Như Lai đã thuyết giảng giáo lý có đến vô vàn pháp  môn.  Trong kinh có khi Phật nói ra một vấn đề hoặc nói ra do một nhân duyên nào đó.  Những điều ấy không thể nào kể hết cho được.  Thế nhưng, chỉ có một pháp môn Niệm Phật là được đức Phật tán dương nhiều lần, như giữa vùng đồng bằng bao la bỗng dưng có ngọn núi đứng sừng sững, như ánh sáng của ngôi sao mai chiếu tỏa xuống bãi sa mạc mênh mông lúc trời sắp sáng. Về sự thù thắng của các pháp môn chưa có pháp môn nào hơn một pháp môn này.  Bây giờ, tôi chỉ lấy các kinh nói về tịnh độ phương Tây của Phật A Di Đà, đem vào chương bộ loại thứ ba này, chia làm hai nghĩa kinh và vĩ.  Thuyết văn có nói: “Sự dệt vải đại loại có hai đường:  Kinh và vĩ.  Đường kinh được dệt bởi tập hợp những sợi tơ dọc.  Đường kinh không đổi mà đường vĩ thì đổi thay”.  Nếu kinh không chuyên nói về cõi An Dưỡng thì tôi không biên chép vào đây.  Còn vĩ nếu có đề cập đến pháp môn Niệm Phật thì tôi cũng lấy, như kẻ lên núi non lùng sục ngọc quý chỉ nhặt lấy  mỡ dê, kẻ xuống biển cả tìm kiếm trầm hương mà lại nỡ bỏ hương ngưu đầu.  Khổng Tử nói rằng: “Điều nghi không biết thì người ta há bỏ được chăng?  Còn đến nghe điều chưa được nghe bao giờ thì phải trông mong ở bậc triết nhân sau này”.

1/ Kinh trong kinh.
2/ Vĩ trong kinh.
3/ Kinh trong vĩ.
4/ Vĩ trong vĩ.

1/ Kinh trong kinh

1- Kinh Vô lượng thanh tịnh bình đẳng giác
2- Kinh Vô Lượng Thọ.
3- Kinh A Di Đà.
4- Kinh Vô Lượng Thọ trang nghiêm.
5- Kinh thứ mười tám trong Đại bảo tích mệnh danh Vô Lượng Thọ Như Lai hội.

Năm kinh trên có cùng một bản chữ Phạn, bốn bản trước chưa được tinh tường.

6- Kinh Đại A Di Đà là bản kinh mà cư sĩ Long Thơ đem bốn bản dịch trước dung hội với nhau, ghi lại lời Phật thuyết pháp cho A Nan, Từ Thị, … nghe tại núi Linh Thứu, ở thành Vương Xá.

Trong các bản dịch, bản Vô Lượng Thọ Như Lai hội trong kinh Đại bảo tích có nội dung phong phú.  Tôi không biết tại sao Long Thơ lại không thấy bản kinh này?

– Kinh Phật thuyết A Di Đà và kinh Xưng tán tịnh độ Phật nhiếp thọ có cùng  một bản chữ Phạn, nhưng kinh trước chỉ nói sơ lược về Tịnh Độ hơn kinh sau.  Tại vườn của Cấp Cô Độc, ở nước Xá Vệ, Phật thuyết pháp cho Xá Lợi Phật.  Người đọc tụng phần nhiều dùng đến kinh  này.

– Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật nói: “Trong núi Kỳ Xà Quật, ở thành Vương Xá, Phật thuyết pháp cho phu nhân Vi Đề Hy”.  Trong kinh trình bày đầy đủ mười sáu pháp quán mầu  nhiệm và các pháp môn tu tập.  Cho nên, Cô Sơn phê phán là định thiện.

Tuy  nhiên, ba loại kinh trên đều chuyên dựng lập giáo nghĩa của Tây Phương, như vị trời trong cõi trời, như vị vua trong cõi người, chứ chẳng phải bài bác lẫn nhau.  Lại như thái hư bao la, rỗng lặng, không có một vật, chẳng lẽ có vật thứ hai sao?  Nghĩa lý sâu xa huyền diệu trong các kinh đã có nói đầy đủ ở các chương khác của sách này.  Bây giờ, tôi không thuật lại vì dài dòng văn tự.

2/ Vĩ trong kinh

– Kinh Cổ âm vương ghi: “Tại bên ao Già Già thuộc thành lớn Chiêm Ba, Phật bảo một trăm thầy tỳ kheo:  Nếu có bốn chúng thọ trì danh hiệu Phật A Di Đà thì đến khi lâm chung, những vị ấy đều được Phật và thánh chúng tiếp dẫn vãng sinh”.

– Kinh Hậu xuất A Di Đà Phật kệ ghi từ câu: “Niệm pháp tỳ kheo nãi tòng Thế Nhương Vương”  đến câu: “Hoằng thử vô lượng thệ, thế thế khể thủ hành”.

Cộng chung tất cả được năm mươi sáu câu, từ câu đầu đến câu cuối chỉ có kệ mà thôi.

Hai kinh trên cũng chuyên trình bày về Tịnh Độ.  Nói về nghĩa lý thì kinh A Di Đà Phật kệ chỉ nói sơ lược, nên sắp xếp nó vào loại vĩ.  Lại nữa, ý nghĩa của kinh Cổ âm nghiêng về việc trì chù, còn Kệ kinh thuộc thể loại kệ tụng chứ không phải là văn xuôi.

3/ Kinh trong vĩ

– Kinh Hoa Nghiêm ghi:  “Bồ tát Phổ Hiền khích lệ đồng tử Thiện Tài và đại chúng trong hải hội nên phát mười điều nguyện lớn; đến khi lâm chung, tất cả các căn đều tan rã, tất cả oai thế đều tiêu mất, chỉ có nguyện lớn này theo mãi không rời mà thôi.  Trong tất cả thời, nguyện lớn này theo mãi không rời mà thôi.  Trong tất cả thời, nguyện lớn này dẫn đường đi trước.  Khoảng một giây phút liền được vãng sinh về thế giới Cực Lạc .  Người ấy tự thấy sinh trong hoa sen được Phật thọ ký.  Khi được thọ ký rồi, trải qua vô số kiếp độ khắp chúng sinh ở mười phương thế giới nhiều đến không kể xiết, tùy theo tâm niệm chúng sinh mà vận dụng trí tuệ để làm lợi ích cho đến có thể dấn thân vào biển lớn phiền não thống khổ để cứu vớt chúng sinh, đưa họ thoát khỏi sinh tử và được sinh về thế giới Cực Lạc”.  Lại nữa, trưởng giả Giải Thoát nói rằng: “Nếu ta muốn thấy thế giới An Lạc của Vô Lượng Thọ Như Lai thì tùy ý liền thấy.  Tất cả thế giới trong mười phương như thế đều có Như Lai, nếu ta muốn thấy thì tùy ý liền thấy.  Ta có thể biết rõ các việc thần thông, cõi nước trang nghiêm của Như Lai không đến cũng không đi, không có hành xứ cũng không có trụ xứ, cũng như thân ta không đến cũng không đi, không có hành xứ cũng không có trụ xứ”.

– Kinh Pháp hoa ghi: “Nghe kinh điển này, tu tập đúng như lời Phật, đến khi đời sống kết thúc, người ấy lập tức sinh về thế giới An Lạc của Phật A Di Đà, nơi đó có các vị đại bồ tát bao quanh.  Người ấy sinh trong hoa sen, ngồi trên tòa báu, chứng nhập vô sinh nhẫn, thần thông của bồ tát.  Khi chứng nhập nhẫn ấy rồi , thì nhãn căn thanh tịnh.  Vì nhãn căn thanh tịnh nên thấy được các đức Như Lai nhiều bằng số cát của bảy trăm vạn hai ngàn ức trăm triệu sông Hằng”.

– Kinh Lăng nghiêm ghi: “Bồ tát Đại Thế Chí bạch với Phật rằng:

– Con nhớ thuở xa xưa, số kiếp như cát của sông Hằng, có Phật Vô Lượng Quang ra đời.  Thuở ấy có mười hai đức Như Lai kế tiếp nhau thành Phật trong một kiếp.  Đức Phật sau cùng mệnh danh Siêu Nhật Nguyệt Quang dạy con tu pháp Niệm Phật tam muội, ví như một người chuyên nhớ, một người hay quên.  Hai người ấy hoặc có gặp nhau cũng như không gặp, hoặc có thấy nhau cũng như không thấy.  Nếu cả hai người đều nhớ nhau, cứ nhớ mãi sâu vào tâm niệm cũng như hình với bóng thì từ đời này đến đời khác không bao giờ cách xa nhau.  Như Lai khắp cả mười phương thương tưởng chúng sinh như mẹ hiền thương nhớ con thơ.  Nếu con thơ cương quyết trốn tránh mẹ hiền thì mẹ hiền có thương nhớ đến cũng vô ích  mà thôi. Nếu con thơ nhớ tưởng đến mẹ hiền cũng như mẹ hiền nhớ nghĩ đến con thơ thì đời đời mẹ con không cách xa.  Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật thì hiện tại hay vị lai nhất định thấy Phật, cách Phật không xa, không nhờ phương tiện nào khác mà đóa hoa của tâm linh tự bừng nở, như người xức nước hoa thì thân có mùi thơm.  Đây gọi là Hương quang  trang  nghiêm.  Bản nhân của con là vận dụng tâm niệm Phật để chứng nhập vô sinh nhẫn.  Hiện nay, con ở cõi này tiếp dẫn người niệm Phật về Tịnh Độ.  Phật hỏi về viên thông, con thu nhiếp sáu căn, không có lựa chọn, tịnh niệm nối tiếp  không ngừng, vào tam ma địa, đây là hơn cả”.

– Kinh  Bảo tích ghi: “Phật bảo phụ vương:

– Tất cả chúng sinh đều là Phật. Bây giờ , phụ vương nên niệm Phật A Di Đà ở thế giới Tây Phương, siêng năng tinh tiến sẽ đắc Phật đạo.

Vua hỏi:

– Tất cả chúng sinh tại sao là Phật?

Phật đáp:

– Tất cả pháp không có sinh, không có lay động, không có nắm lấy, xả bỏ, không có hình tướng, không có tự tánh, phải an trụ tâm ấy trong Phật pháp.  Phụ vương chớ nên tin tưởng vào pháp nào khác.

Khi ấy, phụ vương và bảy vạn người dòng họ Thích nghe nói pháp này thì tin hiểu, vui mừng, tỏ ngộ vô sinh nhẫn.  Phật mỉm cười, nói bài kệ:

Họ Thích trí quyết định,
Nên đối với Phật pháp,
Tâm an trụ đức tin.
Sau khi bỏ thân này,
Sinh về nước An Lạc,
Diện kiến A Di Đà,
Chứng nhập vô sở úy,
Thành tựu đạo giác ngộ”.

Lại  nữa, Phật còn dạy Di Lặc phát mười tâm sẽ được vãng sinh về Cực Lạc.  Mười tâm là những gì:

  1. Đối với chúng sinh khởi tâm từ rộng lớn, tâm không tổn hại.
  2. Đối với chúng sinh khởi tâm bi rộng lớn, tâm không bức não.
  3. Đối với chánh pháp của Phật không tiếc thân mạng, vui vẻ giữ gìn.
  4. Đối với tất cả pháp phát sinh tâm thắng nhẫn, tâm không dính mắc.
  5. Không tham lợi dưỡng, cung kính, tôn trọng, cho nên tâm ý thanh tịnh, an vui,
  6. Vì cầu Phật trí nên không quên mất chánh niệm trong bất cứ lúc nào.
  7. Đối với tất cả chúng sinh tôn trọng, cung kính, không hề khinh khi.
  8. Không dính mắc vào thế luận, đối với thành phần tuệ giác sinh tâm qưyết định.
  9. Vun trồng căn lành, tâm tư thanh tịnh, không có tạp nhiễm.
  10. Đối với các đức Như Lai xa lìa các tướng, khởi tâm niệm  Phật.

Đó là bồ tát phát mười tâm, do tâm này nên được vãng sinh.  Trong mười tâm này, hành giả chỉ cần thành tựu một tâm và ưa thích sinh về thế giới của Phật kia, nếu không được sinh thì thật là vô lý.

– Kinh Bát chu tam muội ghi: “Phật bảo bồ tát Bạt Đà Hòa: Nếu có sa môn hay bạch y nghe nói cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà ở phương Tây, người ấy thường niệm Phật ở phương kia, không được phạm giới, nhất tâm niệm Phật  hoặc một ngày đêm, hoặc bảy ngày, bảy đêm, qua bảy ngày rồi, thì chiêm bao thấy Phật A Di Đà, chứ không phải thấy khi thức giấc.  Như thấy trong chiêm bao, người ấy không biết ban đêm, ban ngày, không phân biệt trong, ngoài; ở chỗ tối tăm, chỗ bị che khuất đều thấy được cả.  Này Bạt Đà Hòa! Khi bồ tát đang niệm danh hiệu, cảnh giới, cõi nước của các đức Phật, thì những chỗ tối tăm mù mịt của núi lớn, núi Tu Di đều được mở ra sáng sủa.  Mắt không bị che khuất, tâm cũng không bị ngăn trở.  Vị đại bồ tát ấy không được thiên nhãn mà nhìn thấu suốt, không được thiên nhĩ mà nghe thấu suốt, không được thần túc mà đến cõi Phật.  Không phải đợi đến khi lâm chung mới sinh về cõi Phật, mới thấy được Phật, mà ngay khi tĩnh tọa cũng thấy Phật A Di Đà, nghe Phật thuyết kinh , đều được thọ trì, từ trong chánh định có đủ khả  năng, vì người thuyết pháp”.

– Kinh Quán Phật tam muội ghi: “Văn Thù tự thuật nhân đời trước đắc Niệm Phật tam muội, sẽ được sinh về Tịnh Độ.  Thế Tôn lại thọ ký rằng: Ông sẽ vãng sinh về thế giới Cực lạc”

– Phẩm Hiền hộ trong kinh Đại tập ghi: “Người cầu tuệ giác vô thượng nên tu Niệm Phật Thiền tam muội.  Kệ rằng:

Nếu người niệm Phật A Di Đà,
Gọi là thiền sâu mầu vô thượng,
Ngay khi quán tưởng được thấy Phật,
Chính là pháp không sinh không diệt”.

– Kinh Thập trụ đoạn kiết ghi: “Trong khi tĩnh tọa có bốn ức chúng tự biết chết đây, sinh kia, dây dưa không dứt mà ái dục là nguồn gốc, họ ưa thích sinh về cõi nước không có ái dục.  Phật bảo: Về hướng Tây cách đây vô số cõi nước có Phật mệnh danh Vô Lượng Thọ.  Cõi nước kia thanh tịnh, không có dâm dục, giận dữ và si mê, hóa sinh trong hoa sen chứ không do bào thai của cha mẹ, quí vị nên sinh về cõi kia”.

Kinh Như Lai bất tư nghì cảnh giới ghi: “Bồ tát biết rõ các đức Phật và tất cả pháp đều là duy tâm, nên được tùy thuận nhẫn hoặc chứng nhập sơ địa, đến khi xả bỏ thân này liền sinh về thế giới Diệu Hỷ, hoặc sinh về cõi Cực Lạc”.

– Kinh Tùy nguyện vãng sinh ghi: “Cõi Phật nhiều vô lượng, tại sao chỉ chuyên cầu sinh về cõi Cực Lạc?

Đáp:

  1. Vì nhân thù thắng, mười niệm làm nhân.
  2. Vì duyên thù thắng, bốn mươi tám lời nguyện độ khắp chúng sinh”.

– Kinh Xưng dương chư Phật công đức ghi: “Nếu có người nghe được danh hiệu  Vô lượng Thọ Như Lai mà hết lòng tin ưa thì đến khi đời sống kết thúc, Phật A Di Đà và các vị tỳ kheo đến trước người ấy, ma không thể nào phá hoại tâm chánh giác của người ấy”.  Lại nói: “Nếu ai thọ trì, tụng niệm kinh này thì sẽ được vô lượng phước, vĩnh viễn ra khỏi ba đường dữ, sau khi đời sống kết thúc được vãng sinh về cõi kia”.

– Kinh Đại vân ghi: “Thiện nam tử, về phương Tây của thế giới Ta Bà có một thế giới mệnh danh An Lạc, có đức Phật mệnh danh Vô Lượng Thọ, hiện nay thường vì chúng sinh mà tuyên giảng chánh pháp.  Đức Phật ấy bảo một vị bồ tát: “Này thiện nam tử ! Ở thế giới Ta Bà, Phật Thích Ca Mâu Ni thuyết kinh Đại vân cho chúng sinh phước mỏng, độn căn nghe.  Ông nên đến đó hết lòng nghe nhận”, bồ tát kia muốn đến đây, cho nên trước tiên hiện điềm lành.  Thiện nam tử, ông hãy xem thân của các vị bồ tát ở cõi An Lạc cao năm vạn sáu ngàn do tuần.

– Bạch Thế Tôn, bồ tát kia sắp đến mệnh danh là chi, …đến cõi này vì nhân duyên gì ?

Phật bảo:

– Bồ tát kia đến đây không phải muốn độ chúng sinh mà chỉ tha thiết ngưỡng mong Như Lai vì chúng sinh mà phân biệt thuyết giảng.

Thiện nam tử, bồ tát ở cõi nước kia đến đây muốn nghe những việc thọ ký của bồ tát Tịnh  Quang, đều muốn cúng dường chánh định như vậy.

Thiện nam tử, bồ tát kia mệnh danh Vô Biên Quang (Đại Thế Chí), thông hiểu phương tiện, có thể khéo giáo hóa, dẫn dắt chúng sinh”.

– Kinh Lăng già ghi: “Này Đại Huệ! Sau khi ta diệt độ, ở Thiên Trúc về phương Nam có tỳ kheo danh đức lớn mệnh danh Long Thọ.  Tỳ kheo ấy có năng lực phá tan các tranh luận của các tông hữu, vô để làm sáng tỏ pháp đại thừa vô thượng của ta, chứng nhập sơ hoan hỷ địa được vãng sinh về nước An Lạc”.

– Kinh Đại bi ghi:”Sau khi ta diệt độ, ở Thiên Trúc về phương Bắc có tỳ kheo Kỳ Bà Già đã tu tập vô lượng căn lành tối thắng, đến khi đời sống kết thúc sinh về cõi Phật Vô Lượng Thọ ở phương Tây, cách đây hơn trăm ngàn ức thế giới.  Về sau thành Phật hiệu là Vô Cấu Quang Như Lai”.

4/ Vĩ trong vĩ

– Phẩm Tỳ lô giá na trong kinh Hoa nghiêm ghi: “Khi ấy, đồng tử Đại Oai Quang thấy Ba La Mật Thiện Căn Trang Nghiêm Vương Như Lai thành tựu tuệ giác vô thượng, hiển hiện năng lực thần thông, liền đắc Niệm Phật tam muội vô biên hải tạng”.

Lại nữa, phẩm Quang minh giác ghi: “Khi ấy, ánh sáng chiếu qua hàng ngàn thế giới, đến chỗ của bồ tát Văn Thù và chỗ của Phật thì đồng thời phát ra âm thanh, thuyết bài tụng rằng:

Trong tất cả oai nghi,
Thường niệm công đức Phật,
 Ngày đêm không ngừng nghỉ,
 Phải nên siêng tu tập”.

– Phẩm Hiền thủ ghi:

Thấy người lâm chung khuyên niệm Phật.
Và lập tượng Phật cho chiêm ngưỡng.
Để họ quy y về với Phật,
Do đó nay được ánh sáng này”.

– Niệm tạng thứ tám trong phẩm Thập vô tận tạng ghi: “Niệm này có mười thứ:

  1. Niệm tịch tịnh
  2. Niệm thanh tịnh
  3. Niệm không vẩn đục.
  4. Niệm sáng suốt.
  5. Niệm lìa trần cấu.
  6. Niệm lìa các thứ chấp trước.
  7. Niệm lìa các thứ nhơ bẩn
  8. Niệm chiếu sáng rực rỡ.
  9. Niệm đáng ưa thích.
  10. Niệm không thể chướng ngại”.

– Trong phẩm Đâu suất kệ tán, bồ tát Ly Cấu Tràng nói kệ:

“Lấy Phật làm cảnh giới,
Chuyên niệm không buông bỏ,
Người này thấy được Phật,
Tâm cùng Phật không khác”.

– Hồi hướng thứ mười trong phẩm Thập hồi hướng ghi:”Đem pháp thí hướng đến tất cả các đức Phật ở thời gian hiện tại, vị lai trong vô lượng vô biên thế giới để nguyện được ức niệm chư Phật bằng với pháp giới v.v…”

– Trong phẩm Thập địa, từ địa thứ nhất đến địa cuối cùng đều nói: “Tất cả việc làm không lìa niệm Phật”.

– Phẩm Phật bất tư nghì pháp ghi: “Như Lai có mười thứ Phật sự:

1-Nếu chúng sinh hết lòng tưởng niệm Phật thì hiện tại thấy được Phật.
2-Nếu chúng sinh tâm không nhu hòa thì Phật sẽ vì người ấy mà thuyết pháp v.v.”

Phẩm Nhập pháp giới ghi: “Tỳ kheo Đức Vân bảo đồng tử Thiện Tài:

– Thiện nam tử, ta được năng lực tri giải quyết định, tín căn thanh tịnh, trí tuệ sáng tỏ, quán khắp cảnh giới, xa lìa tất cả chướng ngại, đầy đủ hạnh thanh tịnh, tham quan khắp mười phương để cúng dường các đức Phật, thường niệm tất cả đức Như Lai, ghi nhớ chánh pháp của tất cả đức Phật, thường thấy tất cả đức Phật thuận theo các thứ tâm ưa thích của mỗi loài chúng sinh mà thị hiện các thứ để thành tựu tuệ giác vô thượng, ở trong đại chúng rống tiếng sư tử.  Thiện nam tử, ta chỉ được pháp môn Ánh sáng trí tuệ thấy khắp tất cả cảnh giới của các đức Phật được ức niệm này.

1.  Pháp môn này  mệnh danh là môn Niệm Phật ánh sáng trí tuệ chiếu khắp, vì chúng sinh niệm Phật thường thấy các cung điện trong cõi nước của tất cả các đức Phật đều thanh tịnh, trang nghiêm.

2.  Pháp môn  làm cho tất cả chúng sinh niệm Phật, vì tùy theo sở thích của tâm chúng sinh đều làm cho họ thấy Phật, tâm họ được thanh tịnh.

3.  Pháp môn  làm cho chúng sinh an trụ nơi niệm Phật, vì làm cho họ nhập vào thập lực của Như Lai.

4.  Pháp môn  làm cho chúng sinh an trụ nơi pháp niệm Phật, vì họ thấy được vô lượng Phật, nghe được pháp vi diệu.

5.  Pháp môn niệm Phật chiếu sáng rực rỡ khắp các phương, vì chúng sinh niệm Phật thấy cõi Phật trong tất cả thế giới đều rộng lớn như biển cả, bình đẳng, không sai biệt.

6.  Pháp môn niệm Phật là pháp nhập vào chỗ không thể thấy, vì chúng sinh niệm Phật thấy các việc thần thông tự tại của các đức Phật trong tất cả cảnh giới vi tế.

7.  Pháp môn niệm Phật trụ vào các kiếp, vì trong tất cả kiếp, chúng sinh niệm Phật thường thấy các việc làm của Như Lai không ngừng nghỉ.

8.  Pháp môn niệm Phật trụ tất cả thời gian, vì ở trong tất cả thời gian, chúng sinh niệm Phật thường thấy Như Lai thân cận ở chung, không hề xa cách.

9.  Pháp môn niệm Phật trụ ở tất cả cõi, vì tất cả cõi nước, chúng sinh niệm Phật đều thấy thân Phật vượt trội hết thảy.

10. Pháp môn niệm Phật trụ vào tất cả đời,vì tùy theo điều ưa thích của tâm chúng sinh mà họ thấy khắp cả các đức Như Lai trong ba đời.

11. Pháp môn niệm Phật trụ tất cả cảnh giới, vì ở trong tất cả cảnh giới, chúng sinh niệm Phật đều thấy các đức Như Lai lần lượt xuất hiện.

12. Pháp môn niệm Phật trụ vào chỗ tịch diệt, vì trong một niệm, chúng sinh niệm Phật thấy tất cả cõi, tất cả đức Phật thị hiện niết bàn.

13. Pháp môn niệm Phật trụ vào xa lìa, vì ở trong một niệm, chúng sinh niệm Phật thấy tất cả đức Phật từ chỗ trụ của Ngài rồi ra đi.

14. Pháp môn niệm Phật trụ vào chỗ quảng đại, vì tâm của chúng sinh niệm Phật thường quán sát thân Phật nào cũng đều đầy khắp hư không pháp giới.

15. Pháp môn niệm Phật trụ vào vi tế, vì ở đầu một mảy  lông có đức Như Lai xuất hiện, không thể nói hết, chúng sinh niệm Phật đều đến chỗ ấy để phụng sự.

16. Pháp môn niệm Phật trụ vào cảnh giới trang nghiêm, vì ở trong một niệm, chúng sinh niệm Phật thấy tất cả cõi đều có các đức Phật thành tựu tuệ giác vô thượng, hiển hiện thần thông.

17. Pháp môn niệm Phật an trụ nơi Phật sự, vì chúng sinh niệm Phật thấy tất cả Phật xuất hiện ở thế gian, phóng ánh sáng trí tuệ, chuyển pháp luân.

18. Pháp môn niệm Phật trụ vào tâm tự tại, vì tùy theo điều ưa thích của tâm chúng sinh mà tất cả đức Phật thị hiện các thứ thân tướng.

19. Pháp môn niệm Phật trụ vào tự nghiệp, vì biết tùy theo nghiệp chúng sinh đã tích tập mà Phật hiện thân khiến họ được giác ngộ.

20. Pháp môn niệm Phật trụ vào thần thông, vì chúng sinh niệm Phật thấy Phật ngồi trên hoa sen rộng lớn, nở xòe trùm khắp pháp giới.

21. Pháp môn niệm Phật trụ vào hư không, vì chúng sinh niệm Phật quán sát Như Lai có thân như vầng mây để trang nghiêm pháp giới, hư không giới”.

–   Kinh Pháp hoa ghi:

“ Nếu người đi một mình,
Đến nhà của thí chủ,
Khất thực không bạn lữ,
(thì)  Phải hết lòng niệm Phật

Dù người tâm tán loạn
Vào ở trong tháp  miếu,
Chỉ niệm nam mô Phật,
Đều đã thành Phật đạo”.

– Kinh Tịnh Danh ghi:

“Này Bảo Tích ! Tâm ngay thẳng là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh không có tâm dối trá được sinh về nước kia.

– Tâm thâm sâu là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh công đức viên mãn được sinh về nước kia.

– Tâm bồ đề là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh tu pháp đại thừa được sinh về nước kia.

– Bố thí là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh có thể xả bỏ tất cả được sinh về nước kia.

– Giữ giới là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh tu tập mười nghiệp lành được sinh về nước kia.

– Nhẫn nhục là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh ba mươi hai tướng trang nghiêm được sinh về nước kia.

– Tinh tiến là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh siêng tu tất cả công đức được sinh về nước kia.

– Thiền định là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh tâm không loạn động được sinh về nước kia.

– Trí tuệ là tịnh độ của bồ tát.  Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh chánh định được sinh về nước kia.

– Bốn tâm vô lượng là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh thành tựu từ, bi, hỷ, xả được sinh về nước kia.

– Tứ nhiếp pháp là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh thuộc về giải thoát được sinh về nước kia.

– Phương tiện là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh có phương tiện vô ngại đối với tất cả pháp  được sinh về nước kia.

– Ba mươi bảy phẩm bồ đề phần là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh có bốn niệm xứ, có bốn chánh cần, có bốn thần túc, có năm căn, có năm lực, có bảy tuệ giác, có tám đường chánh được sinh về nước kia.

– Tâm hồi hướng là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật thì được cõi nước đầy đủ tất cả công đức.

– Khéo nói để loại bỏ tám tai nạn là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, cõi nước không có ba đường dữ, tám tai nạn.

– Tự giữ giới hạnh, không nói lỗi người là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, cõi nước không có danh từ phạm giới.

– Mười nghiệp lành là tịnh độ của bồ tát. Khi bồ tát thành Phật, chúng sinh không chết yểu lại rất giàu có, đủ phạm hạnh, nói thành thật, nói hòa nhã, quyến thuộc không lìa nhau, khéo giải hòa người thưa kiện, nói hữu ích, không ganh ghét, không giận dữ chánh kiến được sinh về nước kia.

Đại loại như vậy, này Bảo Tích!  Bồ tát tùy theo tâm ngay thẳng mà phát khởi việc làm; tùy phát khởi việc làm mà được thâm tâm; tùy thâm tâm mà ý được điều phục; tùy ý được điều phục mà lời nói, việc làm đi đôi với nhau; tùy lời nói, việc làm đi đôi với nhau mà hồi hướng; tùy hồi hướng mà có phương tiện; tùy phương tiện mà chúng sinh thành tựu; tùy chúng sinh thành tựu mà cõi Phật thanh tịnh; tùy cõi Phật thanh tịnh mà thuyết pháp thanh tịnh; tùy thuyết pháp thanh tịnh mà trí tuệ thanh tịnh; tùy trí tuệ thanh tịnh mà tâm thanh tịnh; tùy tâm thanh tịnh mà tất cả công đức đều thanh tịnh.

Vì vậy, này Bảo Tích! Nếu bồ tát muốn được tịnh độ thì phải thanh tịnh tâm của mình. Tùy theo tâm mình thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh”.

Lại nói: “Bồ tát thành tựu tám pháp, thì ở thế gian này, hạnh không tỳ vết được sinh về tịnh độ.  Tám pháp là những gì?

1.  Làm lợi ích cho chúng sinh mà không có mong cầu báo đáp.

2. Thay thế cho tất cả chúng sinh mà chịu mọi nỗi khổ, công đức đã được đều đem cho chúng sinh.

3.  Tâm bình đẳng đối với chúng sinh, khiêm nhường vô ngại, xem các vị bồ tát cũng như Phật.

4.  Kinh điển chưa nghe thì nghe mà tâm không nghi ngờ.

5.Không chống đối các vị thanh văn.

6.  Không ganh ghét sự được cúng dường của người, không tự cao về lợi lộc của mình, cho nên tự điều phục được tâm.

7.  Thường xét lỗi mình, không rêu rao lỗi người khác.

8. Thường xuyên nhất tâm cầu các công đức”.

– Kinh  Niết bàn ghi: “Bồ tát tu tập sáu niệm, thứ nhất là niệm Phật”.  Lại nói: “Vì chuyên chú, suy xét năng lực của nguyên lý nhân duyên, nên dứt trừ được phiền não”.

– Kinh Đại bi ghi: “Chỉ niệm danh hiệu Phật, nhờ căn lành ấy nên chứng nhập cảnh giới niết bàn không thể cùng tận”.

– Kinh Đại bát nhã có ghi: “Phật bảo Mạn Thù Thất Lợi rằng: Bồ tát có thể tu tập đúng Nhất tướng trang nghiêm tam muội thì mau chóng chứng tuệ giác vô thượng.  Khi tu tập tam muội này, bồ tát nên xa lìa chỗ ồn náo, không suy xét tướng chúng sinh mà chỉ chuyên tâm buộc niệm về một đức Phật, chú tâm về danh tự Như Lai, khéo tưởng dung nghi Như Lai tức là quán khắp tất cả các đức Phật trong ba đời, liền được tất cả trí tuệ của các đức Phật”.

– Kinh Tọa thiền tam muội ghi: “Khi tọa thiền, bồ tát chẳng niệm tất cả mà chỉ niệm một đức Phật, liền được tam muội”.

– Kinh Tăng nhất a hàm ghi: “Nếu so công đức của người đem tứ sự cúng dường cho tất cả chúng sinh trong cõi Diêm Phù Đề với công đức của người niệm danh hiệu Phật trong khoảnh khắc như thời gian lấy sữa bò, dê thì công đức niệm Phật là hơn không thể nghĩ bàn”.

– Kinh Văn Thù bát nhã có ghi: “Phật bảo Văn Thù rằng: Người muốn chứng nhập Nhất hạnh tam muội nên ở chỗ vắng vẻ, buông bỏ những ý tưởng rối loạn, không nắm lấy tướng mạo mà chú tâm về một đức Phật, chuyên niệm danh tự, thân ngồi ngay thẳng hướng về phương kia.  Nếu có thể niệm một đức Phật mà niệm niệm nối tiếp không ngừng, thì trong niệm ấy có thể thấy các đức Phật ở đời quá khứ, hiện tại, vị lai.  Công đức niệm một đức Phật bằng công đức niệm vô lượng đức Phật.  Phật pháp mà A Nan đã nghe vẫn còn có hạn lượng.  Nếu người đắc Nhất hạnh tam muội thì phân biệt pháp môn nào trong các kinh cũng đều hiểu biết cả.  Ngày đêm tuyên thuyết về trí tuệ, biện tài của người này cũng không bao giờ dứt tuyệt.  Trăm phần, ngàn phần, … năng lực đa văn, biện tài của A Nan cũng không bằng một phần của người này”.

– Kinh Đại tập ghi: “Nếu người chuyên niệm đức Phật ở một phương hoặc đi mà niệm, hoặc ngồi mà niệm, xuyên suốt bốn mươi chín ngày thì người ấy thấy Phật hiện thân, liền được vãng sinh”.

– Kinh Pháp hoa tam muội quán ghi: “Chúng sinh trong mười phương chỉ niệm Nam mô Phật đều sẽ được làm Phật.  Chỉ có một pháp đại thừa chứ không có hai cũng không có ba.  Một  môn, một tướng của tất cả pháp đều mệnh danh là tướng không tuyệt đối, không sinh không diệt.  Người tu tập quán như vậy thì ngũ dục tự dứt, ngũ cái tự trừ, ngũ căn lớn thêm, liền được thiền định”.

– Kinh Na Tiên ghi: “Vua hỏi Na Tiên:

– Người đời gieo rắc các điều ác, đến khi lâm chung niệm Phật thì được sinh về cõi Phật.  Tôi không tin điều đó?

Na Tiên đáp rằng:

– Như người đem tảng đá to để trên thuyền, nhờ thuyền, tảng đá không bị chìm.  Người đời tuy làm các điều tội ác nhưng nhờ niệm Phật, nên không rơi vào địa ngục.  Hạt cát tuy nhỏ nhưng không nhờ thuyền thì dĩ nhiên sẽ bị chìm.  Cũng vậy, người gây tạo các điều ác mà không biết niệm Phật, liền rơi vào địa ngục”.

Tụng rằng:

Kim khẩu Như Lai rộng tuyên dương,
Cực lực tán dương cõi Tây Phương,
Ví như lữ khách vào Trường An,
Đông, Tây, Nam, Bắc đều vào được,
Một khi đã vào kinh thành này,
Đế đô, thiên tử không riêng khác.
Phổ Hiền, trưởng tử của đức Phật,
Bồ tát Văn Thù, thầy bảy Phật,
Thọ ký biệt cùng với hồi hướng,
Là quả vị đều nguyện vãng sinh.
Bảy vạn họ Thích được pháp nhẫn,
Đồng tử Thiện Tài chứng quả Phật,
Nguyện tận mặt lễ A Di Đà,
Đó là bồ tát được vãng sinh.
Tổ Long Thọ phá hữu, vô tông,
Ngài Kỳ Bà căn cơ tối thắng,
Hai vị ấy Phật đều thọ ký,
Đó là thiền sư được vãng sinh.
Nghe Phật dạy niềm tin ưa thích,
Siêng tu trì, tụng niệm sớm khuya,
Như đá lớn đặt để trên thuyền,
Ví dụ ấy chỉ hàng hạ liệt,
Được sinh về Lạc Quốc an vui.
A Nan đa văn ở trên đời,
Trong đệ tử Ngài là bậc nhất,
Nhưng không bằng chuyên niệm một Phật,
Liền thông suốt pháp trong các kinh.
Tại sao những kẻ thông nghĩa lý,
Dám khinh chê niệm Phật vãng sinh?
Các pháp môn nói về chánh niệm,
Trong kinh đều ghi chép rõ ràng,
Chỉ một pháp đại thừa viên đốn,
Không có hai mà cũng không ba.
Vậy kính khuyên những bậc ngộ đạt,
 Nhân dịp này bỏ hẳn cuồng thiền,
Nhất tâm chuyên niệm A Di Đà,
Trong hoa sen niệm niệm hóa sinh,
Thường tịch quang cảnh giới là đây,
 Chẳng phải Thật báo và Phương tiện,
Khởi quán như vậy là chánh quán.
Xin đừng vọng sinh tâm phân biệt,
Thiền, Giáo, Luật cùng với tam thừa,
Đồng tuôn về trong biển Tịnh Độ,
Thì  muôn pháp đều vào Tịnh Độ,
 Là phổ môn vô thượng không hai.
 Nghĩa giáo hải vô biên, vô lượng,
 Như chum vàng nhặt lấy một thoi,
 Ăn một miếng biết vị cả chảo,
 Trong đây có đủ Đại tạng rồi.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
tâm
(心) I. Tâm. Phạm: Citta. Hán âm: Chất đa. Cũng gọi Tâm pháp, Tâm sự. Tức là pháp tuy xa lìa đối tượng nhưng vẫn có tác dụng tư duy(duyên lự). 1. Chỉ chung Tâm vương và Tâm sở pháp, đối lại vớisắc(vật chất), thân(nhục thể); tương đương với 4 uẩn: Thụ, tưởng, hành, thức trong 5 uẩn. 2. Chỉ riêng cho Tâm vương, thuộc 1 trong 5 vị, tương đương với Thức uẩn trong 5 uẩn, là chủ thể của tâm thống nhất, tức thức thứ 6, hoặc thức thứ 8. 3. Chỉ cho thức A lại da thứ 8 theo tông Duy thức. Vì thức này bao hàm nghĩa tích tập, là thể căn bản sinh ra các pháp, cho nên cũng gọi là Tập khởi tâm, nghĩa là thức A lại da tích chứa các chủng tử mà sinh ra hiện hành. Sáu thức trước gọi là thức, tức tác dụng liễu biệt, nhận thức; thức Mạt na thứ 7 gọi là ý, tức tác dụng tư duy. Chủ thể của tâm gọi là Tâm vương, những tác dụng của Tâm vương thìgọi là Tâm sở. (xt. Tâm Ý Thức). II. Tâm. Phạm: Hfd hoặc Hfdaya. Hán âm: Hãn lật đà, Can lật đại, Can lật đa, Càn lạt đà đa, Ngật lợi đà da, Hột lí đà da, Hột lí na da, Hột phạt da. Hán dịch: Tâm, Nhục đoàn tâm, Chân thực tâm, Kiên thực tâm. Cứ theo kinh Lăng già quyển 1, (bản 4 quyển), tâm này là chỉ cho tâm tự tính Đệ nhất nghĩa; còn theo Đại nhật kinh sớ quyển 4 thì chỉ cho Nhục đoàn tâm (quả tim). Trong Mật giáo, hành giả quán tưởng Nhục đoàn tâm(Hãn lật đà)là hoa sen 8 cánh(tức tâm liên) để hiển bày thân Phật của chính mình, vì thế, tâm tự tính chân thực của chúng sinh được gọi là Hãn lật đà. (xt. Hãn Lật Đà). III. Tâm. Tùy theo tác dụng mà tâm được chia ra các loại như sau: -Hai tâm: Chân tâm và Vọng tâm (tâm thanh tịnh và tâm phiền não); Tươngứngtâm và Bất tương ứng tâm(tâm tương ứng với phiền não và tâm không tương ứng với phiền não); Định tâm và Tán tâm(tâm tĩnh lặng và tâm loạn động). -Ba tâm: Tham tâm, sân tâm và si tâm. -Bốn tâm: Tham tâm, sân tâm, si tâm và đẳng tâm(3 độc cùng dấy lênmột lượt). -Bốn tâm: Nhục đoàn tâm(trái tim), Duyên lự tâm(tâm suy tư theo đối tượng), Tập khởi tâm(thức A lại da) và Kiên thực tâm(tâm chắc thực). -Năm tâm: Suất nhĩ tâm (tâm khởi lên lúc bắt đầu tiếp xúc với ngoại cảnh), Tầm cầu tâm(tâm muốn biết), Quyết định tâm (tâm quyết đoán), Nhiễm tịnh tâm(tâm sinh ý niệm nhiễm ô, thanh tịnh) và Đẳng lưu tâm(tâm niệm niệm nối nhau nhưng trước sau không khác). Tức khi ý thức tiếp xúc với đối tượng bên ngoài thì lần lượt khởi lên 5 tâm. Ngoài ra, luận Du già sư địa quyển 1 có nêu 8 tâm là: Chủng tử tâm, Nha chủng tâm, Bào chủng tâm, Diệp chủng tâm, Phu hoa tâm, Thành quả tâm, Thụ dụng tâm và Anh đồng tâm. Tám tâm này là hiển bày thứ tự trong quá trình thành thục của tâm thiện, tức bắt đầu từ hạt giống(chủng tử tâm) đến nứt mầm, nảy lá, nở hoa, kết quả... Còn kinh Đại nhật thì phân loạitâm của hành giả Du già làm 60 tâm... [X. kinh Nhập lăng già Q.9; kinh Giải thâm mật Q.1; kinh Hoa nghiêm Q.10 (bản dịch cũ); luận Hiển dương thánh giáo Q.17; luận Thành duy thức Q.2; luận Câu xá Q.4; luận Đại tì bà sa Q.16; Nhiếp đại thừa luận bản Q.thượng; Đại thừa khởi tín luận nghĩa sớ Q.thượng]. (xt. Ngũ Tâm).
biện tài
(辯才) Tài biện luận giỏi. Nói tắt là Biện. Tức là khả năng nói các pháp nghĩa một cách khéo léo trôi chảy. Phật và Bồ tát trong nhiều kiếp, nhờ công đức trang nghiêm khẩu nghiệp mà có đủ các loại Biện tài, như Tứ vô ngại biện, Thất biện, Bát biện, Cửu biện v.v...Tứ vô ngại biện gồm: Pháp vô ngại biện (biện luận về pháp trôi chảy không vấp váp), Nghĩa vô ngại biện (biện luận về nghĩa trôi chảy), Từ vô ngại biện (biện luận về lời trôi chảy), Biện vô ngại biện (biện luận về chính cái tài biện luận cũng trôi chảy). Tứ vô ngại biện còn được gọi là Tứ vô ngại giải, Tứ vô ngại trí, nghĩa là trí hiểu biết được tự tại không vấp váp trong khi biện luận. Và trong Tứ vô ngại biện thì Biện vô ngại biện đặc biệt được xem là Trí tự tại vô ngại, biện thuyết chính xác. Phân tích về Biện vô ngại biện thì có bảy thứ: 1. Tiệp tật biện (Biện luận nhanh chóng), nghĩa là giảng nói hết thẩy các pháp một cách trôi chảy không vấp váp (Vô ngại tự tại). 2. Lợi biện (biện luận lưu loát), nghĩa là thâm nhập thông suốt các pháp. 3. Bất tận biện (biện luận không hết), nghĩa là giảng nói thực tướng của các pháp, lời nói không cùng tận. 4. Bất khả đoạn biện (biện luận không thể dứt), nghĩa là giảng nói thao thao, không một nạn vấn nào cắt ngang được. 5. Tùy ứng biện (biện luận theo yêu cầu), nghĩa là tùy yêu cầu của mọi người mà nói pháp. 6. Nghĩa biện (biện luận về nghĩa), tức là có khả năng nói về các sự ích lợi đạt đến niết bàn. 7. Nhất thiết thế gian tối thượng biện (Biện luận về pháp cao hơn hết trong thế gian), nghĩa là có khả năng nói Đại thừa là pháp tột bậc trong thế gian. Bảy biện kể trên hoặc còn gọi là Tiệp biện, Tấn biện, Ứng biện, Vô sơ mậu biện (biện luận không sơ suất lầm lẫn), Vô đoạn tận biện, Phàm sở diễn thuyết phong nghĩa vị biện (bất cứ diễn nói pháp nào ý vị cũng rất phong phú), Nhất thiết thế gian tối thượng diệu biện. Bát biện: chỉ cho tài biện luận có tám đặc điểm như sau: không lắp bắp, nói rõ ràng, không sợ hãi, không kiêu căng, nói đủ nghĩa, nói đủ ý vị, lời nói không vụng về khúc mắc, tùy theo lúc mà biện luận. Cửu biện: chỉ cho tài biện luận có chín đặc điểm sau đây: vô trước, vô tận, tương tục, bất đoạn, bất khiếp nhược, bất kinh bố, bất cộng, thiên nhân sở trọng (được trời và người kính trọng), vô biên biện tài v.v... [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.8; kinh Thắng thiên vương bát nhã Q.1; luận Đại trí độ Q.55].
Chúng Sanh
Đại khái chia làm chín loại:

1. Trứng-Sanh: Do nơi trứng sanh ra, như các loài chim, gà, vịt…

2. Thai-Sanh: Do thai nghén sanh ra, như loài người, trâu, bò, dê, chó…

3. Ướt- Sanh: Nương chỗ ẩm ướt mà sanh, như các loại côn trùng v.v…

4. Hóa-Sanh: Do biến hóa sanh ra, như lăng quăng hóa làm muỗi, cỏ mục hóa đom đóm…

5. Có-Sắc: Chúng-sanh ở cõi Dục-giới, Sắc-giới có hình sắc thấy được.

6. Không-Sắc: Chúng-sanh ở cõi vô-sắc, không có hình sắc thấy được.

7. Có-Tưởng: Tất cả chúng sanh ở trong ba cõi, chỉ trừ ra chúng-sanh cõi trời vô-tưởng ( cõi nầy ở về từng tứ-thiền trong sắc-giới).

8. Không-Tưởng: Chúng-sanh ở cõi trời vô-tưởng. đây là chúng-sanh ở cõi dục, cho rằng: Các sự khổ-não đều phát sanh từ nơi tư-tưởng, nên tu theo phép định vô-tưởng, được sanh lên cõi trời vô-tưởng, rồi tự cho là đã chứng quả giải-thoát. Nhưng sự thật thì không hẳn như vậy, vì trải qua sau 500 kiếp, khi phước báo đã hết rồi, lại cũng bị luân-hồi sanh-tử nữa.

9. Chẳng Phải Có Tưởng Chẳng Phải Không Tưởng: Chúng-sanh ở từng trời Phi-phi-tưởng trong cõi vô-sắc. Chúng-sanh ở cõi nầy đồng như hư-không, không có thân thể và thế-giới. Chỉ có định mà không có huệ; sống lâu đến 80.000 (tám muôn) kiếp, rồi cũng bị đọa lạc trở lại trong tam-đồ lục-đạo.
sa môn
(沙門) Phạn: Zramaịa. Pàli: Samaịa. Hán âm: Thất la mạn noa, Xá ra ma noa, Sất ma na noa, Sa ca mãn nang. Cũng gọi: Sa môn na, Sa văn na, Tang môn. Hán dịch: Cần lao, Công lao, Cù lao, Cẩn khẩn, Tĩnh chí, Tịnh chí, Tức chỉ, Tức tâm, Tức ác, Cần tức, Tu đạo, Bần đạo, Phạp đạo. Là từ ngữ chuyển âm của phương ngôn Tây vực (tiếng Cưu tư:Samàne, tiếng Vu điền: Samanà), chỉ chung những người xuất gia, cạo bỏ râu tóc, ngăn dứt các điều ác, siêng tu các việc thiện, điều phục thân tâm, cầu mong đạt đến Niết bàn. Từ này dùng chung cho cả nội đạo và ngoại đạo. Cứ theo kinh Du hành trong Trường A Hàm quyển 3 và luận Đại tì bà sa quyển 66 thì Sa môn có thể được chia làm 4 loại như sau: 1. Thắng đạo sa môn (cũng gọi hành đạo thù thắng): Những bậc có khả năng tự giác, như Phật, Độc giác... 2. Thị đạo sa môn (cũng gọi Thuyết đạo sa môn): Chỉ cho người khéo giảng nói đạo nghĩa, có khả năng thường theo Phật chuyển đại pháp luân, như ngài Xá lợi phất... 3. Mệnh đạo sa môn (cũng gọi Hoạt đạo sa môn, Y đạo sinh hoạt): Chỉ cho những người sống theo đạo pháp, học rộng nhớ dai, đầy đủ giới cấm, truyền pháp thân tuệ mệnh cho đời, tuy còn ở địa vị Hữu học, nhưng đồng với địa vịvô học, như ngài A nan... 4. Ô đạo sa môn (cũng gọi Hoại đạo sa môn, Vi đạo tác uế): Chỉ cho những người bề ngoài mang hình tướng Sa môn nhưng tâm thì tà vọng, dối trá, làm những việc ô uế, trộm cắp tài vật của người khác, bôi nhọ đạo pháp, như Tỳ khưu Mạc hát lạc ca...Luận Du già sư địa quyển 29 cũng nêu 4 loại Sa môn, cho rằng Thắng đạo Sa môn tức là Chư thiện thệ, Thuyết đạo Sa môn tức là Thuyết chư chính pháp, Hoạt đạo Sa môn tức là Tu chư thiện pháp và Hoại đạo Sa môn tức là Hành chư tà hạnh. Ngoài ra, hội Phổ Minh Bồ Tát trong kinh Đại Bảo Tích quyển 112 cũng liệt kê 4 loại Sa môn là: Hình phục sa môn, Uy nghi khi cuống sa môn, Tham cầu danh văn sa môn và Thực hành sa môn. Sa môn có 4 quả chứng đắc khác nhau, gọi là Tứ sa môn quả, tức là: Quả Tu đà hoàn (đoạn tam kết: Hữu thân kiến, Giới cấm thủ, Nghi), quả Tư đà hàm (đoạn tam kết tham khuể si bớt dần), quả A na hàm (dứt hết 5 phiền não ở cõi Dục là: Dục tham, sân khuể, hữu thân kiến,giới cấm thủ và nghi), quả A la hán(vĩnh viễn không còn tham khuể si và tất cả phiền não). [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh A tu la trong Trung a hàm Q.8; kinh Đại thừa đại tập địa tạng thập luân Q.5; kinh Phật nê hoàn Q.thượng; kinh Phật bản hạnh tập Q.39; kinh Đại bát niết bàn Q.34 (bản Bắc); luật Thập tụng Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.6; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Tứ Chủng Tăng, A Na Hàm, Tư Đà Hàm, Tu Đà Hoàn).
Tứ nhiếp pháp
四攝法; S: catvāri-saṃgrahavastūni;
Bốn cách tiếp dẫn chúng sinh của Ðại thừa: 1. Bố thí (布施; s: dāna); 2. Ái ngữ (愛語; s: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để chinh phục người; 3. Lợi hạnh (利行; s: arthacaryā), hành động vị tha; 4. Ðồng sự (同事; s: samānārthatā), cùng chung làm với những người thiện cũng như ác để hướng dẫn họ đến bờ giác.
niệm phật
(念佛) Phạm: Buddhànusmfti. Pàli:Buddhànussati. Trong tâm nhớ nghĩ về Pháp thân của Phật(lí niệm Phật), quán tưởng thân tướng cụ thể của Phật, hoặc quán tưởng công đức của Phật, cho đến miệng xưng niệm danh hiệu của Phật... đều gọi là niệm Phật, là 1 trong những phương pháp tu hành cơ bản của Phật giáo. Trong đó, niệm Phật theo lí pháp, gọi là Pháp thân niệm Phật; trong tâm nhờ nghĩ về công đức và thân tướng của Phật, gọi là Quán tưởng niệm Phật; còn miệng xưng niệm danh hiệu Phật thì gọi là Xưng danh niệm Phật. Tiểu thừa chỉ niệm Phật Thích ca mâu ni, Đại thừa thì chủ trương trong 10 phương 3 đời có vô số Phật, cho nên danh hiệu Phật được niệm cũng rất nhiều. Nhưng thông thường thì niệm Phật A súc, Phật Dược sư,Phật Di lặc, Đại nhật Như lai, Phật A di đà v.v...Trong đó, đối tượng chính là Phật A di đà, cho nên niệm Phật A di đà được xem như niệm tất cả chư Phật. Trong các kinh A hàm, niệm Phật tức là bày tỏ lòng qui kính, lễ bái, tán thán, nhớ nghĩ đối với đức Phật Thích ca mâu ni. Nhờ công đức niệm Phật mà diệt trừ tham sân si, được sinh lên cõi trời, được chứng nhập Niết bàn. Trong các kinh Đại thừa như: Bát chu tam muội, Đại A di đà quyển hạ, phẩm Hiền thủ trong kinh Hoa nghiêm quyển 7 (bản dịch cũ)... đều có lập pháp môn Niệm Phật Tam Muội, tức buộc tâm vào danh hiệu của 1 đức Phật, quán tưởng 32 tướng hảo của Phật, cứ như thế niệm niệm nối nhau không dứt, thì có thể ở trong định thấy được Phật, cũng được sinh về cõi Phật. Tại Trung quốc, đối với việc niệm Phật, các sư nêu ra nhiều thuyết: 1. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 7, ngài Hoài cảm nêu ra 2 loại Niệm Phật tam muội là Hữu tướng niệm Phật tam muội và Vô tướng niệm Phật Tam muội, cho rằng: Nếu muốn được Vô tướng niệm Phật tam muội thì phải niệm Pháp thân Phật, còn muốn được Hữu tướng niệm Phật tam muội thì niệm Báo thân Phật và Hóa thân Phật. 2. Trong Ngũ phương tiện niệm Phật môn, ngài Trí khải nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Xưng danh vãng sinh niệm Phật tam muội môn: Lúc hành giả niệm Phật thì phải khởi tâm muốn sinh về Tịnh độ. b) Quán tướng diệt tội niệm Phật tam muội môn: Nhất tâm quán tưởng tướng hảo của Phật phóng ra ánh sáng, ánh sáng ấy chiếu soi tất cả tội chướng, khiến đều tiêu diệt. c) Chư cảnh duy tâm niệm Phật tam muội môn: Đức Phật mà hành giả quán tưởng là từ nơi tự tâm hành giả mà ra, chứ không có cảnh giới nào khác. d) Tâm cảnh câu li niệm Phật tam muội môn: Chính cái tâm quán tưởng của hành giả cũng là không, chẳng có tự tướng. e) Tính khởi viên thông niệm Phật tam muội môn: Hành giả tiến vào thiền định sâu xa, lặng bặt, buông bỏ tất cả tâm thức, ý thức, được chư Phật 10 phương gia bị, hộ niệm, nhờ đó, cửa trí tuệ mở ra, tự tại vô ngại, thành tựu công đức viên mãn. 3. Trong Hoa nghiêm kinh sớ quyển 56, ngài Trừng quán cũng nêu ra 5 loại niệm Phật pháp môn: a) Duyên cảnh niệm Phật môn: Duyên theo cảnh mà niệm Phật. b) Nhiếp cảnh duy tâm niệm Phật môn: Thu nhiếp cảnh vào tâm... c) Tâm cảnh câu mẫn niệm Phật môn: Tâm và cảnh đều bặt... d) Tâm cảnh vô ngại niệm Phật môn: Tâm và cảnh không ngăn ngại nhau. e) Trùng trùng vô tận niệm Phật môn: Lớp này lớp khác, lớp lớp vô tận. 4. Trong Hoa nghiêm kinh hành nguyện phẩm biệt hành sớ sao quyển 4, ngài Tông mật nêu ra 4 loại niệm Phật: a) Xưng danh niệm: Chuyên tâm xưng niệm danh hiệu của Phật. b) Quán tượng niệm: Quán niệm tượng Phật. c) Quán tưởng niệm: Quán tưởng thân tướng tốt đẹp của Phật. d) Thực tướng niệm: Quán xét tướng chân thực của mình và tất cả các pháp. 5. Trong luận Niệm Phật tam muội bảo vương, ngài Phi tích nêu ra 3 pháp niệm Phật: a) Niệm hiện tại Phật: Chuyên chú vào 1 cảnh mà viên thông 3 đời. b) Niệm quá khứ Phật: Biết Phật và chúng sinh mê ngộ khác nhau, nhưng nhân quả của Phật và chúng sinh thì giống nhau. c) Niệm vị lai Phật: Nghĩ tất cả chúng sinh đều bình đẳng, đều là Phật vị lai. Ngoài ra, Đại Phật đính thủ lăng nghiêm kinh Viên thông sớ quyển 5 của ngài Truyền đăng và Ngẫu ích tông luận quyển 7 của ngài Trí húc, nêu ra 3 loại Niệm Phật: a) Niệm tha Phật: Niệm cảnh công đức trang nghiêm của Phật A di đà, hoặc niệm tướng hảo của Ngài, hoặc niệm pháp môn, thực tướng của Ngài. Đây là pháp môn tu hành của ngài Tuệ viễn và các sư ở Lô sơn. b) Niệm tự Phật: Quán xét cái tâm 1 niệm hiện tiền không có thể tính, lìa các lỗi lầm, đầy đủ trăm giới và mọi tính tướng, cùng với chư Phật 3 đời bình đẳng không 2, nếu quán xét rõ ràng đến được nhất tâm bất loạn, thì Tam muội liền thành, hoát nhiên phá trừ vô minh, vào cảnh minh tâm kiến tính. Đây là pháp môn tu hành của các sư thuộc Thiền tông và tông Thiên thai. c) Tự tha câu niệm: Tâm quán xét cùng với Phật và chúng sinh cả 3 không sai khác; biết rõ chúng sinh là chúng sinh trong tâm của chư Phật, mà chư Phật tức là chư Phật trong tâm của chúng sinh, cả 2 cảm ứng đạo giao, tự tha không cách nhau. Đây là pháp môn tu trì của các ngài Vĩnh minh, Diên thọ và Sở thạch Phạm kì. Vãng sinh yếu tập quyển hạ, phần cuối của ngài Nguyên tín, người Nhật, thì chia pháp môn niệm Phật làm 3 loại: a) Tầm thường niệm Phật: Niệm Phật hằng ngày. b) Biệt thời niệm Phật: Niệm Phật có thời gian và nơi chốn nhất định. c) Lâm chung niệm Phật: Niệm Phật lúc hấp hối mong được Phật đến đón. Ngoài ra, nhiều người kết đoàn với nhau cùng tu pháp môn niệm Phật, gọi là Niệm Phật hội, Niệm Phật giảng, Kết xã niệm Phật. Ngôi nhà dùng làm nơi tu hành niệm Phật, gọi là Niệm Phật đường. Niệm Phật liên tục gọi là Bất đoạn niệm Phật, Thường niệm Phật; tĩnh tâm niệm Phật gọi là Định tâm niệm Phật; thời khóa niệm Phật hằng ngày gọi là Nhật khóa niệm Phật... Còn có các pháp môn niệm Phật như: Nhiếp tâm niệm Phật, Sổ tức niệm Phật, Tham cứu niệm Phật, Khán thoại niệm Phật, Thích ca niệm Phật, Quan âm niệm Phật, Dược sư niệm Phật, Di lặc niệm Phật v.v... Tóm lại, ý nghĩa đích thực của việc niệm Phật là từ nơi miệng niệm Phật tiến vào niệm Phật trong tâm, niệm niệm không quên, cũng tức niệm này là Phật, thì niệm niệm thành Phật. [X. kinh Tạp a hàm Q.33; kinh Trì trai trong Trung a hàm Q.55; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; kinh Na tiên tỉ khưu; phẩm Niệm Phật trong kinh Phật tạng Q.thượng; luận Đại trí độ Q.21; luận Nhiếp đại thừa Q.hạ; phẩm Dị hành trong luận Thập trụ tì bà sa Q.5; phẩm Niệm Phật Q.9; luận Phân biệt công đức Q.2; Quán niệm pháp môn; Tư duy lược yếu pháp]. (xt. Ngũ Hội Niệm Phật, Thiên Thai Tông, Tịnh Độ Tông, Thiền Tông).
Bốn tâm vô lượng
(Tứ vô lượng tâm, 四無量心Phạn ngữ: catvri-apramṇṇi): cũng gọi là Bốn Phạm trú (Tứ Phạm trú - Phạn ngữ, Pli: catur-brahmavihra), gồm có: 1. Từ vô lượng (Phạn ngữ: maitrỵ); 2. Bi vô lượng (Phạn ngữ, Pli: karuṇ); 3. Hỉ vô lượng (Phạn ngữ, Pli: mudit); 4. Xả vô lượng (Phạn ngữ: upekṣ). Đây là bốn tâm nguyện rộng lớn không có giới hạn (vô lượng) của Phật và các vị Bồ Tát. Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn, lại làm lợi ích cho vô lượng vô số chúng sinh, nên gọi là bốn tâm vô lượng.
chúng sinh
(衆生) Phạm: Bahu-jana, Jantu, Jagat hoặc Sattva. Dịch ý là chúng sinh, dịch âm là Bộc hô, Thiện na, Thiền đầu, Xã già, Tát đóa. Còn dịch là hữu tình, hàm thức (tức loài có tâm thức), hàm sinh, hàm tình, hàm linh, quần sinh, quần manh, quần loại. Danh từ Chúng sinh thông thưòng chỉ loài hữu tình trong cõi mê muội. Kinh Tạp a hàm quyển 6 (Đại 2, 40 thượng), nói: Phật bảo La đà, đối với sắc đắm đuối triền miên, gọi rằng chúng sinh. Kinh Trường a hàm quyển 22 phẩm Thế bản duyên nói, không nam nữ tôn ti trên dưới, cũng không có tên khác, cũng chung sống với nhau ở đời, cho nên gọi là chúng sinh. Câu xá luận quang kí quyển 1 giải thích là chịu nhiều sống chết, cho nên gọi là Chúng sinh. Luận Đại trí độ quyển 31, kinh Đại thừa đồng tính quyển thượng bảo, chúng sinh là do các duyên năm uẩn giả hợp mà sinh, cho nên gọi là Chúng sinh. Lại kinh Bất tăng bất giảm thì nói, pháp thân bị nhiều phiền não trói buộc, đi lại trong đường sống chết, cho nên gọi là chúng sinh. Thông thường thì cho những người bị vô minh phiền não che lấp mà trôi lăn trong vòng sống chết là chúng sinh. Nếu nói theo nghĩa rộng thì Phật và Bồ tát cũng bao nhiếp trong chúng sinh. Ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên (Đại 46, 52 hạ), nói: Mang năm ấm, gọi chung là chúng sinh. Chúng sinh có khác nhau: mang ấm ba đường là chúng sinh tội khổ, mang ấm trời người là chúng sinh vui sướng, mang ấm vô lậu là chúng sinh thánh thiện, mang ấm từ bi là chúng sinh đại sĩ, mang ấm thường trụ là chúng sinh cực tôn qúi. [X. kinh Tạp a hàm Q.45, Pháp hoa văn cú Q.4 - Đại thừa nghĩa chương Q.6 - Vãng sinh luận chú Q.thượng].
Thập Ác
(s: daśākuśala-karma-pathāni, 十惡): còn gọi là Thập Ác Nghiệp Đạo (十惡業道), Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo (十不善業道), Thập Bất Thiện Căn Bổn Nghiệp Đạo (十不善根本業道), Thập Hắc Nghiệp Đạo (十黑業道); là 10 hành vi ác, không tốt của ba nghiệp thân, miệng và ý; gồm:
(1) Sát sanh;
(2) Trộm cắp;
(3) Tà dâm;
(4) Nói dối;
(5) Nói hai lưỡi, tức nói lời ly gián;
(6) Nói thô ác, tức mắng nhiếc thậm tệ, nói lời ác độc;
(7) Nói lời thêu dệt;
(8) Tham dục;
(9) Sân si;
(10) Tà kiến.
Tu tập Thập Thiện Nghiệp (s: daśakuśala-karmāni, 十善業) để chuyển hóa 10 nghiệp ác kể trên. Theo Tân Hoa Nghiêm Kinh (新華嚴經) quyển 35, Phẩm Thập Địa (十地品), có nêu lên quả báo của 10 nghiệp ác như sau:
(1) Quả báo sát sanh, ở trong loài người thì bị đoản mạng, nhiều bệnh.
(2) Quả báo trộm cắp, ở trong loài người thường bị bần cùng, tài của không có.
(3) Quả báo tà dâm, ở trong loài người thường bị vợ không trinh tiết, không có quyến thuộc tùy ý.
(4) Quả báo nói dối, ở trong loài người thường bị mọi người phỉ báng, khinh khi.
(5) Quả báo nói lời hai lưỡi, ở trong loài người thường bị quyến thuộc xa lìa, thân tộc tệ ác.
(6) Quả báo nói lời thô ác, ở trong loài người thường nghe tiếng ác, nói lên thường bị tranh cãi, kiện tụng.
(7) Quả báo nói lời thêu dệt, ở trong loài người thường nói ra không ai tin, nói không rõ ràng.
(8) Quả báo tham dục, ở trong loài người thường tâm không biết đủ, tham nhiều không bỏ.
(9) Quả báo sân si, ở trong loài người thường bị người khác gây tổn hại.
(10) Quả báo tà kiến, ở trong loài người thường sanh vào nhà tà kiến, tâm khúc mắc, không ngay thẳng.
hữu dư
(有餘) I. Hữu Dư. Phạm: Sopadhi-zewa. Đối lại: Vô dư. Chưa thật rốt ráo diệt hết mà vẫn còn sót lại một phần. Luận Đại trí độ quyển 23 (Đại 25, 229 hạ), nói: Lại có 2 loại quán tướng vô thường: Một là Hữu dư, hai là Vô dư. Như đức Phật dạy tất cả người, vật diệt hết, chỉ còn tên gọi, đó là Hữu dư. Nếu người, vật diệt hết, tên gọi cũng không còn thì đó là Vô dư . Ngoài ra, khi chứng được Niết bàn mà thân này vẫn còn, thì Niết bàn chứng được ấy gọi là Hữu dư y Niết bàn . Quốc độ mà người vẫn còn vô minh phiền não được sinh đến, gọi là Hữu dư độ . Người đề xướng ra học thuyết chưa rốt ráo, thì gọi là Hữu dư sư . [X. kinh Đại pháp cổ Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.32, Q.36; luận Câu xá Q.1]. II. Hữu Dư. Phạm:Zewavat. Tức từ sự thực hiện tại suy ra mà biết sự thực ở quá khứ. Một trong các phương pháp suy luận (tỉ lượng). Luận Kim thất thập quyển thượng (Đại 54, 1246 thượng), nói: Tỉ lượng có 3: Hữu tiền, Hữu dư và Bình đẳng . (xt. Tỉ Lượng).
a nan
(阿難) Pāli, Phạm: Ànanda. Là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Nói đủ là A nan đà. Dịch ý là hoan hỉ, khánh hỉ, vô nhiễm. Em họ của Phật, sau khi xuất gia, thường ở bên cạnh Phật hơn hai mươi năm, kí ức rất tốt, đối với lời Phật nói pháp, có thể ghi nhớ rõ ràng, cho nên được gọi à Đa văn đệ nhất. Ngài A nan dung mạo đẹp đẽ, mặt như trăng tròn, mắt như hoa sen xanh, thân hình sáng rỡ như gương, vì thế, tuy đã xuất gia, nhưng thường bị phụ nữ cám dỗ, tuy nhiên, nhờ chí khí kiên cố, cuối cùng, A nan đã bảo toàn được Phạm hạnh. Khi đức Phật còn sinh tiền, ngài A nan vẫn chưa khai ngộ, khi Phật nhập diệt, buồn rầu mà khóc; sau nhờ tôn giả Ma ha ca diếp dạy bảo, cố sức dụng công mới khai ngộ. Trong đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên, ngài A nan được chọn là người thuật lại kinh, đối với sự nghiệp truyền trì kinh pháp, tôn giả A nan đã có công lao rất lớn. Lúc đầu, di mẫu của Phật là bà Ma ha ba xà ba đề muốn xuất gia, A nan liền sắp đặt lo liệu, cuối cùng được đức Phật cho phép, đối với sự thành lập giáo đoàn tỉ khưu ni, ngài A nan cũng có công tích rất lớn. Lại cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2 chép, thì đức Phật truyền pháp cho tôn giả Ma ha ca diếp, Ma ha ca diếp truyền pháp cho ngài A nan, như vậy, A nan là tổ thứ hai trong Phó pháp tạng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng từ hai mươi đến hai mươi lăm năm, ngài A nan thị tịch tại miền trung du sông Hằng, trước khi nhập tịch, ngài đem pháp phó chúc cho ngài Thương na hòa tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Trung a hàm Q.33 kinh Thị giả; kinh Tăng nhất a hàm Q.4 phẩm Đệ tử; kinh A nan đồng học; kinh Phật bản hạnh tập Q.11; luật Ngũ phần Q.3, Q.29; luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.6, Q.7].
thập hồi hướng
(十回向) Cũng gọi Thập hồi hướng tâm. Gọi tắt: Thập hướng. Chỉ cho 10 giai vị, từ giai vị thứ 31 đến 40 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng: Tức giai vị thực hành Lục độ, Tứ nhiếp, cứu hộ tất cả chúng sinh, kẻ oán, người thân đều bình đẳng. 2. Bất hoại hồi hướng: Giai vị đã có được niềm tin bất hoại đối với Tam bảo,hồi hướng căn lành này, khiến chúng sinh được lợi ích tốt đẹp. 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Giống như sự hồi hướng của chư Phật 3 đời, tu hành không đắm trước sinh tử, không lìa bỏ bồ đề. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng đến khắp tất cả các nơi từ Tam bảo cho đến chúng sinh để làm lợi ích cúng dường. 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: Tùy hỉ tất cả thiện căn vô tận, hồi hướng làm Phật sự để được vô tận công đức thiện căn.6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Hồi hướng các thiện căn đã tu, được Phật che chở, thành tựu tất cả căn lành bền vững. 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Tức nuôi lớn tất cả gốc lành để hồi hướng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 8. Như tướng hồi hướng: Thuận theo tướng chân như mà hồi hướng các thiện căn đã thành tựu. 9. Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng: Tức đối với tất cả pháp không để bị vướng mắc, trói buộc, được tâm giải thoát, đem thiện pháp hồi hướng, thực hànhhạnhPhổ hiền, đầy đủ mọi đức. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng: Tức tu tập tất cả thiện căn vô tận, đem hồi hướng các thiện căn này để nguyện cầu vô lượng công đức trong pháp giới sai biệt.Hồi hướng hàm ý là dùng tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Thập hồi hướng thuộc về Giải hành trụ trong 13 Trụ, Tư lương vị trong 5 vị, 10 giai vị sau trong Tam hiền và Đạo chủng tính trong 6 Chủng tính. [X. kinh Hoa nghiêm Q.15-22 (bản dịch cũ); phẩm Thánh hiền danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng].
Sơ địa
địa vị đầu tiên trong Thập địa, cũng gọi là Hoan hỷ địa (Pramuditbhmi). Đạt đến địa vị này, Bồ Tát được hoan hỷ trên đường tu học, phát tâm cứu độ cho tất cả chúng sanh thoát khỏi luân hồi, không còn nghĩ riêng đến bản thân mình nữa. Bồ Tát vì thế thực hiện hạnh bố thí không cầu phước đức, chứng được tính vô ngã của tất cả các pháp. Xem Mười địa vị.
Lục niệm
Sáu sự tưởng nhớ, suy nghĩ gồm: niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí (xả), niệm thiên (suy nghĩ về chư thiên).
pháp thí
(法施) Phạm: Dharma-dezanà. Pàli: Dhamma-desanà. Cũng gọi Thuyết giáo, Thuyết pháp, Thuyết kinh, Đàm nghĩa, Khuyến hóa. Đồng nghĩa: Xướng đạo. Chỉ cho việc giảng nói giáo pháp, làm lợi ích chúng sinh, 1 trong 2 thí(Tài thí, Pháp thí), 1 trong 3 thí(Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí). [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.24; kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.1]. (xt. Bố Thí, Thuyết Pháp).