Ngay nơi tánh tức là tướng.  Vậy thì tánh, tướng chẳng phải , chẳng phải không; cánh cửa lý, sự cũng không có trở ngại .  Cho nên, lời nói khẳng định, lời nói phủ định đều sử dụng bổ túc lẫn nhau.  Nói không cũng như hồ trong trăng chiếu, như trăm ngàn bóng hoa hiện trên tấm gương sáng, khác với cái không của lông rùa, sừng thỏ.  Nói  cũng như gió cuốn, mây bay, khác với cái  cứng rắn, trở ngại của vàng ròng, đá núi.  Vì vậy, những kẻ chấp vào danh tướng là phàm phu tục tử.  Nếu bài nhân, bác quả thì rơi vào kiến chấp không của ngoại đạo.  Tuy biết cõi Phật trong mộng nhưng đều nguyện vãng sinh.  Mặc dù biết thánh hiền như bóng bọt nhưng vẫn tha thiết chiêm ngưỡng.  Nói chân, nói tướng cũng như da lành nổi ung nhọt.  Nói , nói không cũng như chấm tuyết trên lò lửa hồng.  Vì vậy, đứng về phương diện chân đế, xin phân biệt làm bốn môn:

1/ Ngay nơi tướng tức là tâm.
2/ Ngay nơi tâm tức là tướng.
3/ Không phải tâm mà cũng không phải tướng.
4/ Ly tức ly phi.

1. Ngay nơi tướng tức là tâm

Tịnh độ cảnh quán yếu môn nói: “Kinh ghi: Chân tâm trùm khắp thái hư, lượng khắp châu sa giới”.  Lại nói: “Tâm như họa sĩ vẽ ra các thứ ngũ ấm; trong tất cả thế gian đều do tâm tạo ra.  Hồ báu, đất báu, cây báu, ba mươi hai tướng, thân chánh báo của đại chúng…ở cõi Cực Lạc đều sẵn đầy đủ trong tự tâm của ta, đều do tâm ta làm ra, chứ  không phải do ai khác mà được, cũng không phải từ bên ngoài đến”.  Nếu biết rõ được điều này thì mới có thể bàn luận về ngay nơi tự tâm mà quán Phật.  Quán kinh ghi:”Các đức Phật Như Lai là thân pháp giới đi vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sinh”, đến câu “Tám mươi vẻ đẹp tùy hình”.  Đại sư Thiên Thai giải thích hai nghĩa:

– Đứng về phương diện cảm ứng đạo giao.

– Đứng về phương diện kiến giải và thực hành đi đôi với nhau.

Nếu không có lời giải thích đầu tiên thì sự tu quán không phải là quán Phật .  Nếu không có lời giải thích thứ hai thì cho rằng ngoài tâm có Phật cho đến giải thích: “Tâm này làm Phật, tâm này là Phật”.

Nếu đứng về phương diện tu quán mà nói, thì mệnh danh tâm này làm Phật.  Nếu đứng về phương diện sẵn đủ mà nói, thì mệnh danh tâm này là Phật.  Đó là nghĩa trùm khắp từ đầu đến cuối của kinh này.  Cũng một đoạn khác của kinh này nói: “Tâm này quán tưởng mặt trời thì tâm này là mặt trời, tâm này quán tưởng Thế Chí thì tâm này là Thế Chí”, cho đến trong chín phẩm theo cảnh để quán tưởng cũng đều như vậy.  Lại nói: “Quán tâm, quán Phật đều thuộc cảnh hư vọng”, ý muốn nói rằng rõ được vọng tức là chân thì không cần phá vọng, sau đó liền hiển bày cái chân thật.  Ngài Kinh Khê nói: “Nói duy tâm chẳng lẽ chỉ có chân tâm sao?  Phải biết tâm phiền não trùm khắp, ông còn không biết tâm phiền não trùm khắp thì làm sao ông có thể biết rõ sắc chất sinh tử trùm khắp?  Tại sao sắc chất trùm khắp?  Vì sắc tức là tâm.  Nếu như vậy, không cần phải nhiếp Phật trở về nguồn tâm mới gọi là quán Phật trong tâm.  Hiểu rõ như thế thì không những hiểu sâu được ý Phật mà cũng là vượt hẳn thường tình”.

Tông cảnh lục ghi: “Tự tâm trùm khắp tất cả chỗ.  Vì thế, nếu thấy tha Phật thì thấy tự Phật, chứ không phá hoại cảnh giới của tự, tha, vì chỉ là một tâm mà thôi.  Chúng sinh như khuôn bao phủ tượng Phật, nếu đập vỡ được khuôn thì thấy được tự Phật, mà cũng thấy được tha Phật.  Tại sao vậy?  Tuy thấy tha Phật nhưng cũng là thấy tự Phật, vì từ một khuôn đúc ra, mà cũng không hoại tha Phật.  Bởi lẽ, trên bản chất của tự Phật, dù có biến  hiện ra hình ảnh của tha Phật mà vẫn là tự tướng phần”.  Lại nói: “Tự tâm cảm hiện, thân Phật đến tiếp dẫn”.  Thế nhưng, thân Phật thường tịch không có đến, đi.  Tâm thức của chúng sinh nương nhờ năng lực công đức thù thắng của bản Phật mà thấy có đến, đi, như muôn ngàn hình tượng trên mặt gương, khác gì những việc trong chiêm bao.  Hình tượng trên mặt gương kia chẳng phải bên trong, chẳng phải bên ngoài.  Tính chất của chiêm bao chẳng phải có mà cũng chẳng phải không, chỉ là tự tâm biến hiện, chứ  không có quan hệ gì đến Phật biến hiện.

Vì thế, nên biết, khi tịnh nghiệp chín muồi thì hành giả thấy thân Phật.  Khi quả ác sắp thành thì tâm hiện địa ngục, như người có phước đức thì cầm nắm đá nhưng trở thành vàng, người có nghiệp bần cùng thì cầm nắm vàng nhưng trở thành đá.  Đá không phải là vàng mà vàng tự hiện, vàng không phải là đá mà đá tự bày.  Có được vàng chỉ là tâm sinh, đá hiện bày chỉ từ tâm hiện.  Những sự chuyển biến ấy là do tự tâm của ta, chứ không do đâu khác mà có đá, vàng.  Kinh Chánh pháp niệm xứ ghi: “Như họa sĩ thông minh, khéo léo, sử dụng đủ loại màu sắc, anh ta sử dụng màu trắng thì vẽ ra màu trắng. Anh ta sử dụng màu đỏ, màu vàng, màu xám tro, màu đen thì vẽ ra màu đỏ, màu vàng, màu xám tro, màu đen.  Tâm nghiệp ví như họa sĩ cũng theo đây suy ra mà biết.  Tâm nghiệp nghĩ đến màu trắng thì sử dụng màu trắng; ở trong cõi trời, cõi người vẽ ra màu trắng.  Màu trắng có ý nghĩa gì?  Màu trắng chỉ về việc không bị các dục, các lậu dơ bẩn làm ô nhiễm.  Tâm nghiệp ví như họa sĩ sử dụng màu đỏ; ở trong cõi trời, cõi người có thể vẽ màu đỏ. Màu đỏ có ý nghĩa gì?  Màu đỏ chỉ về sự ưa thích thinh, hương, vị, xúc.  Tâm nghiệp ví như họa sĩ sử dụng màu vàng; ở trong cõi súc sinh có thể vẽ ra  màu vàng.  Màu vàng có ý nghĩa gì?  Màu vàng chỉ về  những chúng sinh uống máu, ăn thịt lẫn nhau; tham lam, giận dữ, si mê, giết hại với nhau.  Tâm nghiệp ví như họa sĩ sử dụng màu xám tro; ở trong cõi ngạ quỷ suy tư, quán sát để vẽ ra màu xám tro dơ bẩn.  Màu xám tro có ý nghĩa gì?  Màu xám tro chỉ về thân kia giống như rừng cây bị thiêu đốt, mà cũng chỉ về sự đói khát làm khó chịu, các thứ khổ bức bách.  Tâm nghiệp ví như họa sĩ sử dụng màu đen; ở trong cõi địa ngục vẽ ra màu đen.  Màu đen có ý nghĩa gì?  Màu đen chỉ về những nghiệp ác như rơi vào địa ngục có bức tường bằng sắt màu đen, bị trói, bị đốt thân thể đen ngòm. Tâm nghiệp ví như họa sĩ khéo sử dụng màu sắc thuộc về thiền định, nghĩ về cảnh giới trong sáng để khéo vẽ ra những màu sắc tươi đẹp.  Tất cả đều là tự tâm, chứ không phải do một người nào khác làm ra.  Vì thế, nên biết, tâm nghiệp ví như họa sĩ sử dụng màu sắc thuần tịnh vẽ tịnh độ cũng theo đây suy ra mà biết”.

Kinh Bát chu tam muội ghi: “Khi được tam muội này, bồ tát dù đang ngồi ở chỗ của mình nhưng thấy Phật A Di Đà, như có người nghe nước Tỳ Da Ly có dâm nữ Am La Bà Lợi, nước Xá Vệ có dâm nữ Tu Mạn Na, thành Vương Xá có dâm nữ Ưu Bát La Bàn Na.  Khi ấy có ba người khách mà người nào cũng đều nghe người khác khen ngợi ba cô kia vô cùng xinh đẹp.  Ngày đêm, ba người khách đều ôm lòng thầm yêu trộm nhớ cho đến trong giấc chiêm bao cũng thấy hình bóng kiều diễm kia.  Khi giật mình thức dậy, cả ba người đều suy nghĩ rằng: “Cô kia không đến, ta cũng không đi mà việc dâm thành tựu”.  Do đó, họ ngộ tất cả pháp đều như vậy chăng?  Họ đến bạch vói bồ tát Bạt Đà Hòa, bồ tát nói: “Thật vậy, các pháp đều từ tự tâm sinh ra”.  Ba người khách liền đắc bất thoái chuyển”.

Ở trong cõi nước này, nghe danh hiệu Phật A Di Đà, bồ tát thường niệm.  Vì thường niệm nên bồ tát thấy Phật A Di Đà, như có người đi xa đến một địa phương khác, tâm tư nhớ về quê xưa, vợ chồng, bà con thân thuộc, tài sản.  Trong giấc chiêm bao, người ấy trở về cố hương thấy vợ chồng, bà con thân thuộc vui mừng, trò chuyện với nhau.  Khi giật mình thức dậy, người ấy kể lại cho người tri thức biết về những việc mộng mị của mình.

Đại loại như vậy, nghe danh hiệu Phật ở phương hướng nào, bồ tát thường nhớ đến phương hướng ấy và cũng mong muốn thấy Phật, bồ tát thấy tất cả Phật, như có thầy tỳ kheo quán tưởng xương cốt của người chết ở trước mặt mình.  Có khi quán tưởng xương cốt màu xanh, có khi quán tưởng xương cốt màu trắng, màu đỏ, màu đen.  Những xương cốt kia không có ai đem đến, không có xương cốt kia, mà cũng không từ chỗ khác đến, chỉ do ý niệm quán tưởng xương cốt mà thôi.  Đại loại như vậy, bồ tát muốn thấy Phật ở phương nào thì liền thấy.  Tại sao vậy?  Vì năng lực oai thần của Phật, năng lực tam muội của Phật, năng lực công đức sẵn có của Phật.  Vì vận dụng ba năng lực ấy cho nên thấy được Phật, như cô gái trẻ đẹp sử dụng cái bình sạch sẽ đựng dầu mè loại thượng hạng hoặc đựng nước trong vắt, hoặc cô ta cầm tấm gương mới mài bằng đồng, hoặc gương thủy tinh.  Vậy thì vóc dáng của cô ta phản chiếu ở trên các mặt phẳng ấy.  Tại sao vậy?  Vì các mặt phẳng ấy trong sáng thì tự thấy được bóng của mình.  Cái bóng kia không phải từ các mặt phẳng ấy xuất hiện, cũng không phải từ bên ngoài bước vào.  Vì bồ tát khéo thanh tịnh tâm nên tùy ý thấy các đức Phật.  Khi thấy các đức Phật rồi, thì tâm tư vui mừng, phấn chấn.  Bồ tát suy nghĩ: “Phật từ đâu đến, thân ta cũng không đi”.  Ngay khi ấy liền biết rằng: “Phật không đến, ta cũng không đi”.  Bồ tát lại suy nghĩ: “Tất cả các pháp trong ba cõi đều do tâm tạo ra.  Tại sao vậy?  Vì tùy theo sự suy nghĩ của tâm thảy đều thấy được, vì tâm thấy Phật, vì tâm làm Phật, tâm tức là Phật, tâm tức là thân ta.  Tâm không tự biết mà cũng không tự thấy.  Nếu người nào muốn nắm bắt tướng của tự tâm thì đó là người ngu si.  Tâm cũng dối trá đều do vô minh sinh ra.  Người liễu ngộ được tướng của tự tâm tức là thể nhập thật tướng của các pháp”.

Vì thế, nên biết, ngoài tâm thấy Phật tức là cảnh giới của ma.  Tại sao vậy?  Vì không có một pháp nào ở ngoài tự tâm, vì tâm tánh không có pháp nào ở ngoài.  Vậy thì tất cả các pháp trong mười phương, ba đời đều không ở ngoài tự tâm.  Nếu hành giả thông suốt được ngoài tâm không có pháp nào hết thì cảnh giới ma tức là cảnh giới Phật, vì chỉ có một chân như chứ không phải có hai chân.

2. Ngay nơi tâm tức là tướng

Nếu nói các pháp tất cánh không thì phải có các pháp.  Nếu các pháp có tánh quyết định thì các pháp không thể nào thành lập được.  Kinh Bát nhã ghi: “Nếu các pháp không thể không thì không có đạo pháp, không có chứng quả”.  Kinh Pháp cú ghi: “Ở trong cái tất cánh không, bồ tát tích cực thành lập vạn hạnh”.  Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Vị đại bồ tát biết rõ thân của mình cũng như thân của chúng sinh xưa nay tịch diệt mà siêng tu phước trí không bao giờ thỏa mãn.  Đối với các cảnh giới, bồ tát vĩnh viễn xa lìa tham dục, thường ưa thích chiêm ngưỡng, phụng thờ sắc thân của các đức Phật.  Mặc dù biết cõi Phật như hư  không nhưng mà bồ tát thường trang nghiêm cõi  Phật.  Vì nghĩa này, cho nên bồ tát ưa thích tu Tịnh Độ”.  Luận Quần nghi có câu hỏi:  “Cõi nước các đức Phật đều không, hành giả quán sát chúng sinh như đại thứ năm thì đâu được chấp tướng mà bỏ Ta Bà, cầu sinh về Cực Lạc?

Đáp: Các đức Phật nói pháp không rời chân đế và tục đế.  Kinh nói: “Thành tựu tất cả pháp mà lìa tướng các pháp”.  Thành tựu tất cả pháp tức là các pháp tục đế.  Lìa tướng các pháp  tức là đệ nhất nghĩa đế (chân đế) vô tướng.  Lại nói: “Tuy biết cõi nước của các đức Phật cùng với chúng sinh đều không, nhưng thường tu Tịnh Độ, giáo hóa quần sinh”.  Ông chỉ thấy giáo nói về viên thành thật tướng và văn phá biến kế sở chấp để đạt cái tất cánh không mà không tin giáo nói về nhân duyên y tha khởi tánh thì ông là người không tin nhân quả.  Nếu ông nói về tướng đoạn diệt của các pháp thì ông là người ngoại đạo, tà kiến”.

Luận Thập nghi ghi: “Lý bất sinh bất diệt nghĩa là lý  các pháp do nhân duyên hòa hợp, chứ không có tự tánh.  Vì vậy, mong cầu cái thể của sinh cũng không bao giờ được.  Đối với sự sinh này, ngay khi các pháp sinh ra cũng không từ đâu đến, nên gọi là bất sinh.  Khi các pháp tan rã cũng không đi về đâu, nên gọi là bất diệt.  Lý bất sinh bất diệt không phải ngoài nhân duyên sinh diệt mà có, cũng không phải không cầu sinh về Tịnh Độ mới gọi là vô sinh”.  Luận Trung quán ghi:

Các pháp do duyên sinh,
Ta nói tức là không.
Đó gọi là giả danh,
Cũng là nghĩa trung đạo”.

Lại nói: “Các pháp không tự sinh, không từ cái khác sinh, không cộng sinh mà cũng không phải vô nhân, cho nên nói vô sinh…”

Lại nói: “Như có người xây cất nhà cửa, nếu xây cất trên mảnh đất trống trải thì tùy ý không có chướng ngại gì.  Nếu xây cất giữa hư không thì không bao giờ được.  Các đức Phật thuyết pháp thường dựa vào chân đế và tục đế, không phá bỏ cái giả danh để nói thật tướng của các pháp.  Người trí nóng lòng sốt ruột cầu sinh về Tịnh Độ, biết rõ thể của sinh không thật có tức là vô sinh chân thật.  Ở đây nói tâm thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh.  Kẻ ngu si bị cái sinh trói buộc, nghe nói sinh liền nghĩ là sinh, nghe nói vô sinh liền chấp là không sinh, chứ không biết sinh tức là vô sinh, vô sinh tức là sinh.  Vì không biết rõ lý này nên họ khởi tâm tranh chấp thị phi, khinh chê người cầu sinh về Tịnh Độ.  Ôi, thật là mê lầm làm sao!”

Trường Lô nói: “Người cho rằng sinh là sinh, đó là lối chấp sai lầm thuộc thường kiến.  Người cho rằng vô sinh là không sinh, đó là lối chấp sai lầm thuộc đoạn kiến.  Sinh mà không sinh, không sinh mà sinh, đó là đệ nhất nghĩa đế”.  Vĩnh Minh nói: “Ngay nơi tánh của tướng thì dụng không lìa thể. Ngay nơi tướng của tánh thì thể không lìa dụng.  Nếu muốn tán dương tánh thì chính là tán dương tướng. Nếu muốn hủy diệt tướng thì chỉ là hủy diệt tánh mà thôi”.  Thiên Như nói rằng: “Tánh có thể hiển bày tuớng, không sinh tức là sinh.  Tướng do tánh mà hiển bày, sinh tức là không sinh”.

Vậy thì ở trong âm thanh mà không phải âm thanh như âm vang của nước, của cây, của gió; ở trong sắc mà không phải sắc như cây báu, lan can, đâu có đồng với cái ngoan không của khói tắt, tro bay, cũng đâu có đồng với quyến thuộc của ma phá bỏ nguyên lý nhân quả.

3. Không phải tâm mà cũng không phải tướng

Luận Tỳ bà sa ghi: “Bồ tát mới phát tâm, trước tiên phải nhớ nghĩ đến sắc tướng, tướng thể, tướng nghiệp, tướng quả, tướng dụng của Phật, đó là sức dụng công bậc hạ.  Kế tiếp, tâm nhớ nghĩ đến mười tám pháp bất cộng của Phật, đó là sức dụng công bậc trung.  Kế nữa, tâm nhớ nghĩ đến thật tướng Phật, đó là sức dụng công bậc thượng.  Bồ tát không vướng mắc vào sắc thân và pháp thân.  Kệ nói rằng:

Không tham đắm sắc thân,
Không chấp chặt pháp thân,
Khéo biết tất cả pháp,
Thường tịch như  hư không”.

Luận Bảo tánh có nói: “Vì dựa vào nghĩa Phật, kinh ghi: “Phật bảo A Nan rằng, Như Lai không phải là pháp có thể thấy, cho nên nhãn thức không thể thấy được Như Lai”.  Vì dựa vào nghĩa Pháp, kinh ghi: “Pháp không phải là điều có thể nói, cho nên nhĩ thức không thể nghe được Pháp”.  Vì dựa vào nghĩa Tăng, kinh ghi:”Tăng nghĩa là vô vi, cho nên thân tâm không thể cúng dường, lễ lạy, tán dương được Tăng”.  Kinh Ma ha bát nhã ghi: “Vị đại bồ tát không vì sắc mà niệm Phật, không vì thọ, tưởng, hành, thức mà niệm Phật.  Do tự tánh của các pháp rỗng không, cho nên bồ tát không vì ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại trí, mười tám pháp bất cộng mà niệm Phật.  Tại sao vậy?  Vì tự tánh của các pháp ấy thì rỗng không.  Tự tánh rỗng không thì không có đối tượng để niệm.  Không có đối tượng để niệm, đó là niệm Phật”. Luận Trí độ ghi :  “Nếu bồ tát chấp tướng, phân biệt đối với các đức Phật quá khứ mà hồi hướng thì không phải là hồi hướng.  Tại sao vậy?  Vì có tướng là một bên, không tướng là một bên, lìa cả hai bên ấy mà thực hành trung đạo, đó là thật tướng của các đức Phật.  Thế nên nói các đức Phật quá khứ thì rơi vào sự chấp tướng.  Nếu không chấp tướng mà hồi hướng thì không điên đảo”.  Kinh Phật tạng ghi: “Thấy thật tướng của các pháp chính là thấy Phật.  Thật tướng của các pháp là những gì?  Đó là các pháp tất cánh không, không có gì cả.  Vì thế, tất cánh không, không có gì cả chính là pháp Niệm Phật cho đến hành giả niệm Phật thì lìa bỏ các tưởng, các tưởng không sinh, tâm không có phân biệt, không có danh tự, không có chướng ngại, không dục, không đắc, không khởi giác quán.  Tại sao vậy?  Xá Lợi Phất !  Vì theo niệm khởi thì tất cả tưởng đều là tà kiến.  Xá Lợi Phất !  Vì theo cái không có gì cả nên không có giác, không có quán, không có sinh, không có diệt, thấu suốt được lẽ này gọi là niệm Phật.  Trong niệm ấy không có tham, không có vướng mắc, không có nghịch, không có thuận, không có danh, không có tưởng.  Xá Lợi Phất !  Không có tưởng niệm, không có ngôn ngữ chính là niệm Phật cho đến trong ấy không có một niệm nhỏ nhiệm vi tế, huống chi nghiệp của thân, khẩu, ý thô.  Chỗ mà không có nghiệp của thân, khẩu, ý thì không có nắm lấy, không có xả bỏ, không có tranh cãi, không có thưa kiện, vô niệm, vô phân biệt, rỗng không, vắng lặng, vô tánh, diệt các giác quán, đó là niệm Phật. Xá Lợi Phất !  Nếu người niệm Phật được như thế mà muốn chuyển quả đất của bốn châu thiên hạ thì tùy ý có thể chuyển, cũng có thể hàng phục được trăm ngàn ức ma; huống là cái vô minh tồi tệ kia từ nhân duyên hư dối phát sinh, không có tướng quyết định.  Như vậy, pháp ấy không có tưởng, không có hí luận, không sinh, không diệt, không thể nói hết, không thể phân biệt, không tối, không sáng, ma hoặc dân ma không thể nào suy lường được, chỉ vì sử dụng lời nói của người đời để giáo hóa mà nói rằng: “Khi niệm Phật, ông đừng chấp lấy một chút niệm nào, đừng sinh hí luận, đừng phân biệt.  Tại sao vậy?  Vì các pháp ấy đều rỗng không, không có thể tánh, không thể niệm nhất tướng (còn gọi là vô tướng), đó là chân thật niệm Phật”.

Lại nữa, Chỉ quán ghi: “Hành giả niệm Phật tam muội phải niệm như thế nào?  Niệm Phật là trở về niệm Phật tánh của ta.  Như vậy sẽ từ tâm mà được Phật hay từ thân mà được Phật?  Nhưng ngặt vì không thể dùng tâm mà được Phật, không thể dùng thân  mà được Phật, không thể dùng tâm mà được sắc tướng Phật, cũng không thể dùng sắc tướng mà được tâm Phật.  Tại sao vậy? Tâm thì Phật vô tâm, sắc thì Phật không có sắc.  Vậy thì không thể dùng sắc, tâm để được chánh đẳng giác.  Sắc tướng của Phật đã tịch diệt, cho đến thức đã tịch diệt.  Phật nói các pháp tịch diệt, nhưng người ngu si kia không biết.  Người trí hiểu rõ không thể vận dụng thân, khẩu, trí tuệ để được Phật.  Tại sao vậy?  Vì trí tuệ tìm kiếm không thể được thì tự tìm kiếm nơi ta rõ ràng không thể đươc, cũng không thể thấy.  Tất cả pháp vốn rỗng không, không có gì cả, vốn tịch diệt.  Nếu niệm Phật đươc như vậy thì gọi là môn Niệm Phật thật tướng, cũng gọi là môn tuyệt đối”.

4. Ly tức ly phi

Vĩnh Minh nói rằng: “Nếu chấp nội lực là tự tánh, nếu chấp tha lực là tha tánh, nếu chấp cơ cảm hợp nhau là cộng tánh, nếu chấp không nhân, không duyên là vô nhân tánh thì các kiến chấp trên đều là chướng ngại, chưa được viên dung”.  Nên biết, Phật lực  khó nghĩ bàn, sự mầu nhiệm cũng khó suy lường như cây a ca thúc, nếu người nữ nào chạm vào nó thì nó trổ hoa.  Cây kia không có cảm giác, mà cũng không phải không có cảm giác.  Xúc niệm không thể nghĩ bàn của đại bồ tát cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như cây tượng xỉ nhờ tiếng sấm nổ mà trổ hoa, cây tượng xỉ kia không có tai mà tại sao nó nghe được âm thanh?  Nếu nó không nghe được âm thanh thì tại sao nó trổ hoa?  Lại nữa, nếu do tiếng sấm nổ mà nó trổ hoa thì tất cả các vật khác lẽ ra cũng đều trổ hoa?  Thinh trần không thể nghĩ bàn của đại bồ tát cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như chàng dũng sĩ nghi ngờ tảng đá là bầy cọp dữ, anh ta liền bắn những mũi tên toan giết chết bầy cọp kia.  Thế nhưng, những  mũi tên ấy không cắm phập vào tảng đá, tảng đá cũng không ngậm những mũi tên ấy.  Năng lực tính tiến không thể nghĩ bàn của đại bồ tát cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như có người đi xa muôn dặm, anh ta dừng chân, tạm nghỉ ở một ngôi nhà hoang vắng.  Giữa đêm, có một con quỷ vác một thây chết để ở trước mặt anh ta.  Có một con quỷ thứ hai đuổi theo, bừng bừng phẫn nộ, quát rằng:

– Đó là vật của tôi.

Con quỷ thứ nhất nói:

– Tự tôi  mang đến.

Con quỷ thứ hai cũng nói:

– Thực sự do tôi mang đến.

Hai con quỷ mỗi con nắm một cánh tay thây chết mà giành giựt quyết liệt với nhau.

Con quỷ thứ nhất nói:

– Ở đây có người, chúng ta phải hỏi cho ra lẽ.

Con quỷ thứ hai liền hỏi anh ta:

– Thây chết này do ai mang đến?

Anh ta trầm ngâm suy nghĩ rằng, hai con quỷ ấy có sức mạnh phi thường, ta nói dối cũng chịu chết mà thôi, đâu bằng cứ nói thật, liền nói:

– Thây chết này do con quỷ thứ nhất mang đến.

Con quỷ thứ hai nghe nói như vậy thì nổi giận đùng đùng, nó nắm cánh tay của anh ta bứt lìa ra, vứt bỏ xuống đất.  Con quỷ thứ nhất đem cánh tay của thây chết để lắp dính vào chỗ bị đứt kia.  Cứ tiếp tục như thế, hai tay, hai chân, đầu, thân của anh ta hoàn toàn thay đổi.  Hai con quỷ ấy ăn cái thây đã hoán đổi kia xong, chúng lau miệng, bỏ đi.  Anh ta miên man suy nghĩ: “Chính mắt ta thấy thân thể ta đã bị quỷ ăn hết rồi.  Bây giờ, hình hài này là thịt của thây chết lắp vào”.  Trong tất cả thời, anh ta quán tưởng đến thân khác nên không đắm nhiễm ngũ dục, không cung dưỡng, không sinh tâm yêu mến vợ con cho đến đối với những lời trách móc, nhục mạ, anh ta đều chấp nhận.  Vì là thân khác nên không còn kiêu mạn nữa.  Về sau, bỗng nhiên , anh ta vỡ lẽ ra: “Nếu là thân khác thì không có ta.  Nếu không phải là thân khác thì cái thân khác hiện tại này, trong đó chẳng có gì là thân khác, không phải ta, mà cũng không phải chẳng có ta, ta cũng không có bản chất chân thật, thân khác cũng không có bản chất chân thật.  Xưa nay, nó hằng tự nhiên như vậy”, lập tức anh ta biết được tất cả pháp là ngã, mà cũng không phải ngã.  Tất cả chỉ là hư vọng mà thôi.  Năng lực quán chiếu không thể nghĩ bàn của đại bồ tát thấy tự Phật, tha Phật cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như Thương Khâu Khai là kẻ nghèo khổ, anh ta tin người giàu sang nói rằng vào lửa không bị chết cháy, vào nước không bị chết chìm, từ trên cao rớt xuống không bị thương tích gì hết.  Vì tin những lời giả dối kia, nên anh ta được bảo vật thật.  Thế nhưng, kẻ nghèo ấy không có phép thuật của người kia.  Tham dục không thể nghĩ bàn của đại bồ tát mong được địa vị bảo vương của Phật cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như hang sâu trống rỗng, tùy theo âm thanh phát ra mà có tiếng vang dội.  Tiếng vang dội kia không phải từ hư không đến, không phải từ hang sâu đến, cũng không phải từ âm thanh đến.  Nếu tiếng vang dội từ  hư  không đến thì hư không  phải có tiếng vang dội.  Nếu từ hang sâu đến thì trong hang sâu, bất cứ lúc nào cũng có tiếng vang dội.  Nếu từ âm thanh đến thì ở chỗ đất bằng phẳng, tiếng vang dội cũng lan truyền, cho đến tiếng vang dội không phải hòa hợp đến, không phải nhân duyên đến, không phải tự nhiên đến.  Tướng âm thanh không thể nghĩ bàn của đại bồ tát không đến, không đi cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như nhà ảo thuật sử dụng ảo thuật, đem con ngựa mà ông trưởng giả yêu  mến bỏ vào cái bình nhỏ, bình không lớn thêm mà con ngựa vẫn chạy nhảy lung tung một cách tự nhiên.  Trưởng giả bày thức ăn xong, con ngựa vẫn được cột ở chỗ cũ.  Pháp huyễn thuật không thể nghĩ bàn của đại bồ tát biến hiện cõi Phật cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như thuốc ha trạch ca, người ta sử dụng một lượng thuốc này để biến một ngàn lượng đồng thành vàng ròng.  Thế nhưng, không phải một ngàn lượng đồng có thể chế biến thành thuốc được.  Thuốc tinh chế không thể nghĩ bàn của đại bồ tát biến hiện cõi uế trở thành cõi tịnh cũng theo đây suy ra mà biết.

– Lại như có người sử dụng thuốc an thiện na để bôi vào mắt mình, tuy người ấy đi vào chốn đông người nhưng những người  khác không thể nào thấy được.  Công dụng thuốc không thể nghĩ bàn của đại bồ tát ở trong mỗi niệm sinh diệt liên tục mà được cái thân vô sinh cũng theo dây suy ra mà biết.

– Lại như hương thơm vô nan thắng, nếu có người sử dụng hương thơm này bôi lên mặt trống thì khi dóng trống lên, tất cả quân địch đều bỏ chạy tán loạn.

– Lại như Chuyển Luân Thánh Vương có hương thơm hải tạng, nếu người ta đốt một viên thì vua và tứ quân đều bay vút lên hư không.  Hương chánh niệm không thể nghĩ bàn của đại bồ tát hàng phục được bọn ma quân, vượt thoát ba cõi cũng theo đây suy ra mà biết.

Vì thế, nên biết, Niệm Phật tam muội không thể nghĩ bàn, như lỗ chân lông không thể nghĩ bàn của Phổ Hiền, như cái bụng không thể nghĩ bàn của phu nhân Ma Da, như trượng thất không thể nghĩ bàn  của Tịnh Danh, như cái bình nhỏ không thể nghĩ bàn của ưu bà di Cụ Túc.  Tại sao vậy?  Vì tất cả các pháp đều không thể nghĩ bàn.  Nếu có một pháp nào bằng một mảy lông mà có thể nghĩ bàn thì không phải là biển pháp giới tánh.

Như trên đã nói tâm, nói cảnh, nói hữu tướng, nói vô tướng đều là pháp nghĩ bàn.  Nhưng nếu thể nhập được cảnh giới giải thoát không thể nghĩ bàn thì biết tất cả mọi sự phân biệt về tâm, cảnh, hữu tướng, vô tướng niệm Phật cũng đều không thể nghĩ bàn.

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
bát nhã
(般若) Phạm: Prajĩà. I. Bát nhã. Cũng gọi ba nhã, bát la nhã, bát lạt nhã. Dịch ý là tuệ, trí tuệ, minh, hiệt tuệ (tuệ sáng). Tức là trí tuệ chân thực nhờ tu tâm chính đạo và các ba la mật mà phát được. Trí tuệ cao sâu, thấy suốt hết thảy sự vật và đạo lý, thì gọi là Bát nhã. Để đạt đến chỗ cùng tột rốt ráo và trọn vẹn, Bồ tát phải tu sáu hạnh, gọi là sáu ba la mật. Trong đó, Bát nhã ba la mật (trí tuệ ba la mật), được coi là mẹ của chư Phật, trở thành căn cứ cho năm ba la mật kia và chiếm địa vị trọng yếu nhất. Nói về chủng loại, thì Bát nhã có hai loại, ba loại, năm loại khác nhau. Về hai loại thì có ba bát nhã sau đây : 1. Cộng bát nhã và Bất cộng bát nhã. Cộng bát nhã tức là bát nhã nói chung cho cả Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát. Còn Bất cộng bát nhã thì chỉ là bát nhã nói riêng cho hàng Bồ tát. 2. Thực tướng Bát nhã và Quán chiếu bát nhã. Thực tướng bát nhã là cái tướng chân thực tuyệt đối của hết thảy sự tượng do trí tuệ bát nhã soi rọi. Đây tuy không phải là bát nhã, nhưng có thể khơi nguồn cho bát nhã nên gọi là Bát nhã. Quán chiếu Bát nhã là trí tuệ hay soi rọi tướng chân thực tuyệt đối của tất cả các pháp. 3. Thế gian bát nhã và Xuất thế gian bát nhã. Thế gian bát nhã tức là bát nhã thế tục, tương đối. Xuất thế gian bát nhã tức là bát nhã siêu thế tục, tuyệt đối. Về ba loại bát nhã, nếu thêm Phương tiện bát nhã hoặc Văn tự bát nhã vào Thực tướng và Quán chiếu, thì gọi là ba bát nhã. Phương tiện bát nhã là dùng trí tương đối mà suy luận phán đoán để thấy rõ sự khác nhau giữa các pháp. Còn Văn tự bát nhã là các kinh điển Bát nhã bao hàm cả Thực tướng và Quán chiếu bát nhã. Về năm loại bát nhã, nếu thêm Cảnh giới bát nhã (tất cả các pháp đối tượng khách quan của trí tuệ bát nhã) và Quyến thuộc bát nhã (các phương pháp tu hành, đi đôi với bát nhã để giúp đỡ sáu ba la mật) vào Thực tướng, Quán chiếu và Văn tự, thì gọi là năm bát nhã. II. Bát nhã(734-?). Vị tăng dịch kinh ở đời Đường. Cũng gọi Bát lạt nhã. Người nước Ca tất thí (Kế tân) thuộc miền bắc Ấn độ, họ Kiều đáp ma. Bảy tuổi xuất gia, hai mươi tuổi thụ giới Cụ túc. Hai mươi ba tuổi đến chùa Na lan đà ở trung Ấn độ, theo các ngài Trí độ, Tiến hữu, Trí hữu v.v... học tập nghiên cứu Duy thức, Du già, Trung biên, kinh Kim cương, Ngũ minh v.v... Sau đáp thuyền đi khắp các nước vùng biển Nam. Năm Kiến trung thứ 2 (781) đời vua Đức tôn nhà Đường, sư đến Quảng châu, rồi từ đó vào Trường an. Năm Trinh nguyên thứ 4 (788), sư dịch kinh Đại thừa lí thú lục ba la mật đa 10 quyển, năm sau, lại dịch phần chân ngôn ấn khế và pháp môn trong kinh ấy. Năm Trinh nguyên thứ 6, tháng 7 sư vâng lệnh vua đi sứ nước Ca thấp di la. Sau đó, sư được vua ban danh hiệu Bát nhã tam tạng và áo đỏ. Về sau, sư dịch lại các kinh Bát nhã ba la mật đa tâm, Hoa nghiêm (bản 40 quyển), Đại thừa bản sinh tâm địa quán, Thủ hộ quốc giới chủ đà la ni v.v... Sư tịch ở Lạc dương, được an táng tại gò phía tây Long môn, không rõ tuổi thọ. [X. Tống cao tăng truyện Q.2, Q.3; Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.17].
tâm
(心) I. Tâm. Phạm: Citta. Hán âm: Chất đa. Cũng gọi Tâm pháp, Tâm sự. Tức là pháp tuy xa lìa đối tượng nhưng vẫn có tác dụng tư duy(duyên lự). 1. Chỉ chung Tâm vương và Tâm sở pháp, đối lại vớisắc(vật chất), thân(nhục thể); tương đương với 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức trong 5 uẩn. 2. Chỉ riêng cho Tâm vương, thuộc 1 trong 5 vị, tương đương với Thức uẩn trong 5 uẩn, là chủ thể của tâm thống nhất, tức thức thứ 6, hoặc thức thứ 8. 3. Chỉ cho thức A lại da thứ 8 theo tông Duy thức. Vì thức này bao hàm nghĩa tích tập, là thể căn bản sinh ra các pháp, cho nên cũng gọi là Tập khởi tâm, nghĩa là thức A lại da tích chứa các chủng tử mà sinh ra hiện hành. Sáu thức trước gọi là thức, tức tác dụng liễu biệt, nhận thức; thức Mạt na thứ 7 gọi là ý, tức tác dụng tư duy. Chủ thể của tâm gọi là Tâm vương, những tác dụng của Tâm vương thìgọi là Tâm sở. (xt. Tâm Ý Thức). II. Tâm. Phạm: Hfd hoặc Hfdaya. Hán âm: Hãn lật đà, Can lật đại, Can lật đa, Càn lạt đà đa, Ngật lợi đà da, Hột lí đà da, Hột lí na da, Hột phạt da. Hán dịch: Tâm, Nhục đoàn tâm, Chân thực tâm, Kiên thực tâm. Cứ theo kinh Lăng già quyển 1, (bản 4 quyển), tâm này là chỉ cho tâm tự tính Đệ nhất nghĩa; còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì chỉ cho Nhục đoàn tâm (quả tim). Trong Mật giáo, hành giả quán tưởng Nhục đoàn tâm(Hãn lật đà)là hoa sen 8 cánh(tức tâm liên) để hiển bày thân Phật của chính mình, vì thế, tâm tự tính chân thực của chúng sinh được gọi là Hãn lật đà. (xt. Hãn Lật Đà). III. Tâm. Tùy theo tác dụng mà tâm được chia ra các loại như sau: -Hai tâm: Chân tâm và Vọng tâm (tâm thanh tịnh và tâm phiền não); Tươngứngtâm và Bất tương ứng tâm(tâm tương ứng với phiền não và tâm không tương ứng với phiền não); Định tâm và Tán tâm(tâm tĩnh lặng và tâm loạn động). -Ba tâm: Tham tâm, sân tâm và si tâm. -Bốn tâm: Tham tâm, sân tâm, si tâm và đẳng tâm(3 độc cùng dấy lênmột lượt). -Bốn tâm: Nhục đoàn tâm(trái tim), Duyên lự tâm(tâm suy tư theo đối tượng), Tập khởi tâm(thức A lại da) và Kiên thực tâm(tâm chắc thực). -Năm tâm: Suất nhĩ tâm (tâm khởi lên lúc bắt đầu tiếp xúc với ngoại cảnh), Tầm cầu tâm(tâm muốn biết), Quyết định tâm (tâm quyết đoán), Nhiễm tịnh tâm(tâm sinh ý niệm nhiễm ô, thanh tịnh) và Đẳng lưu tâm(tâm niệm niệm nối nhau nhưng trước sau không khác). Tức khi ý thức tiếp xúc với đối tượng bên ngoài thì lần lượt khởi lên 5 tâm. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 1 có nêu 8 tâm là: Chủng tử tâm, Nha chủng tâm, Bào chủng tâm, Diệp chủng tâm, Phu hoa tâm, Thành quả tâm, Thụ dụng tâm và Anh đồng tâm. Tám tâm này là hiển bày thứ tự trong quá trình thành thục của tâm thiện, tức bắt đầu từ hạt giống(chủng tử tâm) đến nứt mầm, nảy lá, nở hoa, kết quả... Còn kinh Đại nhật thì phân loạitâm của hành giả Du già làm 60 tâm... [X. kinh Nhập lăng già Q.9; kinh Giải thâm mật Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch cũ); luận Hiển dương thánh giáo Q.17; luận Thành duy thức Q.2; luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng]. (xt. Ngũ Tâm).
pháp giới
(法界) Phạm: Dharma-dhàtu. Pàli: Dhamma-dhàtu. Hán âm: Đạt ma đà đô. Chỉ cho tất cả đối tượng(cảnh sở duyên) của ý thức, 1 trong 18 giới. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì 3 uẩn: Thụ, tưởng, hành, cùng với vô biểu sắc và vô vi pháp, gọi là Pháp giới. Trong 12 xứ thì Pháp giới được gọi là Pháp xứ. Còn trong 18 giới thì 17 giới kia cũng được gọi là Pháp. Bởi vậy, theo nghĩa rộng thì Pháp giới là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi và vô vi. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì Pháp giới có 3 nghĩa: 1. Nhân sinh ra các thánh pháp. 2. Thể tính chân thực của các pháp. 3. Các pháp đều có phần hạn của chúng, do đó mà phân biệt được tướng trạng của mỗi pháp. Pháp giới cũng chỉ cho chân như hoặc chỉ cho tất cả các pháp. Theo Phổ hiền hành nguyện thì Pháp giới có 5 môn: Pháp giới hữu vi, pháp giới vô vi, pháp giới vừa hữu vi vừa vô vi, pháp giới chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi và pháp giới vô chướng ngại, do đó mà lập ra 5 lớp Pháp giới khác nhau là: Pháp giới pháp, pháp giới nhân, pháp giới nhân pháp dung hợp, pháp giới nhân pháp đều vắng bặt và pháp giới không chướng ngại. Chủng loại của pháp giới tuy nhiều nhưng tất cả đều qui về Nhất chân pháp giới, đây chính là tâm thanh tịnh nguyên sơ của chư Phật và chúng sinh, cũng gọi là Nhất tâm pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Nếu đứng về phương diện hiện tượng và bản thể mà nhận xét, thì Pháp giới có thể được chia làm 4 nghĩa, gọi là Tứ pháp giới. Đó là: 1. Sự pháp giới: Hiện tượng giới bao gồm muôn pháp thiên sai vạn biệt, mỗi pháp đều có tự thể riêng và phần hạn khác nhau. 2. Lí pháp giới: Hiện tượng các pháp tuy nhiều, nhưng thể tính chân thực của chúng thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, là cảnh giới tuyệt đối. 3. Lí sự vô ngại pháp giới: Giữa hiện tượng và bản thể có sự quan hệ nhất thể bất nhị, mỗi mỗi pháp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại. 4. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả mọi hiện tượng đều tác dụng hỗ tương, một tức tất cả, tất cả tức một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Mật giáo lấy 6 yếu tố (6 đại): Đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tính của pháp giới; 6 yếu tố này là thân Tam ma da của đức Đại nhật Như lai. Cung điện của Ngài là Pháp giới cung; định vị của Ngài là Pháp giới định, ấn khế của Ngài là Pháp giới định ấn, năng lực gia trì của Ngài gọi là Pháp giới gia trì. Trong 5 trí thì Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí. Ngoài ra, tông Thiên thai gọi chung 10 giới: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật là Thập pháp giới. Đây là nói theo nghĩa phần hạn sai biệt của các tướng pháp giới. Lại nữa, Pháp giới cũng là 1 trong 12 tên của Thực tướng. Mười hai tên là: Chân như, Pháp giới, Pháp tính, Bất hư vọng tính, Bất biến dị tính, Bình đẳng tính, Li sinh tính, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không và Bất tư nghị giới. [X. kinh Tạp a hàm Q.16; hội Bị giáp trang nghiêm trong kinh Đại bảo tích Q.23; kinh Đại bát nhã Q.360; kinh Hoa nghiêm Q.1, 3 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.71; luận Đại thừa khởi tín; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Bồ đề tâm].
chân đế
(真諦) I. Chân đế. Là một trong hai đế, một trong ba đế. Chỉ nghĩa lí chân thật, không hư dối. Như nói pháp thế gian là Tục đế, pháp xuất thế gian là Chân đế. (xt. Nhị Đế). II. Chân đế (499 - 569). Vị tăng dịch kinh nổi tiếng vào khoảng thế kỉ thứ V, thứ VI. Tên Phạm: Paramàrtha. Dịch âm: Ba la mạt tha, Ba la mạt đà. Còn gọi là Câu la na đá (Phạm:Kulanàtha). Người xứ Ưu thiền ni (Phạm:Ujjainì) tây bắc Ấn độ, giòng Bà la môn, họ Phả la đoạ (Phạm: Bhàrata). Sư thông minh, biện luận thao thao. Lúc nhỏ, sư đi các nước tìm thầy tham học, nhớ dai, nghiên cứu tinh tường bốn bộ kinh Vedas và sáu bộ luận, quán thông ba tạng năm bộ, rõ suốt diệu lí Đại thừa. Niên hiệu Trung đại đồng năm đầu (546) đời Nam triều Lương, sư mang theo kinh điển đến Trung quốc. Năm Thái thanh thứ 2 (548), sư vào Kiến nghiệp (Nam kinh) yết kiến Vũ đế, lúc ấy Hầu cảnh nổi loạn, sư bèn lánh về phía nam, lần lượt đi khắp các địa phương, nay là Tô (Giang tô), Triết (Triết giang), Cám (Giang tây), Mân (Phúc kiến) và Quảng châu v.v... và đến đâu sư cũng dịch kinh không ngưng nghỉ, xong lại soạn sớ để giải thích rõ nghĩa thú trong các kinh luận. Niên hiệu Thái kiến năm đầu đời Trần, sư thị tịch, thọ bảy mươi mốt tuổi. Từ cuối đời Vũ đế nhà Lương đến niên hiệu Thái kiến năm đầu đời Trần, sư dịch được sáu mươi tư bộ, hai trăm bảy mươi tám quyển kinh luận, nay chỉ còn ba mươi sáu bộ, đại đa số là những kinh điển trọng yếu cho việc nghiên cứu Phật giáo. Sư ùng với các ngài Cưu ma la thập, Huyền trang và Nghĩa tịnh, được gọi chung là bốn nhà phiên dịch lớn. Phương pháp phiên dịch và học thức của sư đối với lịch sử truyền bá Phật giáo và phiên dịch kinh điển ở Trung quốc có thể xếp vào hàng cự phách. Ngoài các luận điển Duy thức chủ yếu như luận Chuyển thức, luận Đại thừa duy thức v.v..., sư còn dịch kinh Kim quang minh, luận Nhiếp đại thừa, Nhiếp đại thừa luận thích, luận Luật nhị thập nhị minh liễu, luận Trung biên phân biệt, luận Thập thất địa (luận này được rút ra từ Luận du già sư địa), Câu xá luận thích, luận Đại thừa khởi tín v.v... Trong số này, Nhiếp đại thừa luận và Nhiếp đại thừa luận thích có ảnh hưởng lớn nhất, là căn cứ lí luận chủ yếu của học phái Nhiếp luận thời Nam triều, cũng do đó mà ngài Chân đế được tôn làm tổ của tông phái Nhiếp luận. [X. Tục cao tăng truyện Q.1 - Nhiếp đại thừa luận tự - Đại đường nội điển lục Q.4, Q.5].
chân tâm
(真心) Chỉ tâm chân thực, hoặc lí bản tính của tâm. Tịnh độ chân tông Nhật bản gọi là Tín tâm tha lực. Trái lại, vọng tâm là tâm phân biệt sai lầm, tâm hư dối, tâm hư vọng điên đảo mà phàm phu phát động hàng ngày trong các sinh hoạt hiện thực.
tịnh nghiệp
(淨業) Cũng gọi Thanh tịnh nghiệp. Chỉ cho các hành nghiệp trong sạch. Tức là 3 thứ phúc nghiệp: Thế phúc, Giới phúc và Hành phúc. Cứ theo kinh Quán vôlượngthọ thì 3 phúc nghiệp ấy là: 1. Hiếu dưỡng cha mẹ, kính thờ sư trưởng, có lòng thương xót, không giết hại chúng sinh, tu 10 nghiệp thiện. 2. Thụ trì 3 qui y, đầy đủ các giới, không phạm uy nghi. 3. Phát tâmbồ đề, tin sâu nhân quả, đọc tụng kinh điển Đại thừa, khuyến khích mọi người tu hành tinh tiến. Ba thứ phúc này là chính nhân vãng sinh của chúng sinh, cũng là nhân tu vô lậu để làm thanh tịnh cõi nước Phật của Bồ tát, cho nên gọi là Tịnh nghiệp. Lại câu Đế quán bỉ quốc tịnh nghiệp thành giả(Hãy quán xét kỹ sự thành tựu tịnh nghiệp ở nước kia)trong văn kinh Quán vô lượng thọ, các nhà đều giải thích khác nhau: 1. Cứ theo Quán vô lượng thọ kinh nghĩa sớ quyển thượng của ngài Tuệviễn đời Tùy thì Bỉ quốc là chỉ cho y báo của cõi kia, Tịnh nghiệp thành giả thì chỉ cho chính báo gồm Phật, Bồ tát và những người vãng sinh ở cõi kia. 2. Cứ theo Quán vôlượngthọ Phật kinh nghĩa sớ quyển trung của ngài Nguyên chiếu đời Nguyên thì y báo và chính báo của cõi kia đều do Tịnh nghiệp tạo thành. 3. Quán kinh tự phần nghĩa của ngài Thiên đạocho rằng căn cơ chúng sanh có 2 loại là Định và Tán, Như lai mới phương tiện mở bày 3 phúc để thích ứng với căn cơ tán động, còn câu Dục sinh bỉ quốc (muốn sinh về cõi nước kia)là nhằm nêu rõ ý nghĩa sở qui(nơi chỗ quay về), câu Đương tu tam phúc (nên tu 3 phúc) thì đặc biệt nêu rõ ý nghĩa Hành môn (môn tu hành). [X. kinh Quán Di lặcbồ tát thướng sinh Đâu suất thiên; Quán vô tượng thọ kinh nghĩa sớ (Cát tạng)].
năm ấm
Gồm có: 1. Sắc ấm (色陰– Phạn ngữ: Rpa): Năm căn, năm trần và những vật hữu hình; 2. Thọ ấm (受陰– Phạn ngữ: vedan): Đối cảnh sanh cảm thọ vui sướng, buồn khổ hoặc không vui không khổ; 3. Tưởng ấm (想陰– Phạn ngữ: saṃjđ Pli: sađđ): Đối cảnh nhận ra sự đen, trắng, nhỏ, to, dài, ngắn, đàn ông, đàn bà.v.v...; 4. Hành ấm (行陰– Phạn ngữ: Saṃskra Pli: saṅkhra): Đối cảnh sanh lòng ham muốn hoặc ghét giận; 5. Thức ấm (識陰– Phạn ngữ: vijđna, Pli: viđđṇa): Đối cảnh liền nhận biết, phân biệt. Năm ấm cũng được gọi là năm uẩn (Ngũ uẩn –– 五蘊). Xem thêm ấm, nhập, giới.
ma
(麽) I. Ma. Cũng gọi Ba, bà. Tức là chữ (ba) 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Du Già Kim Cương Đính (Đại 18, 339 thượng), nói: Chữ (ba) nghĩa là tất cả pháp trói buộc đều không thật có. Phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 (Đại 3, 560 thượng), nói: Khi xướng chữ Ba thì phát ra âm thanh cởi bỏ tất cả sự trói buộc. Bởi vì chữ Phạm Bandhana (ba đà) nghĩa là trói buộc, mà chữ này bắt đầu bằng chữ Ba ( ), cho nên xưa nay chữ này được gọi là chữ của sự trói buộc. Kinh Hoa Nghiêm (bản 60 quyển) quyển 57 (Đại 9, 765 hạ), nói: Khi xướng chữ Ba là vào cửa Bát Nhã Ba La Mật, gọi là Kim cương tràng. [X. phẩm Văn tự trong kinh Niết Bàn Q.8 (bản Nam); phẩm Quảng thừa trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã Q.5; phẩm Đà La Ni trong kinh Phóng Quang Bát Nhã Q.4; phẩm Cụ Duyên trong kinh Đại Nhật Q.2; phẩm Tập Học Kĩ Nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.11; phẩm Quán trong kinh Quang Tán Bát Nhã Q.7; phẩm Tự Mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng]. II. Ma. 1. Trợ từ nghi vấn đặt ở cuối câu (phần nhiều dùng trong các bộ ngữ lục của Thiền tông). Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1101 thượng), nói: Ban ngày tỉnh táo làm chủ được chăng? (tác đắc chủ ma?). Đáp: Làm được! Lại hỏi: Trong giấc mộng làm chủ được chăng? Đáp: Làm được!. Chữ Ma cũng được dùng trong các câu nghi vấn, tức trong lời văn có hàm ý bất định, hoặc có ngữ khí phản vấn, phản ngữ. 2. Đặt ở cuối câu điều kiện, mang ngữ khí nhấn mạnh, giả định: Nếu như... thì... Chữ này cũng còn được dùng khi nêu lên chủ đề, như: Về... mà nói... thì... Thiền quan sách tiến (Đại 48, 1098 hạ), nói: Nhĩ chư nhân yếu tham thiền ma? Tu thị phóng hạ trứ: Các ông muốn tham thiền chăng? Nếu thế thì phải buông bỏ hết!.3. Tiếp Vĩ ngữ: Như thậm ma, thập ma, na ma, nhẫm ma, tác ma, dữ ma.[X. chương Lục tổ Tuệ Năng trong Tổ đường tập Q.2]. II. Ma Cũng gọi Mãng, Minh. Là chữ (ma), 1 trong 42, 1 trong 50 chữ cái Tất đàm. Phẩm Thích Tự Mẫu trong kinh Kim Cương đính cho rằng, chữ Ma tức biểu thị nghĩa vào các pháp ngã sở là bất khả đắc. Phẩm Thị Thư trong kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm quyển 4 thì cho rằng, khi xướng chữ Ma có thể phát ra âm thanh tiêu diệt tất cả sự kiêu mạn. Kinh Hoa Nghiêm quyển 33 (bản dịch cũ) nói, khi xướng chữ Ma thì nhập vào môn Bát Nhã Ba La Mật. Còn phẩm Tập Học Kĩ Nghệ trong kinh Phật Bản Hạnh tập quyển 11 thì nói (Đại 3, 704 trung): Khi xướng chữ Ma thì phát ra âm thanh nói về sinh tử là tất cả sự khủng bố rất đáng sợ v.v... Sở dĩ chữ Ma có các nghĩa trên là vì những tiếng Phạm mamatà (ngã), mamakàra (ngã sở= của ta), mada (kiêu mạn) v.v... đều bắt đầu bằng chữ ma. [X. phẩm Quảng Thừa trong kinh Đại Phẩm Bát Nhã Q.5; phẩm Đà La Ni trong kinh Phóng Quang Bát Nhã Q.4; phẩm Tự Mẫu trong kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn Q.thượng; kinh Đại Bát Niết Bàn Q.8 (bản Bắc); phẩm Cụ Duyên trong kinh Đại Nhật Q.2]. III. MA Phạm, Pàli: Màra. Gọi đủ: Ma la. Cũng gọi Ác ma. Hán dịch: Sát giả, Đoạt mệnh, Năng đoạt mệnh giả, Chướng ngại. Chỉ cho loại ác quỉ thần chuyên cướp lấy mệnh sống con người và làm trở ngại các việc thiện. Cứ theo phẩm Hàng ma trong kinh Phổ Diệu quyển 6, khi đức Phật thành đạo, ma vương Ba tuần sai 4 ma nữ tên là Dục phi, Duyệt bỉ, Khoái quan và Kiến tòng đến não loạn Đức Phật. Theo phẩm Đao Lợi Thiên trong kinh Trường A Hàm quyển 20 và kinh Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả quyển 3, thì Ma vương là Tha hóa tự tại thiên, trụ ở tầng trời thứ 6 của cõi Dục, là vị thần chuyên phá hoại chính pháp, được gọi là Thiên tử ma, hoặc Thiên ma Ba tuần. Còn theo kinh Tăng Nhất A Hàm quyển 27, thì ma vương Ba tuần có đầy đủ 5 lực là sắc lực, thanh lực, hương lực, vị lực và tế hoạt lực. Kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 12 thì nêu ra 12 thứ ma quân là: Tham muốn, hay tức giận, đói khát lạnh nóng, tình ái đắm đuối, ngủ nghỉ, kinh hãi khiếp sợ, ngờ vực, sân hận phẫn nộ, tranh giành danh lợi, ngu si không trí, tự cao khoe khoang và thường chê bai người khác. Nói theo nội quán thì tất cả những gì làm não loạn chúng sinh như phiền não, nghi hoặc, mê luyến v.v... đều gọi là ma; chướng ngại do thân tâm của mình sinh ra, gọi là nội ma, chướng ngại từ bên ngoài đến, gọi là ngoại ma, cả 2 gọi chung là Nhị ma. Theo luận Đại Trí Độ quyển 5 thì ngoài thực tướng các pháp, còn tất cả đều là ma. Luận Du Già Sư Địa quyển 29 nêu ra 4 loại ma: 1. Ngũ uẩn ma, cũng gọi Ấm ma, Uẩn ma, Ngũ chúng ma, Ấm giới nhập ma. Năm uẩn hay sinh ra các thứ khổ não, là nhân duyên cướp mất mệnh sống. 2. Phiền não ma: Phiền não thường mang lại khổ đau từ lúc sinh ra cho đến khi chết. 3. Tử ma: Chính cái chết được gọi là Tử ma. 4. Thiên tử ma, cũng gọi Thiên ma. Những cái làm chướng ngại sự giải thoát sinh tử. Tứ ma thêm tội ma thành Ngũ ma, hoặc Tứ ma thêm 4 tâm điên đảo như vô thường, vô ngã v.v... thành Bát ma. Hoa Nghiêm kinh Tùy Sớ Diễn Nghĩa Sao quyển 29 thì nêu 10 loại ma: Uẩn, phiền não, nghiệp, tâm, tử, thiên, thiện căn, tam muội, thiện tri thức, bồ đề pháp trí. Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 6, phần đầu, thì tổng hợp các loại ma chia thành 2 thứ: Phần đoạn ma và Biến dịch ma. Phần đoạn ma là Phiền não chướng, ngăn trở sự chứng đạo của hàng Nhị thừa, còn Biến dịch ma tức là Sở tri chướng, ngăn ngại sự chứng đạo của hàng Bồ tát. Phần đoạn và Biến dịch mỗi loại lại có 4 ma, cộng thành 8 ma. Ngoài ra, Ma Ha Chỉ Quán quyển 8, hạ, có nói rất rõ về các ma chướng sinh khởi trong khi tu thiền. Về phương pháp đối trị ma thì có thể niệm tam qui, ngũ giới hoặc tụng chú trừ ma, niệm Phật v.v... Trong pháp tu Mật giáo thường hạn chế 1 khu vực nhất định có kết giới pháp, để ngăn ngừa sự xâm nhập của ma chướng. [X. kinh Tạp A Hàm quyển 39; kinh Hàng Ma trong Trung A Hàm Q.30; kinh Phật Bản Hạnh Tập Q.26; phẩm Phá Ma trong Phật Sở Hành Tán Q.3; Huyền ứng Âm Nghĩa Q.24; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.hạ, Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.12, 25]. (xt. Ác Ma).
Ngũ ấm
五陰; C: wǔyīn; J: goon; S: pañcaskandha; P: pañcakhandha;
Năm nhóm, năm tập hợp mà Đức Phật dạy, gọi chúng như là những nhân tố hợp thành những gì được chúng ta gọi là »chúng sinh«. Ngũ ấm là tiếng Hán cựu dịch từ chữ pañca-skandḥāh tiếng Phạn. Sau nầy dịch là Ngũ uẩn (五蘊).
phật
(佛) Phạm, Pàli: Buddha. Gọi đủ: Phật đà, Hưu đồ, Phù đà, Phù đồ, Phù đầu, Một đà, Bột đà, Bộ tha. Hán dịch: Giác giả, Tri giả, Giác. Người giác ngộ chân lí, cũng tức là bậc Đại thánh đầy đủ tự giác, giác tha, giác hành viên mãn, thấy biết tính tướng của hết thảy các pháp đúng như thật, thành tựu Đẳng chính giác, là quả vị cao nhất của Phật giáo. Trong 3 đức: Tự giác, Giác tha, Giác hành viên mãn, thì phàm phu không có 1 đức nào, hàng Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác chỉ có Tự giác, hàng Bồ tát có được Tự giác, Giác tha, chỉ Phật mới có đầy đủ 3 đức. Về nội dung chứng ngộ của đức Phật, trong các kinh luận có nhiều thuyết; đối với Phật thân, Phật độ... thì các tông phái cũng có nhiều thuyết khác nhau, nhưng nói chung thì Đại thừa đều lấy quả Phật làm mục đích tối hậu. Những từ ngữ được dùng để ngợi khen công đức của Phật thì có rất nhiều như 10 danh hiệu: Như lai, Ứng cúng..., hoặc Nhất thiết tri giả, Nhất thiết kiến giả, Tri đạo giả, Khai đạo giả, Thuyết đạo giả, hoặc Thế tôn, Thế hùng (người dứt trừ tất cả phiền não thế gian 1 cách hùng mạnh), Thế nhãn (người dẫn đường cho thế gian), Thế anh (người ưu tú trong thế gian), Thiên tôn, hoặc Đại giác thế tôn, Giác vương (Giác hoàng), Pháp vương, Đại đạo sư, Đại thánh nhân, Đại sa môn, Đại tiên, Đại y vương (người tùy theo tâm bệnh mà nói pháp, cũng như vị thầy thuốc giỏi tùy theo bệnh mà cho thuốc), Phật thiên, Phật nhật (ví dụ Phật như mặt trời), Lưỡng túc tôn, Nhị túc tôn, Lưỡng túc tiên, Nhị túc tiên, Thiên trung thiên, Nhân trung ngưu vương, Nhân hùng sư tử (người hùng trong loài người giống như sư tử trong loài thú) v.v...

Đức Phật là bậc có năng lực giáo hóa, dắt dẫn chúng sinh, nên gọi Ngài là Năng nhân¯đ ¤H, do đó, đức Phật A di đà được gọi là An lạc năng nhân (năng nhân của thế giới an vui). Ngoài ra, còn có thuyết lấy Năng nhân ¯đ ¤H làm Năng nhân ¯đ ¤¯ (hay làm điều nhân từ). Chữ Năng nhân sau là dịch ý của từ ngữ Thích ca, cho nên danh hiệu đức Phật Thích ca cũng được dùng để chỉ chung cho tất cả các đức Phật thù thắng. Đức tính thù thắng có đầy đủ trên thân Ngài là 32 tướng tốt và 80 vẻ đẹp, ngoài ra còn có 10 lực, 4 vô sở úy và 18 pháp bất cộng. Lại nữa, Phật có 7 công đức thù thắng vượt hơn người thường, gọi là Thất thắng sự, hoặc gọi là Thất chủng tối thắng, Thất chủng vô thượng. Đó là: Thân thắng, Như pháp trụ thắng, Trí thắng, Cụ túc thắng, Hành xứ thắng, Bất khả tư nghị thắng và Giải thoát thắng. Định, Trí, Bi của Phật đều là tối thắng, cho nên gọi là Đại định, Đại trí và Đại bi, phối hợp với Đoạn đức, Trí đức và Bi đức mà gọi chung là Đại định trí bi. Phật xuất hiện ở đời quá khứ gọi là Quá khứ Phật hoặc Cổ Phật. Phật sẽ xuất hiện ở thế giới Sa bà trong vị lai, thì gọi là Hậu Phật hoặc Đương lai Phật (tức Phật Di lặc). Ở thời kì đầu, Phật là chỉ cho Phật lịch sử, cũng tức là chỉ cho đức Phật Thích ca.

Về sau lại phát sinh tư tưởng Quá khứ thất Phật, Vị lai Phật và Di lặc Phật. Khoảng cách giữa đức Phật Thích ca và Phật Di lặc, sẽ không có vị Phật nào khác ra đời. Tiểu thừa cho rằng không thể có 2 đức Phật cùng xuất hiện và tồn tại trong cùng thời đại, vì thế chủ trương thuyết Nhất Phật. Nhưng đến thời kì Phật giáo Đại thừa thì quan niệm về thế giới được mở rộng, nên cho rằng có nhiều đức Phật ra đời trong cùng thời đại. Chẳng hạn như phương Đông có Phật A súc, phương Tây có Phật A di đà và trong những thế giới ở các phương khác còn có vô số chư Phật đồng thời tồn tại mà trong kinh thường nói Thập phương hằng sa chư Phật (Chư Phật trong 10 phương nhiều như số cát của sông Hằng). Vì thế nên Đại thừa chủ trương thuyết Đa Phật. Đại chúng bộ trong Tiểu thừa thì cho rằng trong 3 nghìn thế giới đại thiên đồng thời có chư Phật tồn tại, cho nên bộ này chủ trương thuyết Một thế giới một Phật, nhiều thế giới nhiều Phật. Còn Hữu bộ thì chủ trương thuyết Nhiều thế giới một Phật, tức là trong 3 nghìn thế giới đại thiên chỉ có 1 đức Phật xuất hiện. Ngoài ra, Chư Phật ba đời là chỉ cho 1.000 vị Phật trong kiếp Trang nghiêm ở đời quá khứ, 1.000 vị Phật trong kiếp Hiền ở đời hiện tại và 1.000 vị Phật trong kiếp Tinh tú ở đời vị lai.

Cộng chung 3 kiếp là 3.000 vị Phật. Danh hiệu của các đức Phật này được ghi trong kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh. Phật danh hội là chỉ cho pháp hội căn cứ theo kinh Tam kiếp tam thiên Phật danh mà được tổ chức. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, 20; kinh Hoa nghiêm Q.42 (bản dịch mới); kinh Thiên Phật nhân duyên; phẩm Thán cổ trong kinh Hiền kiếp Q.8; phẩm Xảo tiện hành trong kinh Đại bát nhã Q.365; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; luận Du già sư địa Q.82; luận Đại trí độ Q.9, 29]. (xt. Như Lai, Phật Độ, Phật Thân).
Tục đế
俗諦; C: súdì; J: zokutai;
Chân lí thế gian, Chân lí thế tục. Thật tại được nhìn nhận từ người chưa giác ngộ. Chư Phật vận dụng chân lí nầy như 1 pháp phương tiện để dẫn dắt chúng sinh thể nhập chân lí tuyệt đối, hoặc được giác ngộ (s: saṃvṛti-satya, vyavahāra).
nhân duyên
(因緣) Phạm: Hetu-pratyaya. Từ gọi chung nhân và duyên. Nhân là nguyên nhân bên trong trực tiếp sinh ra kết quả. Duyên chỉ cho nguyên nhân gián tiếp giúp đỡ bên ngoài. Do vậy mà Nhân duyên còn được gọi là Nội nhân ngoại duyên, Thân nhân sơ duyên. Và nói theo nghĩa rộng thì Nhân hàm ý là Nhân và duyên, bao gồm Nội nhân ngoại duyên. Hết thảy muôn vật đều tùy thuộc vào sự tan hợp của nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh, Duyên sinh, Duyên thành, Duyên khởi. Tất cả pháp do nhân duyên mà sinh diệt, gọi là Nhân duyên sinh diệt pháp; còn cái kết quả do nhân và duyên hòa hợp mà sinh ra thì gọi là Nhân duyên hòa hợp. Hết thảy vạn hữu đều do nhân duyên hòa hợp mà giả sinh, không có tự tính, đó chính là lí Nhân duyên tức không. Nếu lấy phiền não làm nhân, lấy nghiệp làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi mê; còn nếu lấy trí làm nhân, lấy định làm duyên thì sẽ chiêu cảm quả cõi ngộ. Ngoài ra, luận Câu xá quyển 6, quyển 7 có nêu thuyết 6 nhân 4 duyên. Sáu nhân: Năng tác nhân, Câu hữu nhân, Tương ứng nhân, Đồng loại nhân, Biến hành nhân và Dị thục nhân. Bốn duyên: Nhân duyên, Sở duyên duyên, Đẳng vô gián duyên và Tăng thượng duyên. Trong đó, Năng tác nhân trong 6 nhân là Tăng thượng duyên trong 4 duyên, còn 5 nhân kia thì là Nhân duyên trong 4 duyên. Nhưng tông Duy thức thì cho rằng Đồng loại nhân trong 6 nhân là chung cho cả Nhân duyên và Tăng thượng duyên, còn 5 nhân kia là Tăng thượng duyên. Đồng loại nhân là nguyên nhân dẫn sinh ra quả Đẳng lưu, vì thế cũng gọi là Tự chủng nhân. Cũng như luận Câu xá cho rằng nhân khác tính dẫn sinh ra quả khác tính là nhân duyên. [X. kinh Tạp a hàm Q.1; kinh Đại thừa nhập lăng già Q.2; phẩm Quán tứ đế trong Trung luận Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; luận Đại thừa khởi tín; luận Thành duy thức Q.2; luận Du già sư địa Q.3, 5, 38;luận Hiển dương thánh giáo Q.18]. (xt. Nhân, Duyên). II. Nhân Duyên. Nhân tức là duyên, chỉ cho Nhân duyên trong 4 duyên. (xt. Tứ Duyên). III. Nhân Duyên. Phạm: Nidàna. Cũng gọi Duyên khởi.Thể tài thứ 6 trong 12 thể tài kinh. (xt. Ni Đà Na).