần vào địa kế tiếp là Xuất tâm. Luận thành duy thức quyển 9 cho rằng 10 địa này theo thứ tự tu tập 10 Ba la mật(Thập thắng hạnh): Thí, giới, nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã, phương tiện thiện xảo, nguyện, lực và trí, nhờ đó mỗi Địa đều trừ được 10 trọng chướng là Dị sinh tính chướng, Tà hành chướng, Ám độn chướng, Vi tế phiền não hiện hành chướng, Ư hạ thừa bát niết bàn chướng, Thô tướng hiện hành chướng, Tế tướng hiện hành chướng, Vô tướng trung tác gia hạnh chướng, Lợi tha môn trung bất dục hành chướng và Ư chư pháp trung vị đắc tự tại chướng; mỗi Địa đều chứng được 10 chân như là Biến hành chân như, Tối thắng chân như, Thắng lưu chân như, Vô nhiếp thụ chân như, Loại vô biệt chân như, Vô nhiễm tịnh chân như, Pháp vô biệt chân như, Bất tăng giảm chân như, Trí tự tại sở y chân như và Nghiệp tự tại đẳng sở y chân như. Nhờ chuyển 2 phiền não và sở tri chướng này mà chứng được quả Bồ đề, Niết bàn. Trong đó, hàng Bồ tát từ Sơ địa đến Thất địa, tâm hữu lậu và tâm vô lậu xen tạp lẫn nhau, cho nên có chia làm Phần đoạn sinh tử và Biến dịch sinh tử. Hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên chỉ có tâm vô lậu, vì thế là Biến dịch sinh tử. Tông Thiên thai cho rằng Biệt giáo, Viên giáo mỗi giáo đều có giai vị Thập địa, nhưng nói theo quan điểm hàng Bồ tát Sơ địa của Biệt giáo đoạn 1 phẩm Vô minh Thì trí chứng ngang bằng với Sơ trụ của Viên giáo, cho nên nói Sơ địaSơ trụ chứng đạo đồng viên. Do đó, hàng Bồ tát Biệt giáo từ Sơ địa trở lên đều có khả năng trở thành hành nhân của Viên giáo nhưng đây chỉ là mặt lí thuyết, chứ trên thực tế không có người nào tu thành, vì thế nói là Hữu giáo vô nhân địa trở lên thì theo thứ tự nêu bày tổng đức của Sơ địa, đồng thời giải thích rõ 2 nghĩa cạn, sâu. Vì để biểu trưng quả đức của Đại Nhật Như lai nên phối hợp 16 vị Đại Bồ tát thuộc Tứ Phật Tứ thân cận(tức 4 đức Phật mỗi vị có 4 Bồ tát thân cận) với Thập địa. Nếu lại hiểu theo 2 mặt Bản hữu (vốn có sẵn) và Tu sinh(do tu hành mới có) thì Thập địa thuộc Bản hữu vô cấu ngầm chỉ cho tâm bồ đề thanh tịnh vô hạn lượng vốn có sẵn của tất cả chúng sinh, vì thế giữa Thập địa không có cao thấp khác nhau; còn Thập địa thuộc Tu sinh hiển đắc là nương vào hạnh Tam mật để đoạn trừ 3 thứ vọng chấp mà hiển bày Thập địa sẵn có; bởi thế, muốn đến được quả Phật,còn phải đoạn một chướng. Tịnh độ chân tông của Phật giáo Nhật bản cho rằng nếu hành giả đạt được tín tâm tha lực, tức dốc lòng tin vào năng lực cứu độ của Phật A di đà, thì chắc chắn được thành Phật, bấy giờ trong tâm tràn đầy niềm vui mừng, nên gọi là Hoan hỉ địa. Cứ theo luận Tịnh độ của ngài Thế thân, vì cứu độ chúng sinh nên Bồ tát thị hiện ra nhiều hình tướng, giai vị này gọi là Giáo hóa địa. Vãng sinh luận chú quyển hạ của ngài Đàm loan cho rằng Giáo hóa địa là giai vị của hàng Bồ tát từ Bát địa trở lên, Bồ tát sinh về Tịnh độ và thành Phật, lại nương vào tác dụng Hoàn tướng hồi hướng mà trở lại cõi mê để giáo hóa cứu độ chúng sinh. Vì chữ địa trong Giáo hóa địa có nghĩa là nơi chốn, tức là cõi mê, cho nên giáo hóa địa là nơi Bồ tát giáo hóa độ sinh. Ngoài ra, phẩm Hiền thánh giác quán trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng có thuyết 42 Hiền thánh, trong đó, bậc Hiền thánh thứ 31 đến 40 tương đương với Thập địa. Đó là: 1. Cưu ma la già (Nghịch lưu hoan hỉ địa). 2. Tu a già nhất ba(Đạo lưu li cấu địa). 3. Tu na ca(Lưu chiếu minh địa). 4. Tu đà hoàn(Quán minh viêm địa). 5. Tư đà hàm(Độ chướng nan thắng địa). 6. A na hàm(Bạc lưu hiện tiền địa). 7. A la hán(Quá tam hữu viễn hành địa). 8. A ni la hán(Biến hóa sinh bất động địa).9. A na ha(Tuệ quang diệu thiện địa). 10. A ha la phất(Minh hành túc pháp vân địa). [X. kinh Bồ tát thập trụ; kinh Giải thâm mật Q.4; kinh Đại bảo tích Q.115; luận Đại tì bà sa Q.1; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.13]. (xt. Thập Địa Đoạn Chướng Chứng Chân, Nhân Phần Quả Phần, Bồ Tát Giai Vị). III. Thập Địa Của Thanh Văn. Chỉ cho giai vị tu hành của hàng Thanh văn, đó là: 1. Thụ tam qui địa (cũng gọi Tam qui hành vị): Giai vị vào Phật pháp, lãnh nhận và thực hành 3 pháp qui y. 2. Tín địa(cũng gọi Tùy tín hành địa): Hàng độn căn trong giai vị Tư lương thuộc Ngoại phàm. 3. Tín pháp địa(cũng gọi Tùy pháp hành địa): Tức chỉ cho hàng lợi căn trong giai vị Tư lương. 4. Nội phàm phu địa(cũng gọi Thiện phàm phu địa): Tức giai vị thuộc Gia hành tứ thiện căn của Nội phàm. 5. Học tín giới địa(cũng gọi Học giới địa): Chỉ cho bậc tin hiểu từ Kiến đạo trở lên.6. Bát nhân địa(cũng gọi Đệ bát nhân địa): Chỉ cho giai vị của 15 tâm kiến đạo, tức Tu đà hoàn hướng. 7. Tu đà hoàn địa: Chỉ cho Sơ quả. 8. Tư đà hàm địa: Chỉ cho Đệ nhị quả. 9. A na hàm địa: Chỉ cho Đệ tam quả. 10. A la hán: Tức Đệ tứ quả. [X. kinh Đại thừa đồng tính Q.hạ; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3, Thích Tịnh độ nhị tạng nghĩa Q.7]. IV. Thập Địa Bích Chi Phật. Cũng gọi Chiphật thập địa, Duyên giác thập địa, Độc giác thập địa. Chỉ cho 10 giai vị tu hành của Bích chi phật, đó là: 1. Tích hành cụ túc địa(cũng gọi Chúng thiện tư địa, Phương tiện cụ túc địa): Tức giai vị tu khổ hạnh trong 4 đời 100 kiếp ở quá khứ.2. Tự giác thậm thâm thập nhị nhân duyên địa(cũng gọi Tự giác thâm duyên khởi địa): Giai vị không nhờ thầy dạy mà tự biết lí 12 nhân duyên. 3. Giác liễu tứ thánh đế địa(cũng gọi Giác tứ thánh đế địa): Tức giai vị biết rõ lí của 4 Thánh đế. 4. Thậm thâm lợi trí địa (cũng gọi Thắng thâm lợi trí địa): Tức giai vị phát khởi trí sâu xa. 5. Bát thánh đạo địa(cũng gọi Bát thánh chi đạo địa): Tức giai vị tu 8 chính đạo. 6. Giác liễu pháp giới hư không giới chúng sinh giới địa(cũng gọi Tri pháp giới hư không giới chúng sinh giới địa, Giác liễu pháp giới đẳng địa): Tức giai vị biết rõ tướng của pháp giới hư không giới chúng sinh giới.7. Chứng tịch diệt địa(cũng gọi Chứng diệt địa): Tức giai vị chứng Niết bàn vắng lặng.8. Lục thông địa(cũng gọi Lục thông tính địa, Thông địa): Tức giai vị chứng được 6 thần thông lậu tận. 9. Triệt bí mật địa(cũng gọi Nhập vi diệu địa, Triệt vi mật địa): Tức giai vị thông suốt lí duyên khởi sâu kín. 10. Tập khí tiệm bạc địa(cũng gọi Tập khí bạc địa): Tức giai vị đoạn trừ tập khí dần dần đến chỗ nhỏ nhiệm mỏng manh. [X. Đại thừa đồng tín Q.hạ; kinh Chứng khế Đại thừa Q.hạ; luận Thập trụ tâm 5]. V. Thập Địa Của Phật. Tức chỉ cho 10 thứ công đức của Phật địa. Đó là: 1. Thậm thâm nan tri quảng minh trí đức địa: Cũng gọi Tối thắng thậm thâm nan thức tì phú la quang minh trí tác địa. 2. Thanh tịnh thân phân uy nghiêm bất tư nghị minh đức địa. 3. Thiện minh nguyệt chàng bảo tướng hải tạng địa: Cũng gọi Diệu quang minh nguyệt chàng bảo xí hải tạng địa. 4. Tinh diệu kim quang công đức thần thông trí đức địa: Cũng gọi Tịnh diệu kim quang công đức thần thông trí đức tác địa. 5. Hỏa luân uy tạng minh đức địa: Cũng gọi Quang minh vị trường uy tạng chiếu tác địa. 6. Hư không nội thanh tịnh vô cấu diệm quang khai tướng địa: Cũng gọi Không trung thắng tịnh vô cấu trì cự khai phu tác địa. 7. Quảng thắng pháp giới tạng minh giới địa: Cũng gọi Thắng quảng pháp giới tạng quang minh khởi địa. 8. Tối tịnh phổ giác trí tạng năng tịnh vô cấu biến vô ngại trí thông địa: Cũng gọi Tối thắng diệu tịnh Phật trí tạng quang minh biến chiếu thanh tịnh chư chướng trí thông địa. 9. Vô biên ức trang nghiêm hồi hướng năng chiếu minh địa: Cũng gọi Vô biên trang nghiêm câu chi nguyện Tì lô giá na quang tác địa. 10. Tì lô giá na trí hải tạng địa: Cũng gọi Trí hải bồi lô giá na địa. Kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ (Đại 16, 649 trung) nói: Công đức Thập địa của Như lai không thể nghĩ bàn. Này Thiện trượng phu! Sơ địa của Phật, tất cả tập khí nhỏ nhiệm đã bị diệt hết, được tự tại với tất cả pháp. Đệ nhị địa, chuyển pháp luân nói pháp sâu xa. Đệ tam địa, giảng nói các giới của Thanh văn, nói rõ Tam thừa. Đệ từ địa, giảng nói 8 vạn 4 nghìn pháp môn, hàng phục 4 thứ ma. Đệ ngũ địa, như pháp hàng phục các ngoại đạo, hàng phục ngạo mạn và chúng số. Đệ lục địa, chỉ dạy vô lượng chúng sinh được 6 thần thông, hiển hiện 6 thứ đại thần thông. Nghĩa là hiện vô biên cõi Phật thanh tịnh công đức trang nghiêm, hiển hiện vô biên Bồ tát đại chúng vây quanh, hiển hiện vô biên cõi Phật rộng lớn, hiển hiện vô biên tự thể cõi Phật, hiển hiện vô biên hình tướng từ cõi trời Đâu suất xuống trần gian gá thai cho đến lúc pháp diệt trong các cõi Phật, thị hiện vô biên thứ thần thông. Đệ thất địa vì các Bồ tát giảng nói như thực 7 phần Bồ đề vô sở hữu, cũng vô sở trước. Đệ bát địa, trao cho tất cả Bồ tát 4 thứ thụ kí A nậu đa la tam miệu tam bồ đề. Đệ cửu địa, vì các Bồ tát hiện các phương tiện thiện xảo. Đệ thập địa, vì các Bồ tát giảng nói tất cả các pháp vô sở hữu, lại nói cho biết tất cả các pháp xưa nay vốn là đại Niết bàn vắng lặng. Thập địa của Thanh văn, Thập địa của Bích chiphật và thập địa của Phật nói trên đây đều có xuất xứ từ kinh Đại thừa đồng tính quyển hạ, hợp cả 3 với Thập địa của Bồ tát mà gọi chung là Tứ thừa Thập địa. [X. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3; Hoa nghiêm kinh khổng mục chương Q.3; Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.6].
niệm
(念) I. Niệm. Phạm: Smfti, Smriti. Pàli: Sati. Ghi nhớ, tên của 1 tâm sở(tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo 1 cách rõ ràng không để quên mất. Trong tông Câu xá, Niệm được kể làm 1 trong 10 Đại địa pháp; còn trong tông Duy thức thì nó được xếp vào 1 trong 5 Biệt cảnh. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Du già sư địa Q.55]. II. Niệm. Chỉ cho quán niệm, khẩu niệm, tâm niệm. Quán niệm là quán tưởng Phật thân, Phật pháp; khẩu niệm là dùng miệng xưng danh hiệu của Phật; tâm niệm là dùng tâm tưởng nhớ Phật và Bồ tát. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn]. (xt. Thập Niệm). III. Niệm. Một trong Hành ngũ pháp. Nhớ nghĩ thế gian là hư dối không thực, không nên quyến luyến, mà nên xem việc tu hành thiền định và trí tuệ là quí báu. (xt. Hành Ngũ Pháp). IV. Niệm. Tên giai vị tu hành của Bồ tát, tức là giai vị thứ 2 trong Thập tín vị. (xt. Thập Tín). V. Niệm. Chỉ cho khoảng thời gian rất ngắn. Theo các kinh luận thì 1 niệm bằng 1 sát na, 60 sát na hay 90 sát na. [X. luận Đại trí độ Q.15, 60; Ma ha chỉ quán Q.3, phần 3]. (xt. Nhất Niệm, Sát Na).
ngũ nghịch
(五逆) Cũng gọi Ngũ nghịch tội. Chỉ cho 5 cái tội cực ác trái với đạo lí. Cứ theo thuyết của Tiểu thừa thì 5 tội nghịch là: 1. Hại mẹ, cũng gọi giết mẹ. (Phạm: Màtf-ghàta). 2. Hại cha, cũng gọi giết cha (Phạm: Pitfghàta). 3. Hại A la hán, cũng gọi giết A la hán (Phạm: Arhad-ghàta). 4. Ác tâm làm thân Phật ra máu, cũng gọi làm thân Phật ra máu (Phạm: Tathàgatasyàntike duwỉa-cittarudhirotpàdana). 5. Phá tăng, cũng gọi Phá hòa hợp tăng, Đấu loạn chúng tăng (Phạm: Saôghabheda). Trong 5 tội trên đây, 2 tội trước là bỏ ruộng ân nghĩa, 3 tội sau là hủy hoại ruộng đức, vì thế gọi là Năm tội nghịch, Năm tội nặng. Vì hành vi của 5 tội là nguyên nhân làm cho người vi phạm phải rơi vào địa ngục Vô gián nên cũng gọi là Năm nghiệp Vô gián (Phạm: Paĩca anantarya-karmàịi), gọi tắt là Năm vô gián hoặc 5 tội không cứu được. Ba tội trước là tội cố ý giết hại cha, mẹ và A la hán. Còn tội Phá hòa hợp tăng thì chia làm 2: a) Phá yết ma tăng: Li khai giáo đoàn mà mình vốn là 1 thành viên để thành lập giáo đoàn mới thực hành các việc bố tát, yết ma riêng rẽ. b) Phá pháp luân tăng: Tôn thờ thầy khác, lập học thuyết khác, tổ chức giáo đoàn riêng. Ngoài ra, theo luận Câu xá quyển 18, thì Ngũ vô gián đồng loại nghiệp (Phạm:Paĩca Upànantarìyaịi), cũng gọi Cận ngũ vô gián, Ngũ vô gián đồng phận, Cận ngũ nghịch, Loại tự ngũ nghịch, là 5 tội cùng loại với 5 nghiệp Vô gián nói trên. Tức là: 1. Ô nhiễm ni A la hán (Phạm:Màtur arhantyà dùwaịam). 2. Giết bồ tát Trụ định địa (Phạm: Niyatabhùmisthitasya bodhisattvasya màraịam). 3. Giết bậc thánh Hữu học (Phạm: Zaikwsasya màraịam). 4. Phá hòa hợp tăng (Phạm: Saôghàyadvàraharaịam). 5. Phá hoại tháp (Phạm: Stùpabhedanam). Kinh Đại tát già ni kiền tử sở thuyết quyển 4 thì nêu 5 tội nặng là: 1. Phá hoại chùa tháp, thiêu hủy kinh tượng, chiếm đoạt tài sản của Tam bảo, hoặc sai bảo người khác làm các việc ấy. 2. Chê bai Thanh văn, Duyên giác và pháp Đại thừa. 3. Cản trở người tu hành hoặc giết hại người xuất gia. 4. Vi phạm 1 trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa.5. Chủ trương không có nghiệp báo, thực hành 10 nghiệp bất thiện; hoặc không sợ quả báo đời sau, khuyến khích người khác làm 10 điều ác. Trong Kim quang minh tối thắng vương kinh sớ quyển 5, ngài Tuệ chiểu hợp tội giết cha và giết mẹ trong 5 tội nghịch của Tiểu thừa làm 1 và thêm tội phỉ báng Phật pháp mà lập thành 5 tội nghịch chung cho cả 3 thừa.[X. kinh Tăng nhất a hàm Q.47; kinh Kim quang minh tối thắng vương Q.3; kinh Đại tập địa tạng thập luân Q.3; luật Tứ phần Q.46; luật Thập tụng Q.36; luận Câu xá Q.17; luận Thuận chính lí Q.43; Du già luận kí Q.3, thượng, Q.5; Du già sư địa luận lược toản Q.4; Câu xá luận quang kí Q.18].
phương đẳng
(方等) Phạm: Vaipulya. Pàli: Vedalla. Hán âm: Tì phật lược, Tì phú la, Phỉ phì la, Vi đầu li. Hán dịch: Phương quảng, Quảng phá, Quảng đại, Quảng bác, Quảng giải, Quảng, Vô tỉ. Cũng gọi Đại phương quảng, Đại phương đẳng. Danh từ chỉ chung cho các kinh Đại thừa, là các kinh nói về nghĩa rộng lớn, sâu xa. Là 1 trong 9 bộ loại kinh, 1 trong 12 thể tài kinh. (xt. Tì Phật Lược).
thiện tri thức
(善知識) Phạm: Kalyàịamitra. Pàli:Kalyàịa-mitta. Hán âm: Ca la mật, Ca lí dã nẵng mật đát la. Cũng gọi Tri thức, Thiện hữu, Thân hữu, Thắng hữu, Thiện thân hữu. Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dắt dẫn ta đi vào tà đạo thì gọi là Ác hữu.Cứ theo phẩm Thường đề trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27 thì người có khả năng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô diệt và Nhất thiết chủng trí, khiến người nghe vui vẻ tin ưa, gọi là Thiện tri thức. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm ghi rằng trong quá trình cầu đạo, đồng tử Thiện tài đã tham phỏng 55 vị Thiện tri thức(thông thường nói chỉ có 53 vị Thiện tri thức), tức trên từ chư Phật, Bồ tát, dưới đến người, trời... bất luận xuất hiện dưới hình thức nào, hễ có năng lực dắt dẫn chúng sinh đi theo con đường bỏ ác, tu thiện để bước vào đạo Phật, thì đều có thể được gọi là Thiện tri thức. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì trích dẫn luận Du già sư địa nêu lên 10 thứ công đức của Thiện tri thức là: Điều phục, tịch tĩnh, trừ hoặc, tăng đức, dũng mãnh, kinh phú, giác chân, thiện thuyết, bi thâm và li thoái. Lại theo Luật Tứ phần quyển 41 thì Thiện thân hữu phải có đủ 7 điều kiện là: Cho được cái khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, đem việc kín bảo cho nhau biết, khuyên nhau không che giấu điều lỗi, gặp khổ nạn không bỏ nhau và nghèo hèn không khinh nhau, gọi là Thiện hữu thất sự(bảy việc của người bạn lành). Trong kinh luận có nêu các loại Thiện tri thức khác nhau, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 hạ của ngài Trí khải thì có 3 loại Thiện tri thức dưới đây: 1. Ngoại hộ: Giúp đỡ ở bên ngoài để bạn được an ổn tu đạo. 2. Đồng hành: Cùng nhau hành động, khích lệ lẫn nhau. 3. Giáo thụ: Nói pháp khéo léo. Theo Câu xá luận tụng sớ quyển 29 của ngài Viên huy thì người bạn cho pháp là Thượng thân hữu, người cho của và pháp là Trung thân hữu, còn người chỉ cho của không thôi thì là Hạ thân hữu; trên đây gọi là Tam hữu. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 cũng nêu ra 3 loại Thiện tri thức là Nhận, Pháp và Nhân pháp hợp biện.Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ) thì có 10 loại Thiện tri thức đó là: 1. Thiện tri thức thường giúp đỡ bạn an trụ nơi tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức có năng lực khiến bạn tu tập các căn lành. 3. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu cácBa la mật một cách rốt ráo. 4. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn phân biệt giảng nói tất cả pháp. 5. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ và thành thục tất cả chúng sinh. 6. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn có đủ biện tài giải đáp được các nghi vấn. 7. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn không bám níu tất cả sinh tử. 8. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu hạnh Bồ tát trong tất cả kiếp mà tâm không chán mỏi. 9. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ nơi hạnh Phổ hiền. 10. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tiến sâu vào tất cả trí của Phật. [X.kinh Tạp a hàm Q.27, 36, 45; kinh Tức vị tỉ khưu thuyết trong Trung a hàm Q.10; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Thiện tri thức trong kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Thi a la việt lục phương lễ; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Nam); phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.71, 96]. (xt. TriThức).