Kẻ thích ngửi mùi hôi tanh thì không nhớ nghĩ đến hương thơm chiên đàn.  Nhưng thật ra không phải như vậy, chỉ vì chẳng có tâm niệm chán bỏ mùi hôi tanh mà thôi.  Bỗng nhiên, anh ta được dẫn vào nhà, xông đốt chiên đàn, trầm hương, chưa đầy một ngày thì đã buồn chán mùi hôi thối kia rồi.  Sự thối tha nhơ bẩn của sinh tử mà chúng ta tham đắm còn hơn gấp bội sự hôi thối mà con ruồi, con nhặng ưa thích.  Các đức Phật như nhà kinh doanh hương liệu lớn, vô cùng xót xa khi thấy các trời, người đắm chìm trong biển nhơ.  Cho nên , đạo sư A Di Đà mở rộng cõi Hương Nghiêm, từ phụ Thích Ca chỉ xác thực cửa Tịnh Độ.  Hết thảy người trong quả đất đều là đứa bé nghèo, nên một danh hiệu Phật chính là của cải, vốn liếng.  Muốn kiểm nghiệm lời nói thành thật ấy thì chớ lìa mười niệm.  Gặp chỗ hôi nhơ bịt mũi lâu ngày thì tự nhiên sinh tâm nhàm  chán.  Bây giờ đứng về phương diện dựng lập giáo nghĩa của Tây Phương, tôi trình bày đại khái mười nghĩa:

– Vì một việc lớn.
– Vì nhân đời trước thâm sâu.
– Vì hiển bày quả đức.
– Vì dựa vào tánh của nhân.
– Vì thuận theo chúng sinh.
– Vì tướng nhơ bẩn rỗng không.
– Vì phương tiện thù thắng.
– Vì dẫn đường cho nhị thừa.
– Vì sức chịu đựng bền chắc.
– Vì chỉ bày pháp chân.

1/ Một việc lớn

Chúng sinh ở cõi Ta Bà đầy dẫy năm yếu tố ô nhiễm, cũng như  người bị giam cầm ở chốn  ngục tù.  Vì tội có nặng, nhẹ nên cam chịu những hình phạt khác nhau, hoặc phạm nhằm lỗi nhỏ, hoặc đâm đầu vào tội lớn.  Tội lỗi tuy bất đồng nhưng nỗi khổ bị trói buộc bằng dây thừng, bị đánh đập bằng roi gậy, chưa có người nào tránh khỏi.  Tại sao vậy?  Vì người bước vào ngục đều là tội nhân.  Ở cõi trời, cõi người, chúng sinh đều là thân nghiệp báo phần đoạn.  Một khi vào ngục, tội nhân không có lúc nào chẳng mong cầu ra khỏi.  Nỗi khổ trong ngục ấy thật là khó chịu.  Ở ngoài bức tường thống khổ kia, từ phụ A Di Đà có thành lập thế giới đại an lạc.  Hiện nay, chúng sinh lấy phiền não làm nhà, lấy sinh tử làm hoa viên, cũng như  người trưởng tù ham mê áo mũ, mặc tình để cho vàng ngọc gông cùm.  Họ đâu biết rằng núi đại Thiết Vi là bức tường gai góc, ngoài pháp trường ba cõi lại có ruộng đất quê nhà.  Các đức Phật thương xót họ đến nỗi đau lòng xót dạ; vì thế phân biệt nhơ sạch, chỉ bày đường về Lạc Bang cho người xa quê đã lâu lang thang không biết về đâu.  Các đức Phật lại xây dựng nhà cửa to lớn để cho họ an trú.  Phật Thích Ca qua lại nơi cửa ngục để sửa sang con đường thoát khổ; Phật A Di Đà ở ngoài cửa ngục để xây cất nhà cửa.  Cái ân như thế, thân nào có thể đền trả?  Ôi!  Phật Thích Ca đã soi sáng ngọn đuốc trong đêm dài ba cõi; Phật A Di Đà đã lật ngửa cái bồn sinh tử để tiếp dẫn chúng sinh.  Các đức Phật không nỡ bỏ rơi chúng sinh.  Tại sao chúng sinh mãi lưu luyến nỗi khổ triền miên?  Kinh ghi: “Như Lai xuất hiện ở đời vì một việc lớn”.  Việc lớn tức là việc này.  Tất cả chúng sinh trở lại luyến tiếc việc nhỏ như mảy lông, lấy nhỏ đổi lớn, cam tâm chịu chết vì đói lạnh.  Thật đáng thương thay !

2/  Nhân đời trước thâm sâu

a/  Chánh nhân
Chánh nhân tức là thể thanh tịnh tự nhiên của các hữu tình và của các đức Phật trong ba đời, như muôn hình vạn trạng đều dựa vào hư không, như núi sông dựa vào đất đai, như lúa mạ dựa vào hạt giống, như hoa quả dựa vào hạt nhân.  Nếu không có cái nhân này thì quả Phật không bao giờ thành tựu.  Tại sao vậy?  Vì tất cả bi, trí đều dựa vào nhân này để thành lập.  Hoa nghiêm hiệp luận của trưởng giả Lý Thông Huyền có nói: “Tạng thân của Như Lai tức là pháp thân, biển trí của các đức Phật đều ở trong đó, nên gọi là tạng.  Nếu không thấy pháp thân thì tất cả phước, trí, đại từ, đại bi đều không đạt đến cứu cánh, rốt cuộc thuộc về sinh diệt”.  Pháp thân chính là chánh nhân.

b/  Chánh nguyện
Bổn kinh (kinh Đại bổn A Di Đà) ghi:”Ở chỗ Thế Tự Tại Vương Như Lai, tỳ kheo Pháp Tạng phát bốn mươi tám lời thệ nguyện lớn.  Nếu  một nguyện nào không thành thì Ngài không ở địa vị chánh giác”.  Đây là dựa vào vô lượng bi, trí của tự tánh phát ra nguyện lực không thể nghĩ bàn như vậy, chứ không phải thấy có chúng sinh ở ngoài tâm mà phát nguyện muốn cứu độ, vì chúng sinh không phải ở ngoài tâm.

c/  Chánh hạnh
Bổn kinh ghi: “Phát nguyện ấy rồi, an trú các công đức như thế, tu tập hạnh của bồ tát như thế trải qua vô lượng vô số ức trăm triệu trăm ngàn kiếp”.  Kinh Nhất hướng xuất sinh bồ tát ghi: “Thuở xưa, Phật A Di Đà là thái tử nghe pháp môn vi diệu này thì tinh tiến phụng trì, trong bảy ngàn năm lưng không bén chiếu, không nghe việc khác, không tham luyến tiền của, vật quí, thường ở một mình, ý không lay động, lại giáo hóa tám ngàn ức vạn trăm triệu người được bất thoái chuyển”.  Đây là sự hành trì của tự tánh , sự tinh tiến của tự tánh, chứ không phải làm công đức hữu vi.  Tuy trải qua ức kiếp nhưng không lìa một niệm, vì pháp môn vi diệu lìa tất cả hạnh, tất cả kiếp.

Đó là chánh nhân, chánh nguyện, chánh hạnh, như ba điểm của chữ y trong chữ Phạn, hễ thiếu một điểm thì không bao giờ thành chữ y.  Việc ấy không phải làm mà được, cũng không phải không làm mà được.  Tiên đức có câu: “Rễ sâu thì quả tốt, nguồn xa thì chảy dài”.  Cái nhân đời trước đã thâm sâu thì giáo pháp phát triển cũng rực rỡ huy hoàng.  Đúng thay lời này!

3/ Hiển bày quả đức

Phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện trong kinh Hoa nghiêm ghi: “Các đức Như Lai khởi tâm đại bi vì chúng sinh, do tâm đại bi nên phát tâm bồ đề, do tâm bồ đề nên thành tựu tuệ giác vô thượng, như bãi sa mạc rộng mênh mông có cây to nếu rễ cây hút được nước thì cành , lá, hoa, quả đều sum suê, xanh tốt.  Cây bồ đề to lớn được vun trồng trên mảnh đất sinh tử vô cùng rộng lớn cũng theo đây suy ra mà biết.  Tất cả chúng sinh là rễ cây; các đức Phật, các vị bồ tát là hoa, quả.  Sử dụng nước đại bi tưới tẩm cho chúng sinh thì hoa, quả, trí tuệ của các đức Phật, các vị bồ tát có thể thành tựu”.  Vì thế, nên biết, tất cả các đức Như Lai được quả Phật đều dựa vào chúng sinh.  Nếu không có chúng sinh thì quả Phật không bao giờ thành tựu như vua nhà Hán:  Vì cứu muôn dân nên xông pha vào trăm trận chiến; vì xông pha vào trăm trận chiến nên vua bước lên ngôi vị đại bảo; vì bước lên ngôi vị đại bảo nên trăm họ được an cư lạc nghiệp.  Nếu không có trăm họ thì nhà vua không có sự nghiệp vĩ đại. Xét cho cùng, khi thực hiện một công đức, một sự việc, một lợi ích, một danh tiếng, nếu không có chúng sinh thì tất cả việc ấy không bao giờ thành tựu.  Cho nên, ta không có chúng sinh thì không thành ta.  Chúng sinh là y báo, ta là  chánh báo; chúng sinh là chánh báo, ta là y báo; nhân ngã bình đẳng, y chánh vô ngại vì vốn tự nhiên như vậy.  Tự nhiên tức là quả đức tự nhiên.  Nếu hướng ở bên ngoài để thành lập thì không thành tựu nghĩa quả đức.

4/ Dựa vào tánh của nhân

Tất cả chúng sinh đều có tự tánh thanh tịnh như vậy, cũng như vàng ròng chế biến ra trâm, vòng xuyến, nịch khí (ống nhổ) v.v… Nịch khí là đồ chứa đủ thứ  nhơ uế.  Nếu đem nung vàng ấy chảy ra để làm đồ nữ trang thì nó cũng là vàng thôi.  Phật, chúng sinh cũng đồng một tự tánh thanh tịnh như đồ vật kia, bên ngoài tuy thấy có sai biệt nhưng tính chất chỉ một mà thôi.  Kẻ phàm phu tầm thường niệm Phật mười niệm liền được vãng sinh, vì sẵn có tự tánh thanh tịnh.  Phật A Di Đà muốn tiếp nhận chúng sinh thì liền tiếp nhận được, vì sẵn có tự tánh thanh tịnh, cũng như ánh sáng trong gương chẳng phải do lau mà được.  Sinh về Tịnh Độ thành tựu không phải do hạnh nguyện với niệm lực.  Tại sao vậy ?  Vì niệm lực hạnh nguyện như cái lò, cái búa… là những dụng cụ chỉ có thể chế biến vàng, chứ không thể nào sinh ra vàng được.

5/ Thuận theo chúng sinh

Trìu mến trẻ thơ nên cho trái cây, bánh ngọt.  Yêu thương phụ nữ nên cho lụa là gấm vóc.  Đồ vật mà tất cả chúng sinh ưa thích nhất chỉ là ngọc quý, y phục, thức ăn.  Vì vậy, cõi Cực Lạc tự nhiên có các loại như: bảy chất liệu quý báu với lầu các nguy nga tráng lệ, y phục, đồ ăn, thức uống…như những đứa bé vui đùa rong chơi trong nhà lửa, nếu không có xe dê, xe nai… thì chúng nó không bao giờ chịu ra.  Khi đã ra khỏi nhà lửa, người cha chỉ cho chúng nó chiếc xe lớn mà thôi.   Hiện nay, Thích Ca Như Lai thuận theo tri kiến thường tình của chúng sinh nên nói tịnh độ, thất bảo của Phật A Di Đà.  Vì chúng sinh thích cảnh như vậy, nên Ngài nói như vậy.  Khi đã được vãng sinh thì tự thấy tướng gì cũng đều trong sạch, mầu nhiệm, vi tế, không thể nào tỷ dụ cho được.  Khi ấy, họ mới biết lưu ly, xa cừ, mã não như ngói đá, cũng như người quyền quý  nói với đứa bé nhà quê về sự mỹ lệ của cung điện nhà vua bằng cách so sánh với những thứ vô cùng quý báu của người ấy thì đứa bé kia cũng không làm sao hiểu được, như nói với người đui mù về màu sắc, cũng không cách nào để so sánh cho họ hiểu được.

6/  Tướng nhơ bẩn rỗng không

Trí luận ghi: “Ví như người kia có một đứa con vui đùa trong chỗ nhơ bẩn, nó tích tụ đất làm lúa  mạ, lấy cỏ cây làm chim muông rồi trở lại sinh tâm yêu mến.  Bất ngờ, có người khác đến tước đoạt đồ chơi của nó, nó giận hờn, òa khóc nức nở.  Khi suy xét, người cha biết đứa con này chỉ vì yêu mến đồ chơi.  Việc ấy cũng dễ rời bỏ, vì khi lớn khôn nó sẽ thôi.  Tại sao vậy?  Vì đồ vật ấy không thật.  Bồ tát quán sát chúng sinh yêu mến tấm thân hôi nhơ và ngũ dục cũng đại loại như vậy.  Nếu chúng sinh thành tựu ngũ căn thì lập tức chúng sinh có thể lìa bỏ những thứ ấy.  Nếu đồ vật mà đứa bé chấp đó là thật thì dù đến trăm tuổi nhưng cố chấp kia càng cứng chắc hơn.  Nếu các pháp mà chúng sinh đang chấp là thật thì dù thành tựu ngũ căn nhưng chúng sinh cũng không thể nào buông bỏ được.  Nhưng vì thấy các pháp rỗng không, dối trá, không thật nên dứt bỏ được dễ dàng.  Như Lai nói pháp môn Tịnh Độ vì chúng sinh cũng đại loại như vậy.  Vì chúng sinh chấp chặt sự vật dối trá nên dễ giáo hóa, như con người lúc thiếu niên đam mê sắc dục, lúc tráng niên ưa thích quan tước, đến lão niên ham muốn lợi lộc.  Nếu những thứ ấy đáng ưa thì không thay lòng đổi dạ theo năm tháng.  Vì dễ đổi thay nên Như Lai nói về Tịnh Độ thì chúng sinh cũng vui, cũng thích, cũng ham, như  người trong mộng được kêu liền tỉnh dậy.  Nếu mộng là thật thì có kêu gọi dậy cũng vô ích mà thôi.  Do đó, các đức Phật nói pháp môn như thế vì tất cả chúng sinh.

7/  Phương tiện thù thắng

Phương tiện thù thắng này không phải tự lực, không phải tha lực, do trong biển tự tánh có đầy đủ công đức tự tại nên tất cả đều sẵn đủ.  Vì thế, một câu thánh hiệu lại không phiền hà, mười niệm thành công vượt hơn nhiều kiếp như muôn lời phẫn nộ do sức của gió từ dưới đưa lên cửa miệng nên phát ra được rõ ràng; như hang sâu tăm tối nhờ vầng dương soi chiếu nên được sáng sủa; như hang ổ của loài kiến nhỏ bằng một sợi tơ mà có thể xuyên vỡ bờ đê, đó là nhờ sức của nước, chứ không phải sức của kiến; như cánh buồm bằng cỏ lát có thể đẩy chiếc thuyền muôn hộc, đó là nhờ sức của gió chứ không phải sức của cỏ lát.  Tất cả những việc ấy hiện bày đều là năng lực của pháp giới tánh hải vô tác, vô vi không thể nghĩ bàn, chứ không phải tự, không phải tha, tất cả đều sẵn đủ.  Phương tiện thù thắng như thế là con đường tắt trong các con đường tắt.  Kẻ bỏ phương tiện này, không tu tập thì thật là ngu si.

8/  Dẫn đường cho nhị thừa

 Các vị nhị thừa trốn tránh cảnh, hướng đến chỗ vắng lặng để chứng nhập niết bàn không thật, không được pháp thân Như Lai, thọ, hoặc, nghiệp, khổ.  Có bốn nguyên do:

– Do vô  minh trụ địa nên không đắc quả ba la mật Tịnh, diệt hết các phiền não cấu trược và tập khí hôi thối.

– Do vô minh trụ địa có hành hư vọng chưa trừ diệt nên không đắc quả ba la mật Ngã vô tác, vô hành.

– Do hư vọng vi tế khởi nghiệp vô lậu, ý sinh các ấm chưa trừ hết nên không đắc quả ba la mật Lạc, cực diệt viễn ly.

– Do sinh tử biến dịch đứt nối không ngừng nên không đắc quả ba la mật Thường, cực vô biến dịch.

Vì bốn thứ nghiệp hoặc đó, nên những vị ấy chưa chứng nhập chân lý.  Vì thương xót họ, Như Lai chỉ dạy chuyển tâm đoạn diệt, tu hạnh Tịnh Độ khiến cho họ biết ngay nơi không mà chẳng đoạn, ngay nơi  mà chẳng thường, cưỡi trí đại thừa vào biển niết bàn.

9/   Sức chịu đựng bền chắc

Bồ tát Long Thọ nói rằng: “Đồng tử trên bốn tuổi, dưới hai mươi tuổi gọi là đồng tử địa.  Nếu bồ tát mới sinh vào nhà của bồ tát thì cũng như đứa bé.  Bồ tát đắc vô sinh pháp nhẫn cho đến thập trụ địa lìa các việc ác cũng gọi là đồng tử địa.  Muốn được địa ấy, bồ tát nên học bát nhã ba la mật, bao giờ cũng không muốn rời các đức Phật”.

Hỏi: Bồ tát nên giáo hóa chúng sinh, tại sao bồ tát lại không muốn rời các đức Phật?

Đáp: Khi bồ tát chưa chứng nhập địa vị của bồ tát, chưa được thọ ký bất thoái chuyển, nếu bồ tát xa lìa các đức Phật thì các căn lành dễ hư, chìm trong phiền não, không thể độ chính mình, làm sao có thể độ người?  Như người giong thuyền ra biển mà thuyền bị hư hỏng, muốn cứu người khác mà chính  mình bị chết chìm; như kẻ sử dụng vài giọt nước sôi dội vào tảng băng, băng tuy tan được ít chỗ nhưng  nước sôi trở lại thành băng.  Khi chưa chứng nhập chân như, nếu bồ tát xa lìa các đức Phật, đem công đức chút ít để hóa độ chúng sinh mà không có sức phương tiện thì tuy được lợi ích nhỏ nhặt, nhưng bồ tát sẽ bị sa ngã.  Vì thế, các bị bồ tát tân học không nên xa lìa các đức Phật.

Hỏi:  Nếu nói như thế thì tại sao không nói rằng bồ tát không nên xa lìa thanh văn, bích chi Phật.  Thanh văn, bích chi Phật cũng có thể làm lợi ích cho bồ tát chứ ?

Đáp:  Bồ tát có tâm lượng rộng lớn.  Tuy thanh văn, bích chi Phật có niết bàn lợi ích nhưng vì các vị ấy không có nhất thiết chủng trí, cho nên không thể nào giáo hóa, dẫn dắt bồ tát được.  Nhất thiết chủng trí của các đức Phật mới có thể giáo hóa, dẫn dắt bồ tát.  Khi voi lún sình, nếu không nhờ voi khác thì không thể nào bước lên được.  Bồ tát cũng như vậy, nếu bồ tát sa vào trong phi đạo thì chỉ có Phật mới có thể cứu được mà thôi, vì bồ tát với Phật đồng một đạo đại thừa.  Do đó mà nói bồ tát thường không muốn lìa các đức Phật.

Lại nữa, bồ tát nghĩ rằng: “Tôi chưa đắc Phật nhãn, tôi không khác chi  người mù.  Nếu không được Phật vạch lối chỉ đường thì tôi không biết phương hướng tiến lên, lạc vào ngoại đạo.  Giả sử được nghe Phật pháp rồi đến nơi khác thực hành thì cũng chưa biết thời tiết giáo hóa và hành pháp ở mức độ nào!”

Lại nữa, bồ tát thấy Phật được vô lượng lợi ích: mắt thấy Phật thì tâm thanh tịnh; nếu tai nghe được lời thuyết pháp thì tâm được pháp lạc, được đại trí tuệ, tùy pháp tu hành để được giải thoát.  Gặp Phật được vô lượng lợi ích như thế, chẳng lẽ bồ tát không nhất tâm thường mong muốn thấy Phật sao?  Như đứa bé không nên rời bỏ mẹ hiền, như đi đường không nên rời bỏ lương thực, như tiết trời gay gắt không nên rời bỏ nước lạnh, gió mát, như lúc rét buốt không nên rời bỏ ngọn lửa , như qua khúc sông sâu không nên rời bỏ thuyền bè, như người bị bệnh không nên rời bỏ thầy thuốc.  Bồ tát không xa lìa các đức Phật còn hơn những việc kể trên.  Tại sao vậy?  Vì cha mẹ, thân thuộc, người tri thức, trời, vua…đều không có sự lợi ích bằng Phật.  Bồ tát gặp Phật được những lợi ích: lìa bỏ các chỗ khổ, cư trú vào mảnh đất của Thế Tôn.  Vì những lẽ ấy, bồ tát thường không nên xa lìa các đức Phật.

Hỏi:  Pháp hữu vi giả dối, không thật, không đáng tin cậy, tại sao lại nói được như nguyện, không lìa các đức Phật?

Đáp:  Vì phước đức, trí tuệ đầy đủ nên mới gặp được Phật, huống chi là không xa rời các đức Phật.  Chúng sinh vì tạo nhân duyên tội lỗi từ vô lượng kiếp nên không được như nguyện.  Chúng sinh tuy có tu tập phước đức nhưng trí tuệ kém cỏi, tuy có tu tập trí tuệ nhưng phước đức kém cỏi.  Do vậy, các điều nguyện không được thành tựu.  Bồ tát cầu Phật đạo phải thực hành hai nhẫn là sinh nhẫn và pháp nhẫn.

 –  Vì thực hành sinh nhẫn, đối với tất cả chúng sinh phát tâm từ bi nên tiêu diệt tội từ vô lượng kiếp, được vô lượng phước đức.

–  Vì thực hành pháp nhẫn, phá bỏ các pháp vô minh nên được vô lượng trí tuệ.

Hai hạnh ấy đi đôi với nhau thì nguyện nào mà không thành tựu?  Vì vậy, đời đời, bồ tát không bao giờ xa lìa các đức Phật.

Lại nữa, bồ tát vì thường ưa thích niệm Phật nên khi bỏ thân cũ thọ thân mới, bồ tát thường gặp được Phật, như tâm của chúng sinh quen theo thói dâm dục nặng nề thì mang thân dâm điểu: chim khổng tước, uyên ương v.v … Tâm của chúng sinh quen theo thói giận dữ thì sinh vào trong loài độc trùng: rồng dữ, la sát, rết, rắn độc v.v… Tâm bồ tát kia không ham muốn phước báo cõi người, cõi trời, địa vị của chuyển luân thánh vương mà chỉ niệm các đức Phật.  Do đó, tùy theo sự ưa thích của tâm mà mang lấy hình hài.

 Lại nữa , bồ tát thường khéo tu Niệm Phật tam muội.  Vì nhân duyên ấy cho nên sinh ra ở bất cứ chỗ nào, bồ tát cũng thường gặp được các đức Phật.  Luận Tịnh độ hoặc vấn của Thiên Như có ghi: “Bậc tỏ ngộ trong Thiền tông đã gọi là thấy tánh thành Phật, tại sao lại cầu sinh về Tịnh Độ ?

Đáp:  Bậc tỏ ngộ chính là người nguyện cầu sinh về Tịnh Độ.  Chỉ vì ông chưa tỏ ngộ nên mới hỏi như thế.  Giả sử ông đã tỏ ngộ rồi thì muôn trâu không kéo lại được tâm niệm cầu sinh về Tịnh Độ của ông.

Hỏi:  Người học đạo chỉ lo âu việc lớn chưa sáng mà thôi.  Nếu việc lớn đã sáng thì nên thực hành theo lời Phật dạy, tùy loài hóa thân, không khiếp sợ sinh tử, lao vào chỗ bùn lầy nước đọng để độ khắp sinh linh.  Tại sao lại cầu sinh về Tịnh Độ chán khổ , tìm vui ?

Đáp:  Ông cho rằng sau một khi tỏ ngộ đã quét sạch phiền não, tập khí, liền được bất thoái chuyển sao?  Và cũng không còn học khắp Phật pháp, không cần phải tu tập thêm nữa để chứng các quả vị sao?  Hay ông lại nghĩ rằng sau một khi tỏ ngộ liền có thể ngang bằng với các đức Phật, lao vào sinh tử mà không bị quấy nhiễu bởi các chướng duyên ?  Nếu thật như thế thì các vị đại bồ tát tu lục độ vạn hạnh trải qua số kiếp như cát của sông Hằng cũng đều hổ thẹn với ông !  Người xưa có nói: “Thanh văn còn bị mê  muội khi ra khỏi bào thai.  Bồ tát cũng bị hôn mê khi bỏ thân cũ thọ thân mới”.  Huống chi thời gian gần đây, người ngộ giải kém cỏi, tự cứu chính mình còn chưa xong.  Tuy họ có trình độ tỏ ngộ thâm sâu, có trí thông hiểu cao sáng, có kiến giải và thực hành đi đôi với nhau, có muốn độ người khác, nhưng ngặt vì chưa bước lên địa vị bất thoái chuyển cho nên năng lực tu tập chưa được trọn vẹn; ở thế giới ô nhiễm này mà giáo hóa chúng sinh kiên cường, đó là điều tiên thánh chưa cho phép, như kẻ sử dụng chiếc thuyền đóng chưa xong, không bền chắc, muốn đưa nhiều người qua biển cả sóng to gió lớn thì tự mình và người đều bị đắm chìm.  Việc ấy không bao giờ tránh khỏi.  Luận Vãng sinh ghi: “Hành giả muốn tham quan cửa địa ngục thì phải  sinh về cõi kia.  Khi chứng nhập vô sinh pháp nhẫn rồi, hành giả sẽ trở vào con đường sinh tử nguy ngập để cứu chúng sinh khổ.  Vì nhân duyên ấy, cho nên hành giả phải nguyện cầu sinh về Tịnh Độ”.

Lại nữa, tiên thánh có nói: “Chưa bước lên địa vị bất thoái chuyển thì hành giả không  nên lẫn lộn vào cõi đời trần tục để độ sinh, chưa chứng nhập vô sinh pháp nhẫn thì không nên xa lìa các đức Phật, như đứa bé không nên xa mẹ, như chim non chỉ nên chuyền cành”.  Ngày  nay, trong cõi này, Phật Thích Ca đã nhập diệt, Phật Di Lặc chưa ra đời, nỗi khổ của bốn đường dữ, nhân quả dây dưa, tà ma ngoại đạo, thị phi rối loạn; sắc đẹp, tiếng dâm thường quyến rũ; cảnh hư, duyên ác mãi bao quanh.  Thực trạng ấy đã không gặp Phật để nương tựa, lại bị quấy rối bởi hoàn cảnh, những người sơ tâm ngộ đạo ít có ai không bị thoái lui?  Vì vậy, Thế Tôn ân cần chỉ dẫn về Cực Lạc là có lý do.  Bởi lẽ, Phật A Di Đà hiện đang thuyết pháp, cảnh duyên nào ở Cực Lạc cũng đều thanh tịnh.  Nếu nương nhờ Phật kia thì nhẫn lực dễ thành, Phật thừa dễ chứng; hành giả sẽ được thọ ký.  Về sau tới lui tự tại vô ngại để ứng hóa độ sinh.

Các thiền giả ngày nay phần nhiều không xét thấu đáo đến liễu nghĩa của Như Lai, không biết huyền cơ của Đạt Ma, kiến giải thì rỗng không mà tâm lý kiêu căng đã thành thói quen ngông cuồng.  thấy người tu Tịnh Độ, họ cười chê và nói: “Người kia học việc làm của kẻ ngu dốt”.  Tôi thường cho rằng những người ấy không phải khinh miệt kẻ ngu dốt mà chính là khinh miệt Văn Thù, Phổ Hiền, Long Thọ, Mã Minh v.v… Chẳng những họ tự mê chánh đạo, tự mất căn lành, tự bỏ quên tuệ thân, tự để tiêu mất hạt giống Phật mà còn kết thành nghiệp chê bai pháp, tự rước lấy tai họa của sự khinh thánh.  Phật, tổ thấy vậy xót xa da diết!

Cho nên, hòa thượng Vĩnh Minh buồn thương thống thiết, phơi bày tâm can, chủ trương Tịnh Độ.  Ngài đã tự tu lại còn giáo hóa đời.  Đến khi lâm chung có các hiện tướng thù thắng.  Đến khi trà tỳ, xá lợi thu được rất nhiều; sinh thẳng về Cực Lạc ở bậc thượng phẩm đến nỗi Diêm La cho là hiếm có, họa tượng kính lễ.  Vĩnh Minh đã tỏ ngộ thiền trực chỉ của Đạt Ma lại gởi thân về Cực Lạc.  Lấy sự kiện này để giải thích về lối chấp sai lầm của thiền giả, để gây niềm tin khích lệ cho chúng sinh thời  mạt pháp.  Quả thật, Ngài có công lớn đối với bên Tông cũng như bên Giáo.

Không chỉ Vĩnh Minh làm được những việc như thế mà còn có thiền sư Tử Tâm Tân viết văn khuyên tu Tịnh Độ.  Trong bài văn khuyên tu Tịnh Độ của thiền sư Chơn Yết Liễu có đoạn ghi: “Tại sao người trong tông Tào Động ngoài sự tập thiền lại còn mật tu Tịnh Độ?  Vì pháp môn Niệm Phật là con đường tắt trong các lối tu hành.  Xem trong Đại Tạng, pháp môn này chẳng những tiếp nhận bậc thượng thượng căn mà còn tiếp nhận căn cơ trung, hạ … Các vị rất tài giỏi trong Tông môn đã ngộ pháp chẳng không chẳng có, lại giữ vững lập trường chăm chăm về tịnh nghiệp, vì sự thấy Phật của tông Tịnh Độ rất giản dị hơn Tông môn”.  Lại nói rằng: “Dù Phật, dù tổ, bên giáo, bên thiền đều tu tịnh nghiệp, đều trở về một cội nguồn mà thôi.  Hễ bước vào được pháp môn này thì hành giả có thể bước vào được vô lượng pháp môn khác”.

Đến như thiền sư Thiên Y Hoài, thiền sư Viên Chiếu Bổn, thiền sư Từ Thọ Thâm, thiền sư Nam Nhạc Tư, thiền sư Pháp Chiếu, thiền sư Tịnh Yết, thiền sư Tịnh Từ Đại Thông, thiền sư Thiên Thai Hoài Ngọc, thiền sư Đạo Trân đời Lương, thiền sư Đạo Xước đời Đường, thiền sư Tỳ Lăng Pháp Chân, thiền sư Cô Tô Thủ Nột, thiền sư Bắc Giản Cư Giản, thiền sư Thiên Mục Tri Lễ, v.v…là các đại lão thiền sư, là các vị rất tài giỏi trong Thiền môn.  Xét cho cùng, chỗ mật tu và hiển hóa đều phát dương ý chỉ Tịnh Độ.  Tuy không ước hẹn nhưng đồng đường”.  Nếu nói rộng như chánh văn thì không thể nào ghi hết cho được.  Vì thế, nên biết, bậc mật tu Thiền tông không lìa Tịnh Độ, người sơ tâm đốn ngộ chưa ra khỏi hạng đồng chân.  Nếu hành giả đã bước vào cửa Tịnh Độ này thì mới bảo đảm bất thoái.

10/ Chỉ bày pháp chân

Tất cả pháp môn tu hành nói không tức là đoạn, nói có tức là thường, chưa phải là cứu cánh.  Chỉ có pháp  môn Niệm Phật tam muội này thì ngay nơi niệm mà tịnh, nên tịnh chẳng phải là không; ngay nơi tịnh mà niệm, nên niệm chẳng phải là .  Đạt được cái tịnh không chỗ nương tựa tức là thể của niệm.  Rõ được niệm vốn lìa niệm tức là dụng của tịnh.  Do đó, chẳng phải ngoài tịnh có chủ thể niệm để niệm tịnh.  Nếu ngoài tịnh có chủ thể niệm thì phải có đối tượng được niệm.  Vì còn có đối tượng nên chẳng phải là tịnh.  Mặt khác, chẳng phải ngoài cái niệm còn có cái trạng thái tịnh để nhập vào các niệm.  Nếu ngoài cái niệm có cái trạng thái tịnh thì cái tịnh ấy còn đối đãi.  Vì còn đối đãi nên chẳng phải là tịnh.  Nên biết, các đức Phật thuận theo tâm tịch diệt để trang nghiêm tịnh độ.  Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào tất cả cửa tịch diệt.  Các đức Phật thuận theo tâm thường, lạc, ngã, tịnh để trang  nghiêm tịnh độ.  Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào cửa thường, lạc, ngã, tịnh.  Các đức Phật thuận theo tâm chúng sinh bình đẳng để trang nghiêm tịnh độ.  Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào tất cả cửa chúng sinh bình đẳng.  Các đức Phật thuận theo nghiệp đại bi, đại trí để trang nghiêm tịnh độ. Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào tất cả cửa nghiệp đại bi, đại trí .  Các đức Phật thuận theo nghiệp vô tác, vô vi không thể nghĩ bàn để trang nghiêm tịnh độ.  Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào tất cả cửa vô tác, vô vi không thể nghĩ bàn.  Các đức Phật thuận theo tánh phiền não, trần lao để trang nghiêm tịnh độ.  Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào tất cả cửa phiền não, trần lao. Các đức Phật thuận theo tướng hạt cải, hạt bụi để trang nghiêm tịnh độ.  Vậy, người niệm Phật cầu sinh về tịnh độ là đang đi vào cửa hạt cải, hạt bụi .

Tất cả pháp môn lớn đã nói ở trên, chỉ cần một tiếng A Di Đà Phật thì đều chứng nhập tất cả.  Nhưng, không có chủ thể chứng nhập, không có đối tượng được chứng nhập.  Nếu không phải như thế thì đó là tịnh hữu dư. Niệm Phật tam muội thì không phải như vậy.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
Cực Lạc
(s: Sukhāvatī, 極樂): nguyên nghĩa tiếng Sanskrit có nghĩa là nơi có an lạc, cho nên nó thường chỉ cho thế giới của Phật A Di Đà (s: Amitābha, 阿彌陀), còn được gọi là Cực Lạc Thế Giới (極樂世界), Cực Lạc Quốc Độ (極樂國土). Trong các kinh điển Hán dịch có dùng một số âm dịch như Tu Ma Đề (須摩提), Tu Ha Ma Đề (須呵摩提), v.v., và ý dịch như An Lạc (安樂), An Dưỡng (安養). Từ Cực Lạc này có được dùng đến trong một số thư tịch cổ điển của Trung Quốc như Thượng Thư Gián Ngô Vương (上書諫呉王, Văn Soạn 39) của Mai Thừa (枚乘, ?-140ttl.) với ý là “sự vui sướng không có gì hơn hết”, hoặc trong bài Tây Đô Phú (西都賦) của Ban Cố (班固, 32-92) nhà Hán với nghĩa là “đến tận cùng niềm vui sướng”, hay trong Hoài Nam Tử (淮南子) với nghĩa là “niềm vui sướng cùng cực”, v.v. Còn trong Phật điển thì từ này được dùng đầu tiên trong Kinh A Di Đà (阿彌陀經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch. Kinh điển đề cập đến Cực Lạc Thế Giới là 3 bộ kinh lớn của Tịnh Độ, gồm Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經).
ngũ căn
(五根) Phạm: Paĩcendriyàịi. Năm căn. I.Ngũ Căn. Cũng gọi Ngũ sắc căn. Chỉ cho 5 sắc căn, chỗ nương của 5 thức. Tức: Nhãn căn (Phạm:Caksurindriya), Nhĩ căn (Phạm: Zrotrendriya), Tị căn (Phạm:Ghràịendriya), Thiệt căn (Phạm: Jihvendriya), Thân căn (Phạm: Kayendriya). Cũng tức là 5 quan năng chủ về: Thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác và xúc giác. Nếu thêm Ý căn vào 5 căn thì gọi là 6 căn. Năm căn ngoài khả năng thu nhận 5 đối tượng ở ngoại giới, còn có khả năng dẫn khởi tác dụng nhận biết của 5 thức trong nội tâm, vì có các tác dụng thù thắng ấy nên gọi là Căn. Lại vì 5 căn là do vật chất (sắc) cấu tạo thành, cho nên cũng gọi là 5 Sắc căn. Phái Số luận có thuyết Ngũ tri căn, trong đó, Thân căn cũng được gọi là Bì căn. Nói về thể của 5 căn, Tát bà đa bộ (Thuyết nhất thiết hữu bộ) chia 5 căn làm 2 thứ là Phù trần căn và Thắng nghĩa căn. Phù trần căn (cũng gọi Phù căn) là các căn thô phù bên ngoài (như mắt, tai, mũi...) tự chúng không có khả năng nhận thức sự vật, phải nhờ vào Thắng nghĩa căn theo bên cạnh giúp sức mới có thể sinh ra tác dụng nhận biết. Những Phù căn này thông thường được gọi là 5 giác quan. Còn Thắng nghĩa căn là bộ phận bên trong của nhục thể, mắt thường (mắt thịt) chẳng thể thấy được, nhưng có tác dụng sinh ra thức và thu lấy cảnh (đối tượng). Thắng nghĩa căn và Phù trần căn tuy cùng do cực vi tạo thành, nhưng Thắng nghĩa căn lấy tịnh sắc do 4 đại thù thắng tạo ra làm thể, là thực pháp nhưng mắt thường không thể thấy được. Do đó, Tát bà đa bộ chủ trương 5 căn là chỉ cho Thắng nghĩa căn, tức là cái mà ngày nay chúng ta thường gọi là hệ thần kinh, chứ không phải Phù trần căn mà thông thường ta gọi là 5 cảm quan. Nhưng Đại chúng bộ... thì cho sắc, hương, vị, xúc là thể của 5 căn, lấy máu thịt làm tính, không có tịnh sắc, không có khả năng nắm bắt đối tượng(thủ cảnh). Tức thuyết này chủ trương 5 căn là Phù trần căn. Còn theo thuyết của Duy thức Đại thừa thì như ngài Hộ pháp lập tịnh sắc hiện hành làm 5 căn, nhưng ngài Nan đà thì cho rằng 5 căn chỉ là chủng tử chứ không phải tịnh sắc hiện hành. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Dị bộ tông luân; luận Thành thực Q.4; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.1; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.3, phần đầu]. (xt. Ngũ Căn Hữu Tứ Sự Tăng Thượng). II.Ngũ Căn. Chỉ cho 5 căn vô lậu trong 37 đạo phẩm. Năm căn này là cội gốc sinh ra hết thảy pháp lành có tác dụng tăng thượng đối với việc áp phục phiền não, dẫn vào Thánh đạo, cho nên được gọi là Căn (gốc rễ). Đó là: 1. Tín căn (Phạm: Zraddhendriya): Tin Phật, Pháp, Tăng, tin đạo lí Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo). 2. Tiến căn (Phạm: Vìryendriya), cũng gọi Tinh tiến căn, Cần căn: Gắng sức mạnh mẽ tu tập pháp lành. 3. Niệm căn (Phạm: Smftìndriya): Nhớ nghĩ chính pháp. 4. Định căn (Phạm: Samàdhìndriya): Chú tâm vào 1 đối tượng duy nhất, không để tán loạn. 5. Tuệ căn (Phạm: Prajĩendriya): Ở trong định khởi trí quán, biết rõ chân lí như thực. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển 16 thì 5 căn này theo thứ tự còn có tác dụng đối trị với bất tín, giải đãi (biếng nhác), phóng dật (buông thả), trạo cử (xao động) và phiền não vô minh. Ngoài ra, theo Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết (hội bản) quyển 7, phần 1, thì người tu hành mầm lành tuy đã hơi nứt nhưng vẫn chưa sinh rễ (căn), nay tu 5 pháp khiến cho rễ lành sinh ra, vì thế 5 pháp này đều gọi là Căn. Năm căn và 5 lực trong 37 đạo phẩm là cùng 1 thể, 5 lực hiển bày sức tăng thượng của 5 căn. Năm lực là pháp tu của người lợi căn, 5 căn là pháp tu của người độn căn. Năm căn này cũng có tác dụng tăng thượng đối với pháp vô lậu. [X. kinh Tạp a hàm Q.26; kinh Tăng nhất a hàm Q.23, 42; luận Đại tì bà sa Q.96; luận Đại trí độ Q.90; luận Du già sư địa Q.57; Pháp giới thứ đệ Q.trung]. (xt. Tam Thập Thất Đạo Phẩm).
nhất thiết chủng trí
(一切種智) Phạm: Sarvathà-jĩàna. Cũng gọi Phật trí. Trí tuệ này chỉ có đức Phật chứng được. Tức là dùng 1 loại trí tuệ mà biết được nhân chủng của tất cả các pháp và tất cả chúng sinh, đồng thời cũng là trí rõ suốt tướng vắng lặng và hành loại của các pháp. Là 1 trong 3 trí. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 581 trung) nói: Chư Phật Như lai xa lìa tướng thấy, có đại trí dụng, tự thể chiếu rọi tất cả vọng pháp, có vô lượng phương tiện, tùy theo căn cơ của chúng sinh, đều có thể chỉ bày các pháp nghĩa, vì thế gọi là Nhất thiết chủng trí. Luận Đại trí độ quyển 27 (Đại 25, 259 thượng) nói: Phật biết rõ hết cả tổng tướng và biệt tướng của các pháp thiền định, trí tuệ nên gọi là Nhất thiết chủng trí (...) Nhất thiết trí là trí của Thanh văn, Duyên giác. Đạo trí là trí của Bồ tát, còn Nhất thiết chủng trí là trí của Phật. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.21; luận Đại trí độ Q.50, 84; Vãng sinh luận chú Q.hạ].
hữu vi
(有爲) Phạm: Saôskfta. Pàli:Saíkhata. Cũng gọi Hữu vi pháp. Pháp do tạo tác mà có. Chỉ chung cho các hiện tượng do nhân duyên hòa hợp mà được tạo ra. Cũng tức là tất cả hiện tượng trong quan hệ hỗ tương, sinh diệt biến hóa, lấy 4 tướng hữu vi sinh, trụ, dị, diệt làm đặc trưng. Ngược lại, pháp nào vĩnh viễn bất biến và tồn tại tuyệt đối thì gọi là Vô vi pháp. Cứ theo Câu xá luận quang kí quyển 5, thì nhân duyên tạo tác gọi là Vi , còn các pháp sắc, tâm từ nhân duyên, có sự tạo tác của nhân duyên, cho nên gọi là Hữu vi, do đó, Hữu vi cũng là tên khác của pháp duyên khởi. Tiểu thừa chú trọng việc dùng hữu vi để nói rõ về lẽ vô thường của kiếp người, còn Đại thừa thì đi xa hơn mà đặt nặng việc phân tích tất cả hiện tượng vật chất và tinh thần trong thế giới để thuyết minh lí tính không, duy tâm.

Phổ thông cho 5 uẩn là pháp hữu vi, còn trong 75 pháp của tông Câu xá thì pháp hữu vi chiếm hết 72 thứ; trong 100 pháp của tông Duy thức thì pháp hữu vi chiếm 94 loại. Nói một cách bao quát, pháp hữu vi có thể chia ra 3 loại gọi là Tam hữu vi, đó là: Sắc pháp (vật chất), Tâm pháp (tâm) và Phi sắc phi tâm pháp (pháp bất tương ứng). Pháp hữu vi là pháp vô thường, chuyển biến, đổi dời trong từng sát na, vì thế cũng gọi là Hữu vi chuyển biến. Sinh, trụ, dị, diệt (Tứ tướng hữu vi) là đặc trưng căn bản của các pháp hữu vi, cũng có thuyết hợp 2 tướng trụ, dị làm một mà lập Tam tướng hữu vi. Luận Câu xá quyển 1 có nêu 4 tên khác của pháp hữu vi: Thế lộ, Ngôn y, Hữu li và Hữu sự. 1. Thế lộ: Thế nghĩa là tam thế (3 đời); lộ tức là pháp, là chỗ nương tựa của đời (thế). Nghĩa là pháp quá khứ là đời đã qua rồi; pháp hiện tại là đời đang diễn ra; pháp vị lai là đời sẽ diễn ra.

Bởi thế pháp hữu vi là chỗ nương tựa của 3 đời, cho nên gọi là Thế lộ. Thế cũng còn bao hàm ý nghĩa có thể phá hoại , pháp hữu vi là pháp có thể phá hoại, mà cũng là chỗ nương tựa của vô thường, cho nên gọi là Thế lộ. 2. Ngôn y: Ngôn chỉ cho lời nói lấy âm thanh làm thể, là pháp mà Danh ngôn năng thuyên và Thực nghĩa sở thuyên dựa vào để biểu hiện và tồn tại. Lí do tại sao pháp hữu vi được gọi là Ngôn y, là vì nghĩa sở thuyên và danh năng thuyên đều rơi vào 3 đời và hiện hành trong 3 đời (quá khứ, hiện tại, vị lai). 3. Hữu li: Li nghĩa là xa lìa vĩnh viễn, tức chỉ cho Niết bàn. Tất cả các pháp hữu vi cuối cùng sẽ bị lìa bỏ mà đến Niết bàn, cho nên gọi là Hữu li. 4. Hữu sự: Sự là nhân, nghĩa là các pháp hữu vi đều từ nhân mà sinh ra, cho nên gọi là Hữu sự. Lại nữa, pháp hữu vi phải nhờ quan hệ nhân quả mới thành lập được, như vậy, phàm là pháp hữu vi thì nhất định sẽ sinh ra quả, cho nên Hữu vi cũng được gọi là Hữu quả. Ngoài ra, Hữu vi còn có tên khác là Hữu sát na vì nó có tính chất sinh diệt đổi dời trong từng sát na. [X. luận Câu xá Q.5; luận Thành duy thức Q.2; Câu xá luận tụng sớ Q.1; Thành duy thức luận thuật kí Q.2 phần cuối; Đại thừa nghĩa chương Q.2]. (xt. Ngũ Vị Thất Thập Ngũ Pháp, Ngũ Vị Bách Pháp, Tứ Tướng).
tập khí
(習氣) Phạm,Pàli:Vàsanà. Cũng gọi Phiền não tập, Dư tập, Tàn khí. Gọi tắt: Tập. Do tư tưởng, hành vi(đặc biệt là phiền não) của người ta dấy sinh hằng ngày, rồi huân tập(xông ướp, tập tành) thành những thói quen, hơi hướng sót lại, rớt lại trong tâm người ta, gọi là Tập khí, giống như để hương trong hộp, khi lấy hương ra rồi mà trong hộp vẫn còn mùi thơm. Nói cách nôm na là tất cả ý nghĩa và việc làm của chúng ta đều để lại trong ta những kinh nghiệm và thói quen, đó chính là Tập khí. Trong Phật giáo, từ Tập khí được dùng để ví dụ tuy đã diệt trừ chính thể của phiền não, nhưng vẫn còn hơi hướng của thói quen rớt lại và rất khó diệt trừ. Trong kinh Phật có ghi chép nhiều trường hợp, chẳng hạn như thói quen dâm dục của ngài Nan đà khi còn ở tại gia, thói quen nổi giận của ngài Xá lợi phất và ngài Ma ha ca diếp, thói quen kiêu căng của ngài Tì lăng già bà bạt, thói quen nhún nhảy chơi đùa của ngài Ma đầu bà tư tra, thói quen nhai suốt ngày như trâu của ngài Kiều phạm bát đề... đều là Tập khí; chỉ có đức Phật mới vĩnh viễn đoạn trừ cả chính thể và tập khí của phiền não.Tông Duy thức cho Tập khí là tên khác của chủng tử(hạt giống), là phần khí được huân tập bởi hiện hành, có năng lực sinh ra tư tưởng, hành vi và tất cả các pháp hữu vi được chứa đựng trong thức A lại da. Tập khí lại được chia làm 3 loại là: 1. Danh ngôn tập khí: Chỉ cho các chủng tử nương vào danh ngôn(biểu tượng của lời nói) mà được huân tập thành, là nguyên nhân trực tiếp, làm cho tất cả các pháp hữu vi đều tự sinh. Cũng tức là các chủng tử do khái niệm về danh tướng được huân tập trong thức A lại da mà hình thành. 2. Ngã chấp tập khí: Tập khí(chủng tử)nương vào ngã chấp mà được huân tập thành. Cũng tức là các chủng tử do ngã kiến được huân tập trong thức A lại da mà thành. 3. Hữu chi tập khí: Những chủng tử nghiệp thiện ác do nhân của Tam hữu (sự sống còn trong 3 cõi) huân tập thành. Ngoài ra, khí phần do các thiện căn tích tập được cũng gọi là Tập khí. Như phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nói: Bồ tát Đệ thập địa có 10 loại Tập khí: Tập khí Bồ đề tâm (cũng gọi Bản khí), tập khí Thiện căn(cũng gọi Thành hành khí), tập khí Giáo hóa chúng sinh(hạ hóa), tập khí Kiến Phật(thượng kiến), tập khí Ư thanh tịnh độ thụ sinh (thụ sinh), tập khí Bồ tát hạnh(đại hạnh), tập khí Đại nguyện(thập nguyện), tập khí Ba la mật(thập độ), tập khí Xuất sinh bình đẳng pháp(lí trí) và tập khí Chủng chủng phân biệt cảnh giới(lượng tri). Mười loại tập khí này đều vì áp phục và đoạn trừ các phiền não mà tích lũy, huân tập khí phần các thiện hạnh, nên gọi là Tập khí. [X. luận Đại trí độ Q.27; luận Du già sư địa Q.52; luận Thành duy thức Q.8; Thập địa kinh luận Q.11; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53]. (xt. Chủng Tử).
Lục Độ
(s: ṣaḍ-pāramitā, ṣaṭ-pāramitā, 六度): tức Lục Ba La Mật (六波羅蜜), Lục Ba La Mật Đa (六波羅蜜多), Lục Độ Ba La Mật (六度波羅蜜), còn gọi là Lục Độ Vô Cực (六度無極), Lục Đáo Bỉ Ngạn (六到彼岸). Ba La Mật (s, p: pāramitā, 波羅蜜) dịch là Độ (度), nghĩa là đáo bỉ ngạn (到彼岸, đến bờ bên kia), tức là đạt thành, hoàn thành lý tưởng. Đây là 6 pháp tu hành thật tiễn để thành Phật đạo của vị Bồ Tát, được giải thích rất rõ trong Phật Thuyết Bồ Tát Nội Tập Lục Ba La Mật Kinh (佛說菩薩內習六波羅蜜經, Taishō No. 778), gồm:
(1) Bố Thí Ba La Mật (s, p: dāna-pāramitā, 布施波羅蜜), còn gọi là Thí Ba La Mật (施波羅蜜), Đàn Ba La Mật (檀波羅蜜), Đàn Na Ba La Mật (檀那波羅蜜), Bố Thí Độ Vô Cực (布施度無極); có 3 loại bố thí là Tài Thí (財施, bố thí về tiền tài, vật chất), Pháp Thí (法施, bố thí lời dạy, giáo lý để tu tập và đạt được chân lý) và Vô Úy Thí (無畏施, bố thí sự không sợ hãi, giúp cho mọi người an tâm), để đối trị với sự tham lam, keo kiệt và tiêu trừ sự bần cùng.
(2) Trì Giới Ba La Mật (s: śīla-pāramitā, p: sīla-pāramitā, 持戒波羅蜜), còn gọi là Giới Ba La Mật (戒波羅蜜), Thi La Ba La Mật (尸羅波羅蜜), Giới Độ Vô Cực (戒度無極); giữ gìn giới luật đã lãnh thọ, thường tự tỉnh thức, có thể đối trị ác nghiệp, khiến cho thân tâm thanh tịnh.
(3) Nhẫn Nhục Ba La Mật (s: kṣānti-pāramitā, p: khantī-pāramitā, 忍辱波羅蜜), hay Nhẫn Ba La Mật (忍波羅蜜), Sàn Đề Ba La Mật (孱提波羅蜜), Nhẫn Nhục Độ Vô Cực (忍辱度無極); nghĩa là nhẫn nại, chịu đựng các sự bức hại, đối trị sân hận, nóng nảy, giúp cho tâm an trú.
(4) Tinh Tấn Ba La Mật (s: vīrya-pāramitā, p: virya-pāramitā, 精進波羅蜜), hay Tấn Ba La Mật (進波羅蜜), Tỳ Lê Da Ba La Mật (毘梨耶波羅蜜), Tinh Tấn Độ Vô Cực (精進度無極), nỗ lực tinh tấn tiến lên, bất khuất, không thối chí; giúp đối trị sự lười biếng, sinh trưởng các pháp lành.
(5) Thiền Định Ba La Mật (s: dhyāna-pāramitā, p: jhāna-pāramitā, 禪定波羅蜜), hay Thiền Ba La Mật (禪波羅蜜), Thiền Na Ba La Mật (禪那波羅蜜), Thiền Độ Vô Cực (禪度無極); nghĩa là tu tập Thiền định, có thể đối trị sự loạn tâm, giúp cho tâm được an định.
(6) Trí Tuệ Ba La Mật (s: prajñā-pāramitā, p: paññā-pāramitā, 智慧波羅蜜), hay Tuệ Ba La Mật (慧波羅蜜), Bát Nhã Ba La Mật (般若波羅蜜), Minh Độ Vô Cực (明度無極).
Sáu pháp này được thuyết đầu tiên trong kinh Bát Nhã và một số kinh điển Đại Thừa khác và được xem như là hạnh lý tưởng của Phật Giáo Đại Thừa. Đặc biệt, căn bản của các hạnh này có trong Bát Nhã Ba La Mật, và hạnh từ bi vốn căn cứ trên cở sở của Bát Nhã là nội dung của Lục Độ. Trong Đạt Ma Đại Sư Phá Tướng Luận (達磨大師破相論) có đoạn: “Lục Ba La Mật giả, tức tịnh Lục Căn dã; Hồ danh Ba La Mật, Hán danh Đạt Bỉ Ngạn, dĩ Lục Căn thanh tịnh, bất nhiễm Lục Trần, tức thị độ phiền não hà, chí Bồ Đề ngạn, cố danh Lục Ba La Mật (六波羅蜜者、卽淨六根也、胡名波羅蜜、漢名達彼岸、以六根清淨、不染六塵、卽是度煩惱河、至菩提岸、故名六波羅蜜, Sáu Ba La Mật tức là làm trong sạch Sáu Căn; người Hồ [Ấn Độ] gọi là Ba La Mật, người Hán [Trung Quốc] gọi là đạt đến bờ bên kia; vì Sáu Căn trong sạch, không nhiễm Sáu Trần, tức là qua được sông phiền não, đến bờ Bồ Đề; cho nên có tên là Sáu Ba La Mật).” Hay như trong Duy Tâm Tập (唯心集, CBETA No. 1208) có đoạn: “Nhất cú A Di Đà, vạn thiện đồng đăng; nhất cú A Di Đà, Lục Độ tề hành; nhất cú A Di Đà, tịnh uế trừng thanh; nhất cú A Di Đà, Đông Tây hợp tinh; nhất cú A Di Đà, bao quát cổ kim; nhất cú A Di Đà, hàm cái càn khôn; nhất cú A Di Đà, chứng nhập vô sanh (一句阿彌陀、萬善同登、一句阿彌陀、六度齊行、一句阿彌陀、淨穢澄清、一句阿彌陀、東西合并、一句阿彌陀、包括古今、一句阿彌陀、函蓋乾坤、一句阿彌陀、證入無生, một câu A Di Đà, vạn thiện cùng lên; một câu A Di Đà, Lục Độ cùng hành; một câu A Di Đà, sạch nhớp lắng trong; một câu A Di Đà, Đông Tây hợp lại; một câu A Di Đà, bao quát cổ kim; một câu A Di Đà, trùm khắp càn khôn; một câu A Di Đà, chứng vào vô sanh).”
bích chi phật
(辟支佛) Phạm: Pratyeka-buddha. Dịch ý là Duyên giác, Độc giác. Cũng gọi Bối chi ca, Bích chi. Là một trong hai thừa, một trong ba thừa. Chỉ cho bậc Thánh không có thầy mà tự giác tự ngộ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 18 và Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu, thì Bích chi phật có hai nghĩa: 1. Sinh vào thời đại không có Phật, lúc ấy Phật pháp đã diệt, nhưng nhờ nhân duyên tu hành đời trước, nương vào trí tuệ của chính mình mà được đạo. 2. Tự mình giác ngộ chứ không nghe theo người khác, nhờ quán xét và giác ngộ lí 12 nhân duyên mà được đạo. [X. luận Du già sư địa Q.34; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Duyên Giác).
phiền não
(煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].
nhị thừa
(二乘) Hai cỗ xe. Ví dụ giáo pháp của đức Phật có công năng vận chuyển chúng sinh đến quả vị giác ngộ giải thoát. Giáo pháp có 2 loại nên gọi là Nhị thừa. I. Đại thừa và Tiểu thừa. Giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời được chia thành Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. Tiểu thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Thanh văn, Duyên giác, còn Đại thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Bồ tát. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương)]. II. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. 1. Thanh văn thừa: Trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, nương vào lí Tứ đế mà giác ngộ.2. Duyên giác thừa: Không trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, chỉ tự mình quán xét lí 12 nhân duyên mà được giác ngộ. [X. kinh Đại bảo tích Q.28; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. III. Nhất thừa và Tam thừa. 1. Tam thừa: Trước thời Pháp hoa, sự chứng ngộ của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát có khác nhau. 2. Nhất thừa: Trong thời Pháp hoa, đức Phật tuyên dương pháp Nhất Phật thừa để qui cả 3 thừa về 1 thừa.
bất thoái
(不退) Không lùi. Phạm: avinivartanìya. Dịch âm: A duy việt trí, A bệ bạt trí. Cũng gọi Bất thoái chuyển, Vô thoái, Tất định. Thoái, hàm ý là lui bước, lui rơi, chỉ cho sự lui bước mà rơi vào đường ác và vào Địa vị Nhị thừa (Thanh văn, Duyên giác); tức lui khỏi địa vị Bồ tát đã chứng được và đánh mất pháp đã ngộ được. Trái lại, tu hành không trở lui, mạnh mẽ tiến bước, cho đến khi thành quả Phật, thì gọi là Bất thoái. Bất thoái vị cũng gọi là Bất thoái chuyển địa. Trong giai vị bốn thiện căn của Hữu bộ; đến được vị Nhẫn rồi thì không còn trở lui mà rơi vào đường ác nữa, cho nên gọi là Bất thoái. Kinh Đại bát nhã quyển 449 nói, vào ngôi Kiến đạo được vô sinh pháp nhẫn, thì không còn rơi vào Nhị thừa địa, nên được gọi là Bất thoái. Lại nữa, trong giai vị Bồ tát, trụ thứ bảy trong mười trụ, gọi là Bất thoái chuyển trụ, do đó đã sản sinh ra các thuyềt về Bất thoái như sau: 1. Tam bất thoái, là thuyết của ngài Cát tạng trong Pháp hoa nghĩa sớ quyển 1. Có bốn thuyết giải thích về Tam bất thoái, nhưng ở đây chỉ lấy thuyết thứ nhất: a) Vị bất thoái, trong mười trụ, Bồ tát từ trụ thứ bảy trở lên không còn lui trở lại Nhị thừa địa. b) Hạnh bất thoái, việc tu hành mà Bồ tát đạt được ở địa vị thứ bảy trong mười địa, không còn trở lui. c) Niệm bất thoái, Bồ tát từ địa thứ tám trở lên không cần ghi nhớ tinh tiến, tự nhiên có thể tiến đạo mà không động niệm. 2. Tứ bất thoái, tức là Tam bất thoái ở trên cộng thêm Xứ bất thoái (sinh về tịnh độ của Phật A di đà, không trở lui), thành Tứ bất thoái. Đây là thuyết của ngài Ca tài trong luận Tịnh độ quyển thượng. Ngoài ra, trong Pháp hoa huyền tán quyển 2, ngài Khuy cơ cũng lập Tứ bất thoái: a) Tín bất thoái, trong giai vị mười tín, Bồ tát tâm thứ sáu trở lên không còn khởi tà kiến. b) Vị bất thoái, trong giai vị mười trụ, Bồ tát ở trụ thứ bảy trở lên, không còn trở lui lại Nhị thừa địa. c) Chứng bất thoái, pháp của Bồ tát từ Sơ địa trở lên, không còn lui mất. d) Hạnh bất thoái, Bồ tát địa thứ tám trở lên, có thể tu hạnh hữu vi và vô vi mà không trở lui lại. Trong luận Thích tịnh độ quần nghi quyển 4 của ngài Hoài cảm cũng có thuyết Tứ bất thoái ở trên. Trong A di đà kinh yếu giải, ngài Trí húc nêu ra thuyết Tứ bất thoái: Niệm, Hạnh,Vị, Tất kính. Còn trong Tứ độ đồ thuyết của ngài Từ ân thì có thuyết Tứ Bất thoái: Nguyện, Hành, Trí, Vị v.v... (xt. Tứ Bất Thoái). 3. Ngũ bất thoái, bốn bất thoái Tín, Vị, Chứng, Hành, cộng thêm Phiền não bất thoái (Bồ tát ở vị Đẳng giác không còn bị phiền não làm trở lui) mà thành Ngũ bất thoái. [X. kinh Đại bảo tích Q.27, Q.77, Q.111; kinh Đại bát niết bàn (bản Bắc) Q.28; Di lặc bồ tát sở vấn kinh luận Q.1; Nhiếp đại thừa luận thích Q.8; luận Đại tì bà sa Q.6; luận Câu xá Q.23; luận Thập trụ tì bà sa Q.5 phẩm Dị hành].
nguyện
(願) Phạm: Praịidhàna. Trong lòng quyết ý mong muốn thành tựu được mục đích. Cứ theo phẩm Vấn tăng na trong kinh Phóng quang bát nhã quyển 3 và kinh Vô lượng thọ quyển hạ, thì Phật và Bồ tát ngay lúc mới phát tâm đều nguyện thành Vô thượng bồ đề và độ hết thảy chúng sinh. Đây gọi là Hoằng nguyện, cũng gọi là Tổng nguyện. [X. kinh Đạo hành bát nhã Q.6; kinh Niết bàn Q.24 (bản Bắc); kinh Bồ tát địa trì Q.9; luận Đại trí độ Q.7; luận Thành duy thức Q.9; Phát bồ đề tâm kinh luận Q.thượng; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.3].
nhân quả
(因果) Phạm: Hetu-phala. Chỉ cho nguyên nhân và kết quả, cũng tức là luật nhân quả. Trong hệ thống giáo nghĩa của Phật giáo, luật nhân quả được sử dụng như là lí luận cơ bản để thuyết minh tất cả sự quan hệ của thế giới. Bởi vì trong sự hình thành của hết thảy các pháp, thì nhân là năng sinh, quả là sở sinh. Tức là pháp nào có năng lực sinh ra kết quả là nhân, còn pháp nào từ nhân mà sinh ra là quả. Nếu nói về quan hệ nhân quả theo thời gian, thì nhân trước, quả sau, gọi là Nhân quả khác thời. Nhưng nếu nói về mặt không gian thì giống như những cây lau trong bó lau nương tựa vào nhau mà đứng vững, đó là quan hệ nhân quả theo nghĩa rộng, gọi là Nhân quả cùng thời. Về luận điểm nhân quả của ngoại đạo ở Ấn độ thời xưa, có thể chia làm 4 loại mà Phật giáo gọi là Ngoại đạo tứ chấp, hay đơn giản hơn là Tứ chấp. Đó là: 1. Nhân tà quả tà: Chủ trương nguyên nhân sinh ra muôn vật là do năng lực của trời Đại tự tại. 2. Không nhân có quả: Thừa nhận thế giới hiện tượng là quả, nhưng cho rằng nhân của quả này khó tìm biết được, nên phủ định nguyên nhân sinh ra quả này. 3. Có nhân không quả: Thừa nhận thế giới hiện tượng là nhân, nhưng cho rằng kết quả của cái nhân đó khó có thể tìm biết được, nên phủ định kết quả của nhân này.4. Không nhân không quả: Tức chối bỏ cả nhân lẫn quả. Ngoài 4 luận điểm trên, trong tư tưởng giới Ấn độ thời ấy còn có 2 luận thuyết nữa về nhân quả là: 1. Trong nhân có quả: Bà la môn giáo và học phái Số luận chủ trương thế giới hiện tượng do quả hiển hiện, thì quả ấy ắt đã có trong nhân, tức trong nhân thường có tính của quả, cho nên tính chất của nhân và quả giống nhau. 2. Trong nhân không quả: Học phái Thắng luận và những nhà tư tưởng đối lập với Bà la môn giáo cho rằng phải có nhiều yếu tố căn bản kết hợp lại với nhau mới có thể sinh khởi thế giới hiện tượng. Tức họ chủ trương trong nhân chưa chắc đã có tính của quả và phải có nhiều nhân hòa hợp với nhau mới có thể sinh ra quả; bởi thế họ cho rằng tính chất của nhân và quả hoàn toàn không giống nhau. Luận thuyết này cũng có thể được gọi là Trong quả có nhân. Về Nhân quả luận của Phật giáo thì đại khái có thể chia làm 2 hệ thống Đại thừa và Tiểu thừa. Tiểu thừa lấy tông Câu xá làm điển hình, đề ra thuyết Bốn duyên, sáu nhân, năm quả. Đại thừa thì lấy tông Duy thức làm đại biểu, chủ trương thuyết Bốn duyên, mười nhân, năm quả làm nội dung chính yếu của Nhân quả luận, nhưng đối với sự giải thích về 4 duyên, 5 quả thì quan điểm của Đại thừa và Tiểu thừa lại khác nhau. Tông Duy thức cho rằng muôn vật trong vũ trụ đều do chủng tử(hạt giống)hàm chứa trong thức A lại da biến hiện ra; các pháp do chủng tử biến hiện thành phải trải qua mối quan hệ nhân quả 3 pháp 2 lớp là: Chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử, Chủng tử sinh chủng tử, tác dụng xoay chuyển mà biến hiện ra muôn tượng la liệt trong vũ trụ. Trong đó, mối quan hệ Chủng tử sinh chủng tử là quan hệ nhân quả khác thời; còn quan hệ Chủng tử sinh hiện hành, Hiện hành huân chủng tử là quan hệ nhân quả cùng thời. Ngoài ra, trong 6 nhân, 5 quả, thì mối quan hệ giữa nhân Dị thục và quả Dị thục, giữa nhân Đồng loại, nhân Biến hành và quả Đẳng lưu... đều là quan hệ nhân quả khác thời. Còn mối quan hê giữa nhân Câu hữu, nhân Tương ứng và quả Sĩ dụng thì là quan hệ nhân quả cùng thời. Riêng mối quan hệ giữa nhân Năng tác và quả Tăng thượng thì gồm cả nhân quả khác thời và nhân quả cùng thời. Còn mối quan hệ giữa nhân Đồng loại và quả Đẳng lưu thì vì lấy pháp tự loại làm nhân, dẫn sinh ra quả Đẳng lưu đồng loại, nên gọi là Nhân quả tự loại. Những hành vi của chúng sinh có thể mang lại nhân quả khác thời, tức là nghiệp nhân thiện chắc chắn sẽ có quả báo thiện, nghiệp nhân ác ắt sẽ chiêu cảm quả báo ác, đó gọi là Thiện nhân thiện quả, Ác nhân ác quả. Nhưng nói 1 cách chặt chẽ thì phải gọi là Thiện nhân lạc quả, Ác nhân khổ quả. Đó là quả báo do 2 nghiệp thiện ác mang lại, thuộc về tính vô kí không thiện không ác. Còn nói thiện, ác là đặc biệt chỉ cái nhân chắc chắn, nhất định mang lại quả báo, vì thế không nên dùng quả thiện, quả ác để gọi quả báo. Lí nhân quả ấy rõ ràng không rối loạn, gọi là Nhân quả báo ứng. Nếu không thừa nhận sự tồn tại của lí nhân quả mà rơi vào kiến giải phủ định nhân quả, thì gọi là Bát vô nhân quả. Còn nếu đứng trên lập trường thực tiễn tu hành mà bàn về quan hệ nhân quả, thì nhờ nhân tu hành mà được quả thành Phật. Gọi là Tu nhân đắc quả, Tu nhân cảm quả hay Thù nhân cảm quả. Ngoài ra, do nghiệp nhân thiện ác mà mang lại quả báo khổ vui thì đó là mối quan hệ nhân quả giữa nhân Di thục và quả Dị thục. Còn do phúc đức (thiện nghiệp của thế gian) mà chiêu cảm quả vui cõi người, cõi trời, thì đó là quan hệ nhân quả giữa nhân phúc và quả phúc. Lại do tu tập trí tuệ mà được quả báo giác ngộ, thì đó là quan hệ nhân quả giữa nhân trí và quả trí. Ba loại quan hệ nhân quả trình bày trên đây gọi là Tam nhân tam quả. Còn thông thường nói Tam thế nhân quả, Nhân quả báo ứng... thì phần nhiều là chỉ cho mối quan hệ nhân quả giữa nhân Dị thục và quả Dị thục. Hết thảy các pháp đều do lí nhân quả mà sinh thành hoại diệt; sự hiển hiện của 10 cõi mê ngộ là do mối quan hệ nhân quả mà thành, như nhân quả thế gian, nhân quả xuất thế gian v.v... Nếu đứng về phương diện Tứ đế mà nói thì Khổ đế và Tập đế là nhân quả của cõi mê thế gian, còn Diệt đế và Đạo đế là nhân quả của cõi ngộ xuất thế gian. Tóm lại, lí nhân quả này thực sự là giáo lí cơ bản trọng yếu của Phật giáo, trong các kinh thường nói rõ về lí này, đồng thời, dùng lí nhân quả thiện ác báo ứng như bóng theo hình, nối nhau không dứt để khuyên người đới gắng sức bỏ ác làm lành, tu hành Phật đạo, để mau thoát khỏi cảnh giới hữu lậu khổ đau mà đạt đến cảnh giới vô lậu yên vui. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Câu xá Q.6; luận A tì đạt ma phát trí Q.1, 15; luận Đại tì bà sa Q.10, 11, 16; luận Du già sư địa Q.5, 38; luận Hiển dương thánh giáo Q.18; luận Thành duy thức Q.3, 7, 8; Đại thừa nghĩa chương Q.3, 4]. (xt. Thập Nhân, Ngũ Quả, Lục Nhân, Tứ Duyên, Nhân, Chủng Tử).
tịnh độ
(淨土) Gọi đủ: Thanh tịnh độ, Thanh tịnh quốc độ, Thanh tịnh Phật sát. Cũng gọi: Tịnh sát, Tịnh giới, Tịnh phương, Tịnh vực, Tịnh thế giới,Tịnh diệu độ, Diệu độ, Phật sát, Phật quốc. Đối lại: Uế độ, Uế quốc. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh, là nơi an trụ của Phật. Trái lại, những nơi mà chúng sinh cư trú có các phiền não ô uế nên gọi là Uế độ, Uế quốc. Tịnh độ là giáo thuyết nói trong các kinh Đại thừa, còn Tiểu thừa thì lấy Niết bàn vô dư thântro trí bặt làm lí tưởng nên không có thuyết này. Vì Phật giáo Đại thừa cho rằng Niết bàn có tác dụng tích cực, chư Phật đã được Niết bàn, mỗi vị đều ở Tịnh độ của mình giáo hóa chúng sinh, cho nên hễ nơi nào có Phật an trụ thì đó là Tịnh độ.

Kinh A súc Phật quốc quyển thượng, kinh Phóng quang bát nhã quyển 19, kinh Vô lượng thọ quyển thượng,... đều cho rằng Tịnh độ là thế giới thanh tịnh trang nghiêm do chư Phật kiến lập bằng những công đức đã được tích lũy trong vô lượng vĩnh kiếp khi các Ngài hành đạo Bồ tát ở địa vị tu nhân, đã khởi thệ nguyện tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng thì cho rằng hễ tâm tịnh thì độ tịnh, thế giới Sa bà tức là tịnh độ Thường tịch quang. Nếu tâm chúng sinh bất tịnh thì cõi này chính là cõi uế ác bất tịnh, còn chỗ Phật thấy thanh tịnh thì trở thành vô lượng công đức trang nghiêm. Tịnh độ Linh sơn của kinh Pháp hoa, thế giới liên hoa tạng của kinh Hoa nghiêm, Tịnh độ Mật nghiêm của kinh Đại thừa mật nghiêm... đều lấy thuyết Tâm tịnh độ tịnh làm gốc. Còn kinh Vô lượng thọ thì nói rằng ngoài thế giới Sa bà ra còn có các Tịnh độ khác, cũng có Tịnh độ ở vị lai được thành tựu mỗi khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật, 2 loại Tịnh độ này đều là các cõi nước được hoàn thành sau khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật qua giai đoạn tu nhân theo bản nguyện của mình, là nơi chúng sinh nguyện sinh về. Còn các Tịnh độ ở các phương khác thì có thế giới Cực lạc ở phương Tây của đức Phật A di đà, thế giới Diệu hỉ ở phương Đông của đức Phật A súc, thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông của đức Phật Dược sư,...

Vì các Tịnh độ của chư Phật nói trên cách thế giới Sa bà với một phương vị nhất định nên gọi là Thập phương tịnh độ.Thế giới Cực lạc (Phạm: Sukhàvatì) cũng gọi Diệu lạc, An lạc, An dưỡng, Lạc bang, là Tịnh độ ở phương Tây rất được tông Tịnh độ xem trọng. Tịnh độ này là chỉ cho Báo độ do Bồ tát tu nhân hạnh mà cảm được quả báo; hoặc chỉ cho Ứng hóa độ mà đức Phật giả hiện ra để cứu độ chúng sinh; hoặc chỉ cho Tịnh độ có thật ở phương Tây cách thế giới Sa bà hơn 10 vạn ức Phật độ; hoặc lại chỉ cho Tịnh độ hiện ra trong tâm chúng sinh. Ngoài ra, Tịnh độ còn có Biên địa, Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới,... là Hóa độ dành cho các người còn hoài nghi Phật trí sinh đến. Tông Tịnh độ cho rằng Báo độ thực tại ở phương Tây, những người sinh về cõi này sẽ được hưởng 10 điều lợi lạc sau đây: 1. Thánh chúng đến đón: Lúc lâm chung được đức Phật A di đà và 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đến đón về Tịnh độ. 2. Hoa sen vừa mới nở: Gá sinh trong hoa sen sinh về Tịnh độ, cho nên lúc hoa sen vừa mới nở thì liền được thấy cõi Tịnh độ rất trang nghiêm thanh tịnh. 3. Thân tướng có thần thông: Thân được 32 tướng tốt đẹp và 5 thứ thần thông như Thiên nhãn,... 4. Năm cảnh giới vi diệu: Được 5 cảnh thù thắng sắc, thanh, hương, vị, xúc. 5. Vui sướng vô lượng: Được hưởng các niềm vui vô tận. 6. Tiếp dẫn kết duyên: Được những ân nhân kết duyên từ trước thân đến Tịnh độ đón tiếp. 7. Thánh chúng cùng hội họp:Các chúng Bồ tát đều đến nhóm họp ở một chỗ.8. Thấy Phật nghe pháp: Sinh về Tịnh độ được thấy đức Phật và nghe Ngài nói pháp. 9. Tùy tâm cúng dường Phật: Tùy tâm cúng dường chư Phật ở 10 phương. 10.

Tăng tiến Phật đạo: Tu hành tinh tiến, cuối cùng chứng được quả Phật. Về vị trí Tịnh độ, sự trang nghiêm, chủng loại dân cư,... các kinh nói không giống nhau, vì khi còn ở địa vị tu nhân, các vị Bồ tát phát nguyện không đồng. Nếu đứng trên lập trường sử học mà nhận xét sự miêu tả khác nhau giữa Tịnh độ của Phật A súc và Tịnh độ của Phật A di đà thì có thể thấy được sự biến thiên của một loại phát triển, như cõi Phật A súc có người nữ, nhân dân đều mặc y phục được lấy ra từ cây, có 3 đường thềm báu đi suốt đến cõi trời Đao lợi, có thể xem đây là tư tưởng tương đối sớm. Tịnh độ của đức Phật A di đà thì không có người nữ, đều là hóa sinh, được thân thể hư vô tự nhiên. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ thì cho Tịnh độ là xứ sở vi diệu ở ngoài 3 cõi. So sánh sự hơn, kém khác nhau giữa các Tịnh độ của chư Phật, trong các kinh đều có ghi chép.

Về chủng loại Tịnh độ, ở thời đại ngài Vô trước (khoảng thế kỷ IV, V) có thuyết 3 thân là Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân. Thân biến hóa của Phật thị hiện 8 tướng ở Uế độ,thân Thụ dụng trụ trong thế giới Liên hoa tạng có 18 thứ viên mãn thanh tịnh, tức tùy theo Báo thân, Hóa thân của Phật mà có thanh tịnh, ô uế khác nhau. Luận Duy thức quyển 10 có thuyết Tứ thân tứ độ(4 thân 4 cõi); Đại thừa nghĩa chương quyển 19 chia Tịnh độ làm 3 loại là Sự tịnh độ, Tướng tịnh độ và Chân tịnh độ; Duy ma kinh lược sớ quyển 1 thì lập 4 loại Tịnh độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và Thường tịch quang độ. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, y cứ vào sự bất đồng giữa Tam thừa và Nhất thừa mà nói các Tịnh độ khác nhau. (xt. Phật Độ, Cực Lạc Thế Giới).
như lai
(如來) Phạm, Pàli: Tathàgata. Hán âm: Đa đà a già đà, Đa tha a già độ, Đa đà a già độ, Đát tát a kiệt, Đát tha nga đa, Đa a kiệt. Cũng gọi Như khứ. Từ ngữ tôn xưng đức Phật, là 1 trong 10 hiệu của Phật. Tiếng Phạm Tathàgata có thể được chia làm 2 là:Tathà-gata(Như khứ)và Tathà-àgata(Như lai). Nếu theo cách thứ nhất thì có nghĩa là noi theo đạo Chân như mà đến quả Phật Niết bàn, cho nên gọi là Như khứ; còn nếu theo cách thứ 2 thì có nghĩa là từ chân lí mà đến (như thực mà đến)và thành Chính giác, cho nên gọi là Như lai. Vì đức Phật theo chân lí mà đến và từ chân như mà hiện thân, nên tôn xưng Ngài là Như lai. Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 (Đại 1, 75 hạ) nói: Từ khi thành đạo đến lúc vào Niết bàn, trong suốt khoảng thời gian ấy, đức Phật nói ra điều gì cũng đều như thực, cho nên gọi là Như lai. Lại nữa, những điều đức Như lai nói đều đúng lí Như, cho nên gọi là Như lai. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 454 hạ) nói: Tu hành 6 Ba la mật được thành Phật đạo (...) nên gọi là Như lai. Trí biết tất cả các pháp Như, từ trong Như đến, nên gọi là Như lai. Trường bộ kinh chú (Sumaígalavilàsinì) tiếngPàlinêu ra 9 nghĩa của từ Như lai; luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 thì nêu 11 nghĩa. Còn kinh Đại bảo tích quyển 90, kinh Đại uy đức đà la ni quyển 13, phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2... cũng đều nêu ra nhiều nghĩa khác nhau. Lại theo luận Thành thực quyển 1 và Hành tông kí quyển thượng, thì người noi theo đạo chân như đến mà thành Chính giáo, là Chân thân Như lai, còn người theo đạo chân như đến để hóa độ chúng sinh trong 3 cõi, là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai y cứ vào từ ngữ Thừa như thực đạo lai thành chính giác trong luận Thành thực quyển 1, để giải thích nghĩa Chân thân Như lai và Ứng thân Như lai, gọi là Nhị Như Lai. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì: Thừa(trí như như)như thực(cảnh như như) đạo(nhân)lai thành Chính giác (quả), nghĩa là nhân, cảnh và trí khế hợp, công quả tròn đầy, đó là Chân thân Như lai; còn dùng trí như thực noi theo đạo như thực(cảnh và trí khế hợp)mà đến 3 cõi để thị hiện 8 tướng thành đạo thì là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai còn y cứ vào từ ngữ Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết trong luận Đại trí độ quyển 2 mà giải thích nghĩa Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, gọi là Tam Như Lai. Theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì nghĩa Tam Như Lai là: Trùm khắp mọi nơi mà không sai khác là Như; không động mà ứng hiện đến khắp mọi nơi là Lai: Đây chỉ cho pháp thân Như lai. Từ lí gọi là Như, từ trí là Lai: Đây chỉ cho Báo thân Như lai. Cảnh và trí thầm hợp là Như, đi đến 3 cõi quay bánh xe pháp mà nói diệu pháp là Lai: Đây chỉ cho Ứng thân Như lai. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Thập hiệu; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; luận Đại trí độ Q.10, 21, 70, 72, 85; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ; phẩm Bồ đề trong luận Du già sư địa Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1]. (xt. Thập Hiệu).
pháp nhẫn
(法忍) Nhẫn là chỉ cho sự chịu đựng những cảnh trái ngược mà trong lòng không sinh khởi sân hận. Còn Pháp nhẫn là đối với các pháp nghĩa sâu xa, mầu nhiệm được nói trong các kinh, chẳng những không sợ hãi mà còn siêng năng học tập, đọc tụng. Là 1 trong Nhị nhẫn, 1 trong Tam nhẫn, 1 trong Lục nhẫn, 1 trong Thập nhẫn. Đại thừa nghĩa chương quyển 11 (Đại 44, 685 trung) nói: An trụ trong thực tướng các pháp gọi là Nhẫn. Pháp nhẫn thông thường được chia làm 2 loại: Khổ pháp nhẫn và Đạo pháp nhẫn, Khổ pháp nhẫn là chỉ cho sự tin chịu lí Khổ đế ở cõi Dục khi vào giai vị Kiến đạo. Còn Đạo pháp nhẫn là chỉ cho sự tin chịu lí Đạo đế ở cõi Dục khi tiến vào giai vị Kiến đạo. Ngoài ra, hàng Bồ tát Đại thừa ở giai vị Kiến đạo của Sơ địa tin chịu lí vô sinh, thì gọi là Vô sinh pháp nhẫn. (xt. Nhị Nhẫn, Thập Nhẫn, Tam Nhẫn, Lục Nhẫn, Nhẫn).
lý thông huyền
(李通玄) (635-730) Học giả Hoa nghiêm Trung quốc, sống vào đời Đường, người Thương châu (huyện Thương, Hà bắc), dòng dõi vua chúa. Ông bẩm tính thông minh, tinh thông cả Nho và Phật, ông thích nơi rừng núi, xa lánh sự ồn ào của thành thị. Năm Khai nguyên thứ 7 (719), ông ở ẩn trong căn nhà bằng đất trong núi Thọ dương phương thuộc phủ Thái nguyên, chuyên tâm nghiêm cứu kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới). Suốt mấy năm ở trong núi, hằng ngày ông chỉ dùng quả táo và lấy lá cây bách làm thức ăn, nên người đời gọi ông là Tảo bách Đại sĩ. Tháng 3 năm Khai nguyên 18 (730), ông ngồi trong khám thất mà hóa, thọ 96 tuổi. Vua Huy tông nhà Tống ban hiệu: Hiển Giáo Diệu Nghiêm Trưởng Giả. Ông để lại các tác phẩm: Tân Hoa nghiêm kinh luận, 40 quyển, Hoa nghiêm kinh hội thích luận, 14 quyển, Lược thích tân Hoa nghiêm kinh tu hành thứ đệ quyết nghi luận, 4 quyển, Lược thích, 1 quyển, Thích giải mê hiển trí thành bi thập minh luận, 1 quyển, Thập huyền lục tướng, Bách môn nghĩa hải, Phổ hiền hành môn, Hoa nghiêm quán. [X. Hoa nghiêm kinh quyết nghi luận tự cập hậu kí; Hoa nghiêm kinh hợp luận quyển thủ Lí trưởng giả sự tích; Hoa nghiêm luận tiết yếu quyển mạt hành trạng; Tống cao tăng truyện Q.22; Phật tổ thống kỉ Q.40; Phật tổ lịch đại thông tải Q.13; Đường Lí trưởng giả Thông huyền hành tích kí; Chiêu hóa tự thiếp; Chiêu hóa tự Lí trưởng giả khám kí (3 bộ trên được thu vào Kim thạch tục biên Q.17)].
bồ tát
(菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…...

Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…...

Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...

Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).
thích ca
(釋迦) Phạm:Zàkya. Hán dịch: Năng nhân. Dòng họ của đức Phật, 1 trong 5 họ của Ngài. Tộc Thích ca là 1 trong các dân tộc ở Ấn độ đời xưa, thuộc giai cấp Vũ sĩ, là con cháu của vua Cam giá (Phạm: Jkwvàka) thuộc hệ thống Nhật chủng (Phạm:Sùryavaôsa). Đức Phật xuất thân từ chủng tộc này, cho nên gọi là Thích ca mâu ni (Phạm: Zàkya-muni, tức là bậc Thánh của chủng tộc Thích ca).

Cực Lạc Thế Giới
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Y Chánh Cõi Cực Lạc
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc

Pháp Môn Tịnh Độ
Hòa Thượng Thích Tịnh Không