Trích Dẫn Tịnh Ðộ Thập Nghi Luận Của Thiên Thai Trí Giả Đại Sư Đời Tùy
Mao Lăng Vân | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Muốn quyết định sanh về Tây Phương nếu đủ hai hạnh, sẽ nhất định được sanh về đó:

1. Một là hạnh Chán Lìa: Từ vô thỉ đến nay, phàm phu bị ngũ dục trói buộc, luân hồi ngũ đạo, chịu đủ các khổ, chẳng khởi tâm chán lìa ngũ dục, chưa từng có thuở thoát ra. Vì thế, thường quán thân này bất tịnh, hôi thối, nhơ bẩn, chỉ khổ, không vui, sanh lòng chán lìa sâu xa. Ví dù chưa dứt ngay chuyện mây mưa thì cũng dần dần sanh chán. Thực hành bảy thứ Bất Tịnh Quán thì sẽ sanh lòng chán lìa sâu xa những cảnh giới yêu thích, thân thể nam, nữ v.v… Nếu có thể thường quán bất tịnh như thế, phiền não dâm dục sẽ dần dần giảm thiểu. Lại thực hành các phép quán Thập Tưởng như kinh đã giảng rộng. Lại còn phát nguyện, nguyện ta vĩnh viễn xa lìa tam giới tạp thực, hôi thối, nhơ bẩn, máu mủ bất tịnh, đắm đuối trong ngũ dục, thân thể nam nữ, nguyện được Tịnh Ðộ Pháp Tánh Sanh Thân. Ðấy là hạnh Chán Lìa.

2. Hai là hạnh Hân Nguyện. [Hạnh Hân Nguyện] lại gồm hai điều:

2.1. Một là trước hết phải hiểu rõ cầu sanh Tịnh Ðộ là vì muốn dẹp khổ cho hết thảy chúng sanh, liền tự suy nghĩ: Ta nay không có sức cứu khổ chúng sanh; vì thế, cầu sanh Tịnh Ðộ, thân cận chư Phật. Nếu chứng Vô Sanh Nhẫn thì mới có thể cứu khổ chúng sanh đời ác.

2.2. Hai là quán những sự trang nghiêm trong cõi Tịnh Ðộ kia, tâm thích thú nguyện cầu, thường hành Niệm Phật Tam-muội, và thí, giới, tu v.v… hết thảy các thiện hạnh đều hồi thí hết thảy chúng sanh, cùng sanh về cõi kia, quyết định được vãng sanh. Ðấy là Hân Nguyện Môn.

Nhận định:

Từng nghe cổ đức nói: “Nếu ai vào lúc lâm chung có chút tình thức nghĩ đến thế giới Sa Bà dù bằng hạt cải, sẽ trọn chẳng thể sanh về Tịnh Ðộ”. Ðại Sư là hậu thân của Phật Thích Ca, chỉ dạy hai môn Ưa, Chán, thật là cách đối trị khéo léo. Xin hãy tin Sa Bà là khổ, Tịnh Ðộ đáng quay về. Ưa chán quyết liệt thì lúc lâm chung sẽ tự chẳng còn tơ hào tình thức nghĩ đến thân hay thế giới này mà chướng ngại vãng sanh.
 
Trích từ: Niệm Phật Pháp Yếu

Từ Ngữ Phật Học
sa bà
(娑婆) Phạn: Sahà. Cũng gọi Sa ha, Sách ha. Hán dịch: Nhẫn, Kham nhẫn, Năng nhẫn, Nhẫn độ. Chỉ cho thế giới Sa bà (Phạm:Sahàlokadhàtu), tức là thế giới hiện thực do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa. Chúng sinh trong thế giới này làm 10 điều ác, chịu đựng các phiền não mà không muốn lìa bỏ, vì thế gọi là Nhẫn. Lại khi chư Phật, Bồ tát làm việc lợi lạc ở thế gian này, các Ngài phải chịu mọi thứ phiền não để biểu thị lòng vô úy và từ bi của cácNgài, cũng gọi là Nhẫn. Sa bà còn được dịch là Tạp ác, Tạp hội, nghĩa là cõi Sa bà là chỗ Tam ác, Ngũ thú tụ hội phức tạp. Ngoài ra, danh từ Sa bà vốn chỉ cho cõi Diêm phù đề, nơi cư trú của chúng sinh, đời sau, Sa bà trở thành 1 thế giới Tam thiên đại thiên do đức Phật Thích ca mâu ni giáo hóa, cho nên gọi chung thế giới có trăm ức núi Tu di là Sa bà. [X. Pháp hoa văn cú Q.2, hạ; Pháp hoa huyền tán Q.2; Đại đường tây vực kí Q.1].
thập tưởng
(十想) Chỉ cho 10 tư tưởng hoặc 10 điều phải quán tưởng. Đó là: 1. Vô thường tưởng: Quán xét tất cả cácpháp hữu vi luôn luôn sinh diệt, vô thường biến hoại. 2. Khổ tưởng: Quán xét tất cả pháp hữu vi là vô thường, luôn bị 3 khổ, 8 khổ bức bách. 3. Vô ngã tưởng: Quán tưởng tất cả pháp là khổ, cũng không tự tại, đều do nhânduyên sinh và không có tự tính, cho nên là vô ngã. 4. Thực bất tịnh tưởng: Quán tưởng tất cả thức ăn uống của thế gian đều từ các nhân duyên nhơ nhớp sinh ra, tất thảy là vật bất tịnh. 5. Nhất thiết thế gian bất khả lạc tưởng: Quán tưởng tất cả thế gian không có một điều gì là vui thú, chỉ toàn là tội lỗi, xấu ác. 6. Tử tưởng: Quán tưởng về tướng của cái chết. 7. Bất tịnh tưởng: Quán tưởng 36 vật bên trong thân con người và 9 cái lỗ ở ngoài thân đều bài tiết ra những thứ hôi thối, nhớp nhúa. 8. Đoạn tưởng. 9. Li dục tưởng. 10. Tận tưởng. Ba tưởng sau cùng là quán tưởng được Bồ đề niết bàn, đoạn trừ phiền não, lìa bỏ cõi mê sống chết và dứt hết hoặc nghiệp sinh tử. Về sự đồng dị giữa Thập tưởng và Cửu tướng quán(tức Cửu tưởng, là 9 pháp quán bất tịnh về xác chết của con người nhằm diệt trừ tham dục) thì luận Đại trí độ quyển 21 có nêu ra nhiều thuyết. Có thuyết cho rằng Cửu tướng quán chưa được thiền định, vẫn còn bị dâm dục ngăn che, còn Thập tưởng thì có năng lực diệt trừ 3 độc như dâm dục... Hoặc cho rằng Cửu tướng quán là sơ học, còn Thập tưởng là thành tựu. Hoặc có thuyết chủ trương Thập tưởng và Cửu tướng quán đồng là lìa dục, đều là Niết bàn. Cũng có thuyết cho rằng Cửu tướng quán là nhân, còn Thập tưởng là quả. Lại có thuyết chủ trương Cửu tướng quán là môn ngoài, mà Thập tưởng là môn trong. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.14].
Vô sanh
(無生): còn gọi là vô khởi (無起), có hai nghĩa. (1) Thật tướng của các pháp không có sanh diệt; đồng nghĩa với vô sanh diệt (無生滅) hoặc vô sanh vô diệt (無生無滅). Sự tồn tại của các pháp vốn không có thật thể, do nhân duyên mà thành, là không, nên có thể nói rằng không có sanh diệt. Tuy nhiên, hạng phàm phu mê lầm lý vô sanh này, nên khởi lên phiền não về sanh diệt, vì vậy bị lưu chuyển sanh tử. Nếu nương theo kinh luận, quán lý vô sanh thì có thể trừ được phiền não sanh diệt. (2) Là ý dịch của A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢) hay Niết Bàn (s: nirvāṇa, p: nibbāna, 涅槃). A La Hán có nghĩa là bất sanh (不生, không sanh), tức đoạn tận phiền não của Ba Cõi, không còn trở lại thọ sanh trong Ba Cõi này nữa. Lại nữa, người nương theo bản nguyện vãng sanh Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà, là khế hợp với bản nguyện của Ngài, nhân vô sanh này chính là lý của Niết Bàn; cho nên khác với cái gọi là sanh vọng tưởng hư huyễn trong nội tâm của kẻ phàm phu. Về điểm này, Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Bà Đề Xá Nguyện Sanh Kệ Chú (無量壽經優婆提舍願生偈註, tức Vãng Sanh Luận Chú [往生論註], Taishō Vol. 40, No. 1819) quyển Hạ gọi là “vô sanh chi sanh (無生之生, sanh của vô sanh).” Từ quan điểm không sanh diệt của Niết Bàn mà nói, tức chỉ giác ngộ Niết Bàn, cũng tức là chứng đắc thân vô sanh; Cực Lạc là khế hợp với thế giới của Niết Bàn; và từ nghĩa này, có tên gọi là vô sanh giới (無生界, cõi vô sanh). Đại Phương Quảng Viên Giác Tu Đa La Liễu Nghĩa Kinh (大方廣圓覺修多羅了義經, Taishō Vol. 17, No. 842) quyển 1 dạy rằng: “Nhất thiết chúng sanh ư vô sanh trung, vọng kiến sanh diệt, thị cố thuyết danh luân chuyển sanh tử (一切眾生於無生中、妄見生滅、是故說名轉輪生死, hết thảy chúng sanh trong vô sanh, lầm thấy sanh diệt, cho nên gọi là luân chuyển sanh tử).” Trong Kim Quang Minh Tối Thắng Vương Kinh (金光明最勝王經, Taishō Vol. 16, No. 665) quyển 1 còn khẳng định thêm rằng: “Vô sanh thị thật, sanh thị hư vọng, ngu si chi nhân, phiêu nịch sanh tử, Như Lai thật thể, vô hữu hư vọng, danh vi Niết Bàn (無生是實、生是虛妄、愚痴之人、漂溺生死、如來體實、無有虛妄、名爲涅槃, vô sanh là thật, sanh là giả dối, người mà ngu si, trôi lăn sanh tử, thật thể Như Lai, không có giả dối, gọi là Niết Bàn).” Hay trong Phật Thuyết Nhân Vương Bát Nhã Ba La Mật Kinh (佛說仁王般若波羅蜜經, Taishō Vol. 8, No. 245) quyển Thượng cũng cho biết rằng: “Nhất thiết pháp tánh chân thật không, bất lai bất khứ, vô sanh vô diệt, đồng chơn tế, đẳng pháp tánh (一切法性眞實空、不來不去、無生無滅、同眞際、等法性, tất cả pháp tánh chân thật không, chẳng đến chẳng đi, không sanh không diệt, đồng với chơn tế, ngang với pháp tánh).” Trong bài kệ thị tịch Thiền sư Quảng Nghiêm (廣嚴, 1121-1190) thuộc thế hệ thứ 11 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông Việt Nam có câu rằng: “Ly tịch phương ngôn tịch diệt khứ, sanh vô sanh hậu thuyết vô sanh (離寂方言寂滅去、生無生後說無生, lìa diệt mới cho tịch diệt hết, đạt vô sanh rồi nói vô sanh).”
Ngũ đạo
五道; C: wǔdào; J: godō;
Có hai nghĩa:
1. Chỉ năm đường tái sinh của Hữu tình, đó là Lục đạo loại trừ A-tu-la ra, bao gồm: Địa ngục (地獄), Ngạ quỷ (餓鬼), Súc sinh (畜生), Nhân gian (人間), và Thiên thượng (天上). Cũng viết là Ngũ thú (五趣; s: gati-pañcaka).
2. Ngũ đạo (s: pañca-mārga), cũng được gọi là Duy thức tu đạo ngũ vị; song song với Thập địa là con đường tu học của một vị Bồ Tát với năm giai đoạn, được Ðại sư Vô Trước (asaṅga) đề xướng: 1. Tư lương đạo (資糧道; saṃbhāra-mārga), tức là tích trữ lương Phật đạo, trì Giới, Nhiếp căn, tu tập Chỉ, Quán; 2. Gia hạnh đạo (加行道; prayoga-mārga), ở đây có nghĩa là chuẩn bị, tu tập như trên để những thiện căn vững chắc, trở thành thiện căn bản (kuśalamūla); 3. Kiến đạo (見道; darśana-mārga), cũng được gọi là Thông đạt đạo; 4. Tu tập đạo (修習道; bhāvanā-mārga), thực hành 37 Bồ-đề phần; 5. Vô học đạo (無學道; aśaikṣa-mārga), có nghĩa là đến bờ bên kia, không còn gì để học, cũng được gọi là Cứu kính đạo (究竟道; niṣṭhāmārga), tức là đạo tột cùng, đạo tuyệt đối đoạn hoặc, chứng ngộ chân lí;
Các phép tu hành của mỗi giai đoạn trên được trình bày khác nhau trong Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa (prat-yekabuddhayāna) và Bồ Tát thừa (bo-dhisattvayāna). Trong Bồ Tát thừa thì Kiến đạo mới là bước đầu của Bồ Tát thập địa. Mặc dù có mang tên là Duy thức tu đạo ngũ vị nhưng ngũ đạo được áp dụng trong tất cả các tông phái Phật giáo Ðại thừa. Tại Tây Tạng, Ngũ đạo được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm mang tên Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim).
Phiền não

Phiền não: là tiếng gọi tổng quát chỉ cho những hiện tượng tâm lí xấu xa, sai lầm, là động lực thúc đẩy con người gây nên mọi điều tội lỗi về cả ba nghiệp thân, miệng và ý; khiến cho thân tâm lúc nào cũng vọng động, lầm lạc, đau khổ, lo buồn, xao xuyến, bất an. Phiền não có những tên gọi khác là: sử (đeo đuổi, sai khiến, thôi thúc chúng sinh gây nghiệp ác), lậu (làm cho chúng sinh lọt vào vòng sinh tử luân hồi), kết (thắt buộc, kết tụ), hoặc (sai lầm), cấu (dơ bẩn), nhiễm (ô uế), tùy miên (đeo dính khiến chúng sinh lúc nào cũng ở trong trạng thái hôn muội trầm trọng), triền (quấn chặt, trói buộc), cái (che lấp), thủ (giữ chặt), bạo lưu (cuốn trôi), trần cấu (bụi bẩn). Mục đích tối cao của người tu học Phật là giác ngộ giải thoát; vậy, tất cả những gì làm cho chúng sinh bị chướng ngại trên bước đường tiến tới đạo quả giác ngộ giải thoát, đều được coi là phiền não.

Phần nhiều các kinh luận cho rằng, tham sân si là ba thứ phiền não độc dữ nhất (tam độc), là cội nguồn sinh ra bao thứ phiền não khác. Các vị luận sư chuyên về tâm lí học Phật giáo (như hai tông phái Câu Xá và Duy Thức) thường chia phiền não làm hai loại tổng quát: phiền não căn bản và phiền não chi mạt (tức tùy phiền não). Đi vào chi tiết thì giữa Câu Xá và Duy Thức có những trình bày khác nhau. Những chi tiết sau đây được trình bày theo tông Duy Thức:

- Căn bản phiền não rất khó đoạn trừ, gồm có 6 thứ: tham, sân, si (vô minh), mạn, nghi, kiến (ác kiến); ác kiến lại chia làm năm thứ: thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến, giới cấm thủ kiến. Tổng cộng có 10 phiền não (cũng gọi là mười tùy miên, mười sử). Năm thứ phiền não tham, sân, si, mạn và nghi, được gọi đặc biệt là “năm độn sử” (khó đoạn trừ); năm thứ ác kiến được gọi đặc biệt là “năm lợi sử” (dễ đoạn trừ). (Xem mục “Phiền Não Căn Bản”)

- Tùy phiền não là các phiền não phụ thuộc của các phiền não căn bản ở trên, dễ diệt trừ hơn, gồm có 20 thứ: phẫnhậnphúnãotậtxancuốngsiểm, hạikiêuvô tàmvô quítrạo cửhôn trầmbất tíngiải đãiphóng dậtthất niệmtán loạnbất chánh tri(Xem mục “Phiền Não Tùy Thuộc”)

Duy Thức Học còn nói rằng: Thức thứ bảy (mạt-na thức) có bản chất là chấp ngã, vì luôn luôn có bốn thứ phiền não căn bản đeo dính bên mình, đó là: ngã si (tức là si), ngã kiến (tức là ác kiến), ngã mạn (tức là mạn) và ngã ái (tức là tham).

Thật ra, con người ở thời đại ngày nay, nếu quán chiếu kĩ vào nội tâm, chúng ta sẽ thấy số lượng các “tùy phiền não” còn nhiều hơn gấp bội so với hai mươi thứ như tông Duy Thức vừa trình bày trên.

năm dục
(ngũ dục): năm sự vui sướng, khoái lạc có được khi năm giác quan tiếp xúc với những đối tượng ưa thích, như mắt được ngắm những hình sắc thích ý, tai được nghe những âm thanh êm dịu, mũi được ngửi mùi hương ưa thích... Năm dục cũng là năm sự ham muốn được hưởng thụ những sự khoái lạc này, nên bao gồm: 1. Sắc dục: Ham muốn sắc đẹp. 2. Thanh dục: Ham muốn âm thanh êm dịu, thích tai. 3. Hương dục: Ham muốn mùi thơm. 4. Vị dục: Ham muốn vị ngon ngọt. 5. Xúc dục: Ham muốn sự đụng chạm êm ái.