Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Trich-Yeu-Sach-Lien-Tong-Bao-Giam-Cua-Ho-Khe-Ton-Gia-Uu-Dam-Pho-Do-Dai-Su-Doi-Nguyen

Trích Yếu Sách Liên Tông Bảo Giám Của Hổ Khê Tôn Giả Ưu Đàm Phổ Độ Đại Sư Đời Nguyên
Mao Lăng Vân | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

* [Đối với các pháp để] nhiếp tâm niệm Phật, muốn được mau thành tam-muội, đối trị hôn trầm, tán loạn, thì pháp Sổ Tức (đếm hơi thở) là quan trọng nhất. Hễ lúc nào muốn tịnh tọa, trước hết phải tưởng thân mình ở trong Viên Quang [của Phật], lặng nhìn chót mũi, theo dõi hơi thở ra vào. Mỗi hơi thở thầm niệm một tiếng A Di Ðà Phật. Phương tiện điều hòa hơi thở chẳng nhanh, chẳng chậm; tâm và hơi thở nương theo nhau.

Ði, đứng, nằm, ngồi, đều có thể thực hành theo cách nương theo hơi thở ra vào chẳng để gián đoạn. Luôn tự miên mật hành trì cho đến lúc thâm nhập Thiền Ðịnh, cả hơi thở lẫn câu niệm cùng mất thì thân tâm này giống như hư không. Lâu ngày thuần thục tâm nhãn khai thông, tam-muội đột nhiên hiện tiền. Ðấy chính là “duy tâm Tịnh Ðộ”.
 
* Luận Bảo Vương chép: “Tu trì Nhất Tướng Niệm Phật tam-muội là ngay trong lúc đi, đứng, nằm, ngồi, luôn hệ niệm chẳng quên. Dù có ngủ nghỉ, khi thức dậy liền hệ niệm tiếp”, chẳng để các nghiệp khác gây gián đoạn, chẳng để tham, sân, si cách ngăn. Hễ phạm liền sám hối ngay chẳng để quá một niệm, chẳng nghĩ gì khác, chẳng để cách ngày, cách quãng thời gian. Niệm niệm thường chẳng rời Phật; niệm niệm thanh tịnh viên minh, chính là đắc Nhất Tướng tam-muội.
 
* Bồ Tát tại gia thờ Phật, giữ giới, suốt ngày lo liệu gia duyên, chưa thể nhất tâm tu hành, sáng dậy nên đốt hương, lễ bái Tam Bảo, tùy ý niệm Phật. Mỗi lúc hoàng hôn cũng lễ niệm như thế; lấy đó làm thường khóa. Nếu như ngày nào bỏ sót thì ngày hôm sau nên đối trước Phật bày tỏ sám hối. Pháp môn này cốt sao chẳng gây trở ngại đến công việc mình: chẳng trở ngại kẻ sĩ đọc sách, luyện văn, chẳng trở ngại nhà nông cấy cày, chẳng ngại kẻ làm thợ làm lụng, chẳng trở ngại thương gia bán buôn. Ngoài việc sáng lễ, chiều lạy, trong mười hai thời, hãy nên dành chút công phu niệm trăm câu, ngàn câu danh hiệu Phật, lấy chí thành làm công lao để cầu sanh Tịnh Ðộ.
 
* Phàm là người tu Tịnh Ðộ thì rõ ràng là phải chống chọi sanh tử, chứ chẳng phải nói suông rồi thôi. Hãy nghĩ tới vô thường nhanh chóng, thời gian chẳng đợi ai, phải hoàn thành sự nghiệp cho xong. Nếu đã tin tưởng, thì từ ngày nay trở đi, phải phát đại dũng mãnh, tinh tấn, chẳng cần biết là hiểu hay chẳng hiểu, kiến tánh hay chưa kiến tánh, chỉ chấp trì một câu Nam Mô A Di Ðà Phật giống hệt như dựa vào một tòa núi Tu Di, dẫu lay lắc cũng chẳng động.

Chuyên tâm, nhất ý để hoặc là tham niệm, hoặc quán niệm, hoặc ức niệm, hoặc thập niệm, hoặc thầm niệm, chuyên niệm, hệ niệm, lễ niệm. Niệm ở đâu chú tâm vào đó, thường nhớ, thường niệm. Sáng cũng niệm, tối cũng niệm. Ði cũng niệm, ngồi cũng niệm.

Tâm niệm chẳng để luống qua, niệm Phật chẳng lìa tâm. Ngày ngày giờ giờ chẳng muốn buông bỏ, miên miên mật mật như gà ấp trứng luôn giữ cho hơi ấm được liên tục. Ðấy chính là “tịnh niệm tiếp nối” .

Lại còn vận dụng trí để quán chiếu biết Tịnh Ðộ chính là tự tâm. Ðấy chính là công phu tấn tu của bậc thượng trí. Giữ được Ðịnh, làm chủ được hành động, đạt được chỗ nương dựa ổn thỏa, thích đáng như thế, dẫu gặp cảnh giới khổ, vui, thuận, nghịch xảy ra, cũng chỉ niệm A Di Ðà Phật, không hề có một niệm sanh tâm biến đổi, tâm thoái đọa, tâm tạp tưởng. Cho đến hết đời, trọn không có niệm nào khác, sẽ quyết định sanh về Tây Phương Cực Lạc thế giới. 

Nếu có thể dụng công như thế thì vô minh, nghiệp chướng sanh tử trong bao kiếp sẽ tự nhiên tiêu sạch, trần lao tập lậu tự nhiên hết sạch, được gặp Phật Di Ðà, chẳng lìa bổn niệm; công thành, hạnh mãn. Nguyện lực hỗ trợ nhau, khi lâm chung quyết sẽ sanh trong Thượng Phẩm.  
 
* Nếu người niệm Phật còn chưa sạch trần cấu, khi ác niệm nổi lên hãy nên tự kiểm điểm. Nếu như chính mình có tâm keo tham, tâm sân hận, tâm si ái, tâm ganh ghét, tâm khinh dối, tâm hợm mình, tâm kiêu căng, tâm dua vạy, tâm tà kiến, tâm khinh mạn, tâm Năng Sở, và khi gặp phải hết thảy hoàn cảnh thuận nghịch liền thuận theo nhiễm cấu, phát sanh hết thảy các tâm bất thiện; nếu khi các tâm như vậy phát khởi, hãy nên mau lớn tiếng niệm Phật, gom ý niệm về chỗ đúng đắn, đừng để cho tâm ác tiếp nối. Niệm miết cho đến khi ác niệm hết sạch, vĩnh viễn không còn sanh lại nữa.

Thường phải nên thủ hộ tất cả tâm thâm tín, tâm chí thành, tâm phát nguyện hồi hướng, tâm từ bi, tâm khiêm hạ, tâm bình đẳng, tâm phương tiện, tâm nhẫn nhục, tâm trì giới, tâm hỷ xả, tâm thiền định, tâm tinh tấn, tâm Bồ Ðề và hết thảy thiện tâm.

Lại nên xa lìa những điều trái với phạm hạnh, thực hành những luật nghi dứt ác, đừng nuôi dưỡng gà, chó, lợn, dê; những việc như săn bắn, đánh cá đều chẳng nên làm. Nên học theo Phật, nên lấy việc bỏ ác làm lành để răn xét mình!
 
* Kẻ có tín tâm, chân thật tu hành, chỉ cốt sao nhớ được một câu A Di Ðà Phật trong mỗi ý niệm, đừng để cho quên mất, niệm niệm thường hiện tiền, niệm niệm chẳng lìa tâm. Vô sự cũng niệm như thế, hữu sự cũng niệm như thế. An vui cũng niệm như thế, bệnh khổ cũng niệm như thế. Sống cũng niệm như thế, chết cũng niệm như thế. Một niệm phân minh bất muội như thế, cần gì phải hỏi người khác đường lối tu hành để được vãng sanh nữa ư?
 
Nhận định:
Ðối với thường khóa sớm tối, người tại gia niệm Phật nhất định chẳng thể bỏ sót. Nếu có lúc bỏ sót, sao chẳng ngủ trễ, dậy sớm? Ðừng vin vào đó để gián đoạn thường khóa. Chỉ khi nào bận rộn suốt tối hôm trước thì sáng hôm sau mới đối trước Phật bày tỏ, sám hối, niệm bù.

Thường nhật nên dùng thời gian rảnh rang để niệm Phật, niệm càng nhiều càng hay, cũng chẳng hạn định trong trăm câu, ngàn câu. Lâu ngày thuần thục, tam-muội sẽ dễ hiện tiền.
 
Trích từ: Niệm Phật Pháp Yếu

Từ Ngữ Phật Học
ác niệm tư duy chướng
(惡念思惟障) Là một trong ba chướng tu định. Chỉ người tu hành khi tu Thiền định, vì đắm chìm mê tối nên niệm ác vụt khởi, bèn phá giới cấm, nghĩ đến làm các việc bất thiện Thập ác, Ngũ nghịch v.v... Vì một niệm như thế, làm trở ngại các Thiền định, khiến cho tâm hành giả không thể mở tỏ được [X. Thiên Thai Tứ Giáo Nghi Tập Giải Tiêu Chỉ Sao Q.hạ; Đại Tạng Pháp số Q.9]. (xt. Tam Chướng).
tam độc
(三毒) Cũng gọi Tam hỏa, Tam cấu. Chỉ cho 3 thứ phiền não: Tham dục, sân khuể, ngu si(cũng gọi tham sân si, dâm nộ si, dục sân vô minh). Tất cả phiền não gọi chung là Độc, nhưng 3 thứ phiền não này có khắp 3 cõi, là thứ độc hại nhất trong thiện tâm xuất thế của chúng sinh, thường khiến loài hữu tình chịu khổ trong nhiều kiếp không thoát ra được, cho nên đặc biệt gọi là Tam độc. Ba thứ độc này là nguồn gốc của 3 hành vi ác thân, khầu, ý, cho nên cũng gọi là Tam bất thiện căn, đứng đầu các phiền não căn bản. Luận Đại trí độ quyển 34, chia Tam độc thành Chính tam độc (tham dục, sân khuể, ngu si)và Tà tam độc(tà tham dục, tà sân khuể, tà kiến ngu si), cho tà tam độc khó cứu độ, còn chính tam độc thì dễ cứu độ, cho nên trong các cõi Tịnh độ của chư Phật có chính tam độc mà không có tà tam độc. Ma ha chỉ quán quyển 6 thượng cho tham, sân, si, về phương diện Tư hoặc là Chính tam độc, còn tham, sân, si, về phương diện Kiến hoặc là Tà tam độc. Còn theo Đại tạng pháp số quyển 15 thì Nhị thừa và Bồ tát đều có Tam độc: Hàng Nhị thừa ưa thích Niết bàn là tham dục, nhàm chán sinh tử là sân khuể, mê lí Trung đạo là ngu si. Hàng Bồ tát thì muốn rộng cầu Phật pháp là tham dục, quở trách Nhị thừa là sân khuể, chưa rõ Phật tính là ngu si. [X. kinh Tạp a hàm Q.23; kinh Đại bát niết bàn Q.hạ (bản Bắc); Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Pháp giới thứ đệ sơ môn Q.thượng]. (xt. Tam Bất Thiện Căn).
thiền
(禪) Phạm: Dhyàna. Pàli:Jhàna. Cũng gọi Thiền na, Đà diễn na, Trì a na.Hán dịch: Tĩnh lự, Tư duy tu tập, Khí ác, Công đức tùng lâm. Chỉ cho trạng thái định tuệ đồng đều, tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó, rất vắng lặng để tư duy một cách sâu sắc, rõ ràng. Thiền là pháp tu chung cho cả Đại thừa, Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu... nhưng mục đích đạt đến và đối tượng tư duy thì đều khác nhau. Thiền và các thứ định khác gọi chung là Thiền định; cũng có thuyết cho Thiền là 1 loại định, cho nên gọi tu thiền trầm tư là Thiền tư. Cương yếu của việc tu hành Phật đạo là tam học giới, định, tuệ, giữ giới thanh tịnh mới có được sự vắng lặng của thiền định; có được sự vắng lặng của thiền định thì chân trí mới khai phát. Vì thiền định là phương pháp tu hành của Phật giáo, cho nên các kinh luận của Đại thừa cũng như của Tiểu thừa, đều có nói rõ và chủng loại Thiền cũng rất nhiều.

Trong kinh A hàm căn cứ vào việc có hay không có Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc(tìm kiếm, dò xét, mừng rỡ, vui vẻ)mà chia Thiền làm 4 loại: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Tứ thiền thiên của cõi Sắc là nơi những người tu Tứ thiền sẽ sinh đến; Tứ thiền được tu để cầu sinh về Tứ thiền Thiên gọi là Định tĩnh lự; còn Tứ thiền khi sinh ra đã có, được một cách tự nhiên thì gọi là Sinh tĩnh lự. Lại nữa, Hữu lậu tĩnh lự và Vô lậu tĩnh lự cùng tu lẫn lộn thì gọi là Tạp tu tĩnh lự, luận Câu xá quyển 24 chủ trương đây là pháp tu của A la hán hoặc quả vị Bất hoàn. Trong Đạithừathì Thiền là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật, tức Thiền ba la mật(Thiền định ba la mật, Tĩnh lự ba la mật). Thiền là pháp Bồ tát tu để chứng được thực trí Bát nhã hoặc thần thông. Về tướng tu Thiền ba la mật của Bồ tát và các loại tĩnh lự khác nhau, ta có thể thấy trong các kinh luận, như theo kinh Bồ tát địa trì quyển 6 và luận Du già sư địa quyển 43 thì Thiền ba la mật có 9 tướng sau đây: 1. Tự tính thiền(cũng gọi Tự tính tĩnh lự): Chỉ cho tự tính của tĩnh lự, tứcTâm nhất cảnh tính trong đó tâm hoàn toàn tập trung vào 1 đối tượng duy nhất; hoặc chỉ cho Thiền do quán xét tự tính của tâm mà đạt được. 2. Nhất thiết thiền(cũng gọi Nhất thiết tĩnh lự): Chỉ cho Thiền thu nhiếp hết thảy pháp tự hành hóa tha. 3. Nan thiền(cũng gọi Nan hành tĩnh lự): Loại Thiền khó tu.Vì muốn làm lợi ích cho vô lượng hữu tình mà bỏ niềm vui thiền định, sinh lại cõi Dục, cho đến y chỉ tĩnh lự để chứng ngộvô thượng. 4. Nhất thiết môn thiền(cũng gọi Nhất thiết môn tĩnh lự): Môn là cửa ra vào. Tất cả thiền định đều dùng 4 loạiThiền này làm cửa, từ đó ra và vào. 5. Thiệnnhân thiền(cũng gọi Thiện sĩ tĩnh lự): Thiền không đắm trước niềm vui thiền định, đi đôi với 4 tâm vô lượng. Loại thiền này do các chúng sinh có thiện căn thù thắng tu hành nên gọi là Thiện nhân thiền. 6. Nhất thiết hạnh thiền(cũng gọi Nhất thiết chủng tĩnh lự): Thiền thu nhiếp hết thảy hạnh Đại thừa, cho nên gọi là Nhất thiết hạnh thiền. Thiền này có 13 loại là Thiện thiền, Vô kí hóa hóa thiền, Chỉ phần thiền, Quán phần thiền, Tự tha lợi thiền, Chính niệm thiền, Xuất sinh thần thông lực công đức thiền, Danh duyên thiền, Nghĩa duyên thiền, Chỉ tướng duyên thiền, Cử tướng duyên thiền, Xả tướng duyên thiền và Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền. 7. Trừ phiền não thiền(cũng gọi Toại cầu tĩnh lự): Thiền diệt trừ các thứ khổ não của chúng sinh. 8. Thử thế tha thế lạc thiền(cũng gọi Thử thế tha thế lạc tĩnh lự): Thiền mang lại sự khoái lạc cho tất cả chúng sinh trong hiện tại và vị lai. 9. Thanh tịnh tịnh thiền (cũng gọi Thanh tịnh tĩnh lự):

Đã dứt hết tất cả hoặc, nghiệp, được quả đại Bồ đề, cho nên gọi là thanh tịnh. Thiền này lại được chia ra làm10 loại như Thiền thế gian thanh tịnh tịnh bất vị bất nhiễm ô, cho đến Thiền phiền não trí chướng đoạn thanh tịnh tịnh... Chín loại thiền nói trên chỉ là Thiền thù thắng do các Bồ tát tu hành, nên gọi là Cửu chủng đại thiền. Theo phẩm Tối tịnh địa đà la ni trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 4 thì thành tựu tĩnh lự Ba la mật có 5 tướng, đó là: 1. Nhiếp các thiện pháp, không để cho tán thất. 2. Thường nguyện giải thoát, không chấp trước 2 bên. 3. Nguyện được thần thông, thành tựu các căn lành cho chúng sinh. 4. Vì làm cho pháp giới thanh tịnh nên diệt trừ tâm cấu. 5. Diệt trừ phiền não căn bản của chúng sinh.Trên đây là nói rõ các ý nguyện mong cầu của Bồ tát khi tu tĩnh lự Ba la mật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 thượng có nói về 3 thứ Thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền, trong đó, Xuất thế gian thượng thượng thiền lại được chia làm 9 thứ, tức là Cửu chủng đại thiền. Đối lại, Xuất thế gian thiền có 4 thứ sau đây:1. Quán thiền: Như Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... đều là Quán thiền. Tức làThiền quán chiếu các cảnh tướng bất tịnh. 2. Luyện thiền: Như Cửu thứ đệ định. Tức rèn luyện thiền Hữu lậu khiến trở thành thiền Vô lậu. 3. Huân thiền: Như tam muội Sư tử phấn tấn. Tức hun đúc cácThiền, khiến thông suốt vô ngại, chuyển biến tự tại. 4. Tu thiền(cũng gọi Đính thiền): Tức xuôi ngược tự tại, tam muội siêu việt vượt vào vượt ra. Bốn thứ Thiền trên đây gọi tắt là Quán luyện huân tu, trong đó Tu thiền là thù thắng nhất. Cũng trong Pháp hoa huyền nghĩa còn ví dụ Căn bản cựu thiền, Luyện thiền, Huân thiền, Tu thiền, Cửu đại thiền với 5 vị(từ sữa cho đến đề hồ) và gọi 3 loại thiền định là Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ vô sắc là Thập nhị môn thiền (tông Thiên thai chỉ gọi Vị đẳng chí là Thập nhị môn thiền).

Thập nhị môn thiền này là Căn bản vị thiền trong Thế gian thiền. Đối lại, tông Thiên thai lấy Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền(cũng gọi Thông minh quán, Thông minh quán thiền. Tức quán chung 3 thứ hơi thở, sắc, tâm làm cho chúng sáng suốt, thanh tịnh, lại được 9 thứ gồm 4Thiền, 4Vô sắc, Diệt tận định của Lục thông và Tam minh) làm Căn bản tịnh thiền của thế gian. Phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3, chiaThiền làm 4 loại: 1. Ngu phu sở hành thiền: Thiền của hàng Thanh văn tu hành sau khi ngộ lí Nhân vô ngã. 2. Quán sát nghĩa thiền: Thiền của hàng Bồ tát tu hành sau khi ngộ lí Pháp vô ngã. 3. Phan duyên chân như thiền: Thiền siêu việt tư lự và phân biệt, tâm không khởi tác dụng, tức khắc ngộ chân như như thực.4. Chư Như lai thiền: Thiền ngộ nhập bồ đề của Như lai, vì chúng sinh mà hiển bày tác dụng không thể nghĩ bàn của loại Thiền này. Ngoài ra, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng của ngài Khuê phong Tông mật chia Thiền làm 5 loại là Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượng thượng thiền. Chú Duy ma cật kinh quyển 9 thì nêu thuyết của ngài Cưu ma la thập, chia Thiền làm 3 loại là Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Ngoại đạo thiền.

Ở Trung quốc, trong các tông phái, mỗi tông đều y cứ theo giáo lí của tông mình mà tu Thiền định, nhưng cũng có tông phái tu Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền. LoạiThiền này bắt nguồn từ tư tưởng kinh Lăng già, chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự. Tông chỉ của Thiền này là dùng tâm truyền tâm từ đức Thích tôn đến nay, tức không y cứ vào chữ nghĩa trong kinh điển, chỉ chuyên dùng phương pháp ngồi thiền, đánh hét... làm cho chúng sinh tỏ ngộ bản lai diện mục của mình. Đó chính là Thiền tông được thành lập sau khi loại Thiền này được truyền đến Trung quốc. Ởđời Đường có các lưu phái thiền Ngưu đầu, thiền Bắc tông, thiền Nam tông...Về sau, thiền Nam tông từng cực thịnh một thời. Đến các tông Lâm tế, Tào động thì mỗi tông đều có tông phong đặc biệt riêng của mình. Ngài Tông mật căn cứ vào đó mà chia Thiền tông đời Đường làm 3 phái (Thiền tam tông), đó là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông này không quan tâm đến các cảnh tượng bên ngoài, mà chỉ chuyên quán xét nội tâm để diệt trừ các vọng niệm. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh đềunhư mộng như huyễn, đến cả trí Không cũng chẳng có, khiến cho tâm hoàn toàn dứt bặt (mẫn tuyệt), không một mảy may ý niệm gì (vô kí), vì xưa nay vốn không. Thấu suốt lí này liền được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông này trực ngộ được tính Không, Hữu của tất cả hiện tượng đều là bản tính chân như. Từ lập trường Giáo, Thiền nhất trí, ngài Tông mật chủ trương Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền là Tối thượng thượng thiền, hoặc gọi là Như lai thanhtịnhthiền. Nhưng các Tổ sư Thiền môn chủ trương truyền riêng ngoài giáo thì cho rằng gọi Thiền do Tổ Đạt ma truyền là Như lai thiền thì hoàn toàn không thích đáng.

Bởi vì từ giữa đời Đường về sau, thiền Đạt ma là thiền Tổ sư truyền cho Tổ sư, y cứ vào đó thì có thể gọi là Tổ sư thiền, cũng gọi là Nhất vị thiền, ý nói là Thiền thuần túy, còn gọi chung Thiền do ngài Tông mật lập ra là Như lai thiền, Ngũ vị thiền. Ngoài ra, đồ chúng của Tổ sư thiền thường chê bai các hạnh thiện là hữu tướng, nhưng cũng do đó mà nảy sinh tư tưởng phản động, chủ trương sự lí song tu, Thiền tịnh cộng hành. Các phái Thiền tông có khi phê bình tông phong của nhau, như ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc tông Lâm tế phê bình Thiền phong cố thủ mặc niệm bất động của ngài Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động là thiếu tác dụng hoạt bát bén nhạy chỉ là một loại Mặc chiếu thiền. Còn ngài Hoành trí thì phê bình Thiền phong của ngài Tông cảo là loại Khán thoại thiền, bị kẹt trong công phu tham cứu công án. Cuối đời Tống, Đãi ngộ thiền lấy việc ngồi thiền mong được khai ngộ rất thịnh hành và các ngài Hoành trí cùng ngài Vĩnh bình Đạo nguyên người Nhật bản đều dạy loại Thiền này, cho rằng ngồi thiền là hạnh của Phật, là Đệ nhất nghĩa. Ngoài ra, ngồi thiền một cách ngu si như khúc gỗ, chỉ biết ngồi yên lặng mà tâm địa không mở tỏ thì bị chê là Si thiền. [X.kinh Đạo hành bát nhã Q.2; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản 60 quyển); luận Đại trí độ Q.17; luận Du già sư địa Q.12, 63; luận Câu xá Q.28; Ma ha chỉ quán Q.9, thượng, Q.9 hạ, Q.10 thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tông kính lục Q.36; Vạn thiện đồng qui tập Q.1, 2; Vãng sinh tập Q.hạ]. (xt. Tứ Thiền, Như Lai Thiền, Định).
duy tâm
(唯心) Phạm: Citta-màtra. Tất cả sự tồn tại trong vũ trụ đều do tâm biến hiện, ngoài tâm không có pháp nào tồn tại. Tâm là bản thể chân thực duy nhất của vạn hữu. Hoa nghiêm nhất thừa thập huyền môn (Đại 45, 518 trung), nói: Ba cõi hư vọng, chỉ do tâm tạo. Tông Pháp tướng giải thích tâm là thức A lại da và nói vạn pháp duy thức; tông Hoa nghiêm thì giải thích là tâm Như lai tạng tự tính thanh tịnh, hàm ý là chân như theo duyên sinh ra các pháp. Trong Thập bất nhị môn chỉ yếu sao quyển thượng, ngài Tri lễ dùng hai từ duy tâm và do tâm để phân biệt thuyết Duyên khởi của Đại thừa và Tiểu thừa. Kệ của Bồ tát Như lai lâm trong phẩm Dạ ma thiên cung Bồ tát thuyết kệ trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) quyển 10 (Đại 9, 465 hạ), nói: Tâm như thợ vẽ giỏi Vẽ các thân năm ấm Tất cả trong thế giới Không pháp nào chẳng tạo Tâm Phật cũng như vậy Phật chúng sinh cũng thế Tâm, Phật và chúng sinh Cả ba không sai khác Ở đây, theo tông Hoa nghiêm, tâm là năng tạo (người tạo tác). Phật và chúng sinh là sở tạo (những thứ được tạo ra), người ngộ Như lai tạng là Phật, người mê Như lai tạng là chúng sinh. Duyên khởi có dơ có sạch khác nhau, nhưng tự thể của tâm thì giống nhau, cho nên tâm, Phật và chúng sinh không sai khác. Trái lại, phái Sơn gia trong tông Thiên thai cho Phật, tâm và chúng sinh cùng là pháp tam thiên, cho nên không những chỉ tâm là năng tạo, mà Phật và chúng sinh cũng là năng tạo. Cũng thế, chẳng phải chỉ Phật và chúng sinh là sở tạo, mà tâm cũng là sở tạo. Còn tông Pháp tướng giải thích nghĩa này là chỉ có thức không có cảnh, tông Chân ngôn thì bảo ba mật (thân, ngữ, ý) của Phật và của chúng sinh là bình đẳng. [X. Phẩm Thập địa trong kinh Hoa nghiêm (60 quyển) Q.25; Thập địa kinh luận Q.8; luận Thành duy thức Q.2; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí].(xt. Sơn Gia, Sơn Ngoại; Duy Thức).
Trần cấu
塵垢; C: chéngòu; J: jin'ku;
Các đối tượng của giác quan không lành mạnh; Tuỳ phiền não (s: upakleśa).
Vô thường
無常; S: anitya; P: anicca; nghĩa là không chắc chắn, thay đổi;
Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của tất cả sự vật. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại diệt. Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ (s: duḥkha) và Vô ngã (s: anātman). Vô thường là tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường thì không có sự tồn tại; vô thường cũng chính là khả năng dẫn đến giải thoát. Có tri kiến vô thường hành giả mới bước vào Thánh đạo (s: ārya-mārga) – vì vậy tri kiến vô thường được xem là tri kiến của bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).

Vô thường là gốc của Khổ vì Sinh, Thành, Hoại, Diệt tự nó là Khổ. Tính Vô thường của Ngũ uẩn dẫn đến kết luận Vô ngã, vì không có gì vừa vô thường vừa Khổ lại là một cái Ngã trường tồn được. Ngoài ra, trong Ðại thừa, tính vô thường của mọi pháp dẫn đến kết luận về tính Không.
nghiệp
(業) Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Hán âm: Yết ma. Nghĩa là sự tạo tác, tức chỉ cho những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chí sinh ra. Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai. Ngoài ra, Nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác như khổ vui và tư tưởng luân hồi trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Ấn độ, Phật giáo dùng nó làm căn cứ để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai.

Trong Phật học, hàm ý và giới thuyết của nghiệp được chia làm 3 loại: Thân nghiệp, Ngữ nghiệp, và Ý nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa tiến thêm bước nữa mà giải thích rằng, ý chí trong nội tâm muốn làm 1 việc gì đó gọi là ý nghiệp; còn dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ý chí thì gọi là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp (Khẩu nghiệp). Nghiệp cũng còn được chia làm 2 loại là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp chỉ cho những hoạt động của ý chí; Tư dĩ nghiệp chỉ cho trong Tư nghiệp đã có các hành động. Ở đây, Tư nghiệp đồng với Ý nghiệp, Tư dĩ nghiệp đồng với Thân nghiệp và Ngữ nghiệp. Về bản thể (nghiệp thể, nghiệp tính) của 3 nghiệp thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp thuộc về tâm pháp (ý chí), còn Thân nghiệp, Ngữ nghiệp thì thuộc về sắc pháp (vật chất). Nhưng Phật giáo Đại thừa và Kinh bộ thì chủ trương tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm, đây mới chính là lập trường cơ bản của Phật giáo.Thuyết nhất thiết hữu bộ còn chia Thân nghiệp và Ngữ nghiệp làm 2 loại là Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác thấy được, còn Vô biểu nghiệp là không hiện bày ra bên ngoài, người khác không thấy được.

Vô biểu nghiệp cũng gọi là Vô biểu sắc, bản thể của nó là 1 loại sắc pháp, khởi lên nghiệp thiện, ác rất mãnh liệt, nhưng về tính chất thì bao hàm cả Thân biểu nghiệp, Ngữ biểu nghiệp và Định. Vô biểu nghiệp được chia làm 3 loại: 1. Luật nghi: Thiện nghiệp do giới, định phát khởi. 2. Bất luật nghi: Ác nghiệp do tập quán phát khởi và có tính quyết đoán rất mạnh. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi: Nghiệp thiện, nghiệp ác tùy lúc mà phát khởi theo tác dụng vô biểu. Thiện vô biểu có tác dụng ngăn ngừa điều ác, ác vô biểu có tác dụng chướng ngại việc thiện, chính do đây mà tính cách hậu thiên của con người được hình thành. Thân nghiệp và Ngữ nghiệp, mỗi nghiệp đều có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cộng với Ý nghiệp thành là 5 nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo (dị thục) khổ, vui tướng ứng. Vì có nghiệp nhân cho nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn nghiệp vô kí chẳng thiện chẳng ác thì không có sức chiêu cảm quả báo. Về mối quan hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả thì quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ như sau: Nghiệp có liên quan đến 3 đời là nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định (thủ quả) dẫn đến quả báo vị lai. Mặt khác, nghiệp từ quá khứ do sức tác dụng mãnh liệt mà mang lại quả báo (dữ quả)trong hiện tại.

Ở đây, Kinh lượng bộ cho rằng nghiệp tiêu diệt trong khoảnh khắc, nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức, lại do chủng tử này dẫn sinh ra quả báo. Loại tư tưởng chủng tử này rất giống với thuyết Vô biểu nghiệp của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Có nhiều cách phân loại nghiệp, nhưng nói một cách tổng quát thì quả báo trong 1 đời người hoàn toàn do nghiệp dẫn dắt, tức Dẫn nghiệp (khiên dẫn nghiệp, tổng báo nghiệp, dẫn nhân) có sức tác dụng mạnh mẽ và có thể khiến cho người sinh vào 1 cõi nào đó như người, súc sinh hoặc các loài khác... Nếu sinh vào cõi người thì sự khác nhau về các căn, hình lượng, sắc lực trang nghiêm... của mỗi cá thể là do Mãn nghiệp (viên mãn nghiệp, biệt nghiệp) hình thành. Quả báo của Dẫn nghiệp gọi là Tổng báo, quả báo của Mãn nghiệp gọi là Biệt báo, 2 nghiệp này hợp lại gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 1 Dẫn nghiệp dẫn sinh ra 1 lần, nhưng lại có rất nhiều Mãn nghiệp để hoàn thành đời sống con người, bởi thế, nhiều nghiệp dẫn sinh 1 đời hoặc 1 nghiệp dẫn sinh nhiều đời là việc tuyệt đối không thể có. Nghiệp lại có 2 loại là Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. Cộng nghiệp chỉ cho quả báo chung, như núi sông đất đai (thế giới vật lí), vô số sinh vật v.v...

Còn Bất cộng nghiệp là quả báo riêng của mỗi sinh vật (như thân thể đẹp, xấu, giàu nghèo, sang hèn v.v...). Lại nữa, nghiệp có 3 tính chất: Thiện (nghiệp yên ổn) do tâm thiện sinh khởi, Bất thiện (nghiệp không yên ổn) do tâm ác sinh khởi; Vô kí (không thiện không ác) do tâm vô kí sinh khởi. Nghiệp ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt, cho nên gọi là Phạt nghiệp(hoặc là phạt), 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Tam phạt. Trong 3 nghiệp thì Ý nghiệp quan trọng nhất. Nghiệp được tạo tác qua 1 quá trình suy tư chín chắn rồi mới quyết đoán thực hiện, gọi là Cố tư nghiệp, Cố tác nghiệp (cố ý làm). Ngược lại, nghiệp do lầm lỡ, không cố ý gây ra, gọi là Bất cố tư nghiệp, Bất cố tác nghiệp. Vô kí nghiệp và Bất cố tư nghiệp đều không dẫn sinh quả báo. Cố tư nghiệp được thực hiện với tinh thần tích cực, mạnh mẽ, gọi là Tăng trưởng nghiệp; còn Cố tư nghiệp được tạo tác với tâm yếu ớt, không nhiệt thành thì cùng với Bất cố tư nghiệp gọi chung là Bất tăng trưởng nghiệp. Nghiệp tăng thêm sức mạnh dần dần gọi là Tăng thượng nghiệp, Tăng trưởng nghiệp, trái lại thì gọi là Tạo tác nghiệp. Nghiệp ác do chúng sinh tạo tác ở cõi Dục thường chiêu cảm quả báo khổ khiến cho 5 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân phải chịu, cho nên gọi là Thân thụ nghiệp.

Còn nghiệp thiện do chúng sinh tạo tác ở cõi Sắc (ngoại trừ Sơ thiền thiên) và cõi Vô sắc thường chiêu cảm quả báo vui khiến ý thức hưởng thụ, cho nên gọi là Tâm thụ nghiệp. Thân thụ nghiệp và Tâm thụ nghiệp gọi chung là Nhị thụ nghiệp. Lại nữa, nghiệp thiện mang lại hạnh phúc, nên gọi là Phúc nghiệp, còn nghiệp ác dẫn đến bất hạnh, khổ đau, nên gọi là Phi phúc nghiệp. Thiện nghiệp cũng gọi Bạch nghiệp, ác nghiệp cũng gọi là Hắc nghiệp, còn Vô kí nghiệp thì gọi là Phi hắc phi bạch nghiệp. Lại tùy theo sự chịu báo mau hay chậm mà nghiệp được chia ra 4 loại: Đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo gọi là Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo gọi là Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp đến đời thứ 3 về sau mới chịu báo gọi là Thuận hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Sự chịu báo của 3 thời nghiệp nói trên có thời kì nhất định, cho nên cũng gọi là Định nghiệp. Còn nghiệp mà quả báo không xác định thời gian thì gọi là Bất định nghiệp, Thuận bất định nghiệp. Y cứ vào nội dung quả báo (định hoặc bất định) của Bất định nghiệp, lại có 2 loại khác nhau: Xác định quả báo nhưng không xác định lúc nào thì chịu báo, gọi là Dị thục định thời bất định. Quả báo và thời gian chịu báo đều không xác định, gọi là Dị thục thời câu bất định. Ba thời nghiệp và 2 nghiệp Bất định gọi chung là Ngũ nghiệp. Ba thời nghiệp, mỗi nghiệp chia ra 2 loại là Thời định dị thục định (thời gian xác định, quả báo cũng xác định) và Thời định dị thục bất định (thời gian nhất định, quả báo không nhất định), cộng chung có 6 loại, 6 loại này cộng chung với 2 nghiệp Bất định nói trên thành là 8 nghiệp. Chỗ y cứ của tác dụng nghiệp là con đường chung dẫn đến quả báo khổ, vui của loài hữu tình, gọi là Nghiệp đạo(Căn bản nghiệp đạo), có 2 loại là Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Vấn đề này, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ và Duy thức Đại thừa trình bày có hơi khác nhau. Nghiệp là nhân sinh ra quả báo (dị thục), vì thế cũng gọi là Nghiệp nhân, hoặc Nhân nghiệp.

Quả do nghiệp mang lại, gọi là Nghiệp quả, Nghiệp báo. Cái sức dắt dẫn nghiệp quả, gọi là Nghiệp lực. Do nghiệp mà đưa đến quả báo khổ, gọi là nghiệp khổ. Ác nghiệp và phiền não gọi chung là Nghiệp kết, Nghiệp não. Chướng ngại do nghiệp ác sinh ra, gọi là Nghiệp chướng, Nghiệp lụy. Vì nghiệp có khả năng chiêu cảm báo ứng, cho nên cũng gọi là Nghiệp cảm. Nghiệp được tạo tác ở đời quá khứ, gọi là Túc nghiệp, hoặc Tiền nghiệp. Thọ mệnh do túc nghiệp đền trả, gọi là Nghiệp thọ, Nghiệp thụ. Trọng bệnh do nhân của Túc nghiệp gây ra, gọi là Nghiệp bệnh. Những tai ách do ảnh hưởng của túc nghiệp, gọi là Nghiệp ách. Lại vì nghiệp đeo theo con người giống như bóng với hình, cho nên cũng gọi là Nghiệp ảnh. Nghiệp có năng lực trói buộc chúng sinh ở cõi mê, cho nên gọi là Nghiệp hệ, Nghiệp quyên, Nghiệp phược, Nghiệp thằng. Nghiệp giống như tấm lưới vít kín chúng sinh trong cõi mê, vì thế gọi là Nghiệp võng. Ác nghiệp giống như bụi nhơ, hay làm bẩn thân người nên gọi là Nghiệp cấu, Nghiệp trần. Cũng có chỗ ví dụ tác dụng của Nghiệp ác giống như lửa, ma, giặc, cho nên gọi là Nghiệp hỏa, Nghiệp ma (1 trong 10 loại ma), Nghiệp tặc v.v... Tấm gương, cái cân, cuốn sổ... trong địa ngục dùng để soi rọi, cân lường và ghi chép nghiệp thiện, ác của chúng sinh được gọi là Nghiệp kính, Nghiệp xứng, Nghiệp bạ... Sức của Nghiệp ác mạnh như gió, cho nên gọi là Nghiệp phong. Sức thần thông có được nhờ túc nghiệp, gọi là Nghiệp thong (Báo thông).

Nghiệp có năng lực chiêu cảm (quả báo) địa ngục Vô gián, gọi là Vô gián nghiệp. Nghiệp trói buộc hữu tình chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Tam giới hệ nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo khiến hữu tình chúng sinh sinh vào các cõi trong vị lai, gọi là Nhuận nghiệp, Nhuận sinh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp do mình tự tạo, mình chịu quả báo, gọi là Tự nghiệp tự đắc. Chi Hữu trong 12 nhân duyên được gọi là Nghiệp hữu. Sau hết, pháp tu niệm Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ được gọi là Tịnh nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 37, 49; kinh Trung a hàm Q.3, 58; kinh Trường a hàm Q.11; kinh Bản sự Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; Duy thức luận đồng học sao Q.1; Phật pháp khái luận chương 7 (Ấn thuận); Thành Phật chi đạo Ngũ thừa cộng pháp chương (Ấn thuận); Phật học Kim thuyên (Trương trừng cơ); Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận thiên 2 chương 4 (Mộc thôn Thái hiền); Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận thiên 5 chương 5 (Mộc thôn Thái hiền)]. (xt. Nghiệp Đạo).
Tu Di Sơn
(s, p: Sumeru, 須彌山): âm dịch là Tô Mê Lô (蘇迷盧), Tu Di Lâu (須彌樓), ý dịch là Diệu Cao Sơn (妙高山). Theo như thuyết về vũ trụ của Ấn Độ cổ đại, ngay trong tâm của một thế giới có núi Tu Di, dưới núi ấy có các lớp chồng chất lên nhau theo thứ tự là Địa Luân, Thủy Luân, Phong Luân, Chung quanh núi ấy có bao bọc giao nhau bởi 9 ngọn núi và 8 biển, ở 4 phương trong biển phía bên ngoài có quần đảo, trong hòn đảo phía Nam (Nam Diêm Phù Đề) có con người cư trú. Trên Tu Di sơn cây Hương rất sum sê và ở 4 phương có 4 vị thiên vương, phía trên đỉnh núi có trời Đế Thích với 33 cung điện của cõi trời, mặt trời và mặt trăng thường xuyên chiếu sáng ngay trong lòng núi này.

Vô Thường
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

Phật Nói Kinh Vô Thường
Đời Đường Tam Tạng Pháp Sư Nghĩa Tịnh