Trích Dẫn Lược Luận An Lạc Tịnh Ðộ Nghĩa Của Ðàm Loan Đại Sư
Mao Lăng Vân | Dịch Giả :Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa

Ví như có người ở chỗ khuất khúc nơi đồng hoang gặp phải oán tặc vung gươm hùng hổ chạy thẳng đến toan giết. Người ấy rảo chạy, thấy phải vượt sông. Nếu vượt được sông thì đầu cổ mới còn. Lúc bấy giờ, chỉ nghĩ phương cách vượt sông: “Ta đến bên bờ sông, mặc áo mà lội, hay là cởi áo mà bơi? Nếu vẫn mặc áo, sợ chẳng qua nổi. Nếu cởi áo ra, e không kịp nữa!” Chỉ có ý niệm ấy, không còn duyên nào khác. Nghĩ cách nào vượt được sông chính là nhất niệm. Dụng tâm chẳng tạp như vậy thì gọi là thập niệm tiếp nối.

Hành giả cũng vậy, niệm A Di Ðà Phật như kẻ kia nghĩ cách vượt sông trong suốt mười niệm. Nếu niệm danh hiệu Phật mà không có tâm nào khác xen tạp, tâm tâm tiếp nối nhau cho đến mười niệm liên tiếp. [Ðiều này] tựa hồ chẳng khó, nhưng tâm phàm phu như ngựa hoang, thức còn quá khỉ vượn, rong ruổi sáu trần, chẳng thể tạm ngưng nghỉ. Hãy nên dốc lòng tin, tự hoạch định niệm sẵn để tích tập thành tánh, thiện căn kiên cố vậy. Như đức Phật bảo vua Tần Bà Sa La: “Người tích thiện hạnh, chết không có ác niệm; như cây đã ngả về Tây, lúc đổ, ắt sẽ rạp về Tây”. Giả sử một phen phong đao xảy đến, trăm nỗi khổ bức thân; nếu chẳng sẵn quen tập tành từ trước thì làm thế nào được?

Lại nên có năm ba người cùng chí hướng, ước hẹn với nhau, lúc sắp lâm chung, họ sẽ đến giảng giải, vì mình xưng niệm danh hiệu A Di Ðà Phật, nguyện sanh An Lạc, từng tiếng tiếp nối khiến thành mười niệm. Lúc đoạn mạng ấy, một phen vào ngay Chánh Ðịnh Tụ, còn lo nỗi gì!

Nhận định:

Ðại Sư minh thị: Mười niệm tiếp nối liền được vãng sanh, nhưng cần phải dùng tâm chí tín, tự hạn định số lượng mà niệm sẵn khiến cho thành tánh, thiện căn kiên cố và mời bạn đồng chí lúc lâm chung đến trợ niệm khiến mười niệm được thành. Ðủ thấy rõ mười niệm chẳng phải là chuyện dễ, xin hãy tận hết sức tuân hành, chớ xem thường.

 
Trích từ: Niệm Phật Pháp Yếu

Từ Ngữ Phật Học
thập niệm
(十念) I. Thập Niệm. Cũng gọi Thập tùy niệm. Chỉ cho 10 pháp cần phải nhớ nghĩ ghi trong kinh Tăng nhất a hàm quyển 1, đó là: Niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên, niệm hưu tức(tức ngăn dứt các tư tưởng động loạn của tâm ý), niệm an ban(đếm hơi thở), niệm thân vô thường và niệm tử (nghĩ đến sự chết). II. Thập Niệm. Chỉ cho 10 niệm xưng danh. Nguyện thứ 18 trong kinh Vô lượng thọ quyển thượng có câu (Đại 12, 268 thượng): Dù chỉ 10 niệm, kinh Quán vô lượng thọ cũng nói (Đại 12, 346 thượng): Đầy đủ 10 niệm xưng Nam mô A di đà Phật, tức 2 kinh đều nói 10 niệm niệm Phật liền được sinh về cõi Tịnh độ của Phật A di đà. Đây là căn cứ quan trọng về giáo nghĩa của tông Tịnh độ. Về sự giải thích Thập niệm, các Luận sư cócácthuyết khác nhau. Cứ theo Vãng sinh luận chú quyển thượng của ngài Đàm loan thì 10 niệm nói trong Quán kinh (kinh Quán vô lượng thọ) là nhớ nghĩ tổng tướng và biệt tướng của đức Phật A di đà; lại khi xưng niệm danh hiệu Ngài, không xen lẫn tư tưởng khác, chỉ chuyên tâm trì niệm liên tục, thì có thể nhờ đó mà hoàn thành nhân vãng sinh, vì thế nên có thuyết Không cần phải đủ 10 niệm. Ngài Thiện đạo giải thích 10 niệm là 10 tiếng xưng danh, Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập của ngài Nguyên không, người Nhật, thừa kế thuyết này, cho rằng các vị Luận sư y cứ vào Thập niệm trong kinh Quán vô lượng thọ mà chủ trương phải đủ số 10 niệm mới có thể vãng sinh, đây là thuyết Thập niệm vãng sinh. Nhưng 10 niệm của ngài Thiện đạo là chỉ cho việc xưng danh hiệu Phật trong 1 đời cho đến xưng danh chỉ 1 tiếng cũng đều được vãng sinh, vì thế mới lập thuyết Niệm Phật vãng sinh. Lại niệm và thanh giống nhau, cho nên 10 niệm, 1 niệm cũng gọi là Thập thanh, nhất thanh. Các Luận sư khác đối với Thập niệm cũng có nhiều thuyết, như trong Vô lượng thọ kinh tông yếu của ngài Nguyên hiểu có các từ ngữ Hiển liễu thập niệm(10 niệm rõ ràng), Ẩn mật thập niệm(10 niệm kín đáo) và cho rằng 10 niệm trong Quán kinh là hiển liễu, 10 niệm như Từ... là ẩn mật; còn 10 niệm trong nguyện thứ 18 của kinh Vô lượng thọ thì vừa hiển liễu vừa ẩn mật. Ngài Nghĩa tịch cho rằng mỗi lần xưng niệm 6 chữ Nam mô A di đà Phật, gọi là 1 niệm; Thần triêu thập niệm pháp của ngài Tuân thức đời Tống có nói về thuyết 10 niệm hơi thở như sau (Đại 47, 210 trung): Người tu tịnh nghiệp hằng ngày vào buổi sáng sớm sau khi phục sức chỉnh tề, đứng chắp tay xoay mặt về hướng tây, niệm liên tiếp A di đà Phật, hết một hơi là một niệm, cứ như thế 10 hơi gọi là 10 niệm, nhưng tùy theo hơi dài ngắn, chứ không giới hạn ở số câu niệm Phật. Còn Bí tạng kí của ngài Không hải thì giải thích nghĩa Thập niệm là Thập ba la mật. III. Thập Niệm. Chỉ cho việc nhớ nghĩ 10 pháp Từ, Bi, Hộ pháp... để được vãng sinh Tịnh độ nói trong kinh Di lặc sở vấn. Kinh Đại bảo tích quyển 92 cũng có thuyết này và gọi là Niệm Phật thập chủng tâm. IV. Thập Niệm. Chỉ cho 10 niệm mà Bồ tát phải nhớ nghĩ được ghi trong kinh Bồ tát thụ trai, đó là: Niệm Phật quá khứ, niệm Phật vị lai, niệm Phật hiện tại ở tất cả 10 phương, niệm Thi la ba la mật(giới), niệm Thiền ba la mật, niệm Âu hòa câu xá la (phương tiện), niệm Bát nhã ba la mật, niệm Thiền tam muội lục vạn Bồ tát ở trụ xứ của Phật A di đà và niệm Hòa thượng A xà lê ở quá khứ, đương lai và hiện tại. Mười niệm này của Bồ tát là để đối lại với 10 niệm của pháp Thanh văn Tiểu thừa đã nói ở trên.
tần bà sa la vương
(頻婆娑羅王) Tần bà sa la, Phạm,Pàli:Bimbisàra. Cũng gọi Tần tì sa la vương, Tần đầu sa la vương, Tần phù bà vương, Dân di sa la vương, Bình sa vương. Hán dịch: Ảnh thắng vương, Ảnh kiên vương, Nhan mạo đoan chính vương, Đế thực vương, Quang trạch đệ thất vương, Hảo nhan sắc vương, Hình lao vương. Vua nước Ma kiệt đà, sống cùng thời với đức Thích tôn, thuộc đời thứ 5 của vương triều Tây tô nạp gia ( P h a m : Saizunàga), Hoàng hậu là phu nhân Vi đề hi (Pàli: Vedehì), có Thái tử tên là A xà thế (Phạm: Ajàtazatra). Vua và Hoàng hậu đều qui y đức Phật, thâm tín Phật pháp. Trước khi đức Phật thành đạo, vua từng thỉnh cầu Ngài khi nào thành đạo thì đến thành Vương xá để nhận sự cúng dường của vua, đức Thế tôn im lặng nhận lời. Sau khi chứng đắc quả Phật, đức Thế tôn đến thành Vương xá thuyết pháp, nhà vua bèn xây cất tinh xá Trúc lâm tại Ca lan đà cúng dường Phật và đệ tử để an trụ, cúng dường tăng già, hộ trì Phật pháp, là người ngoại hộ đầu tiên. Về già, vua tôn trí tóc, móng tay... của đức Phật ở tháp trong cung điện để lễ bái. Sau vua bị Thái tử A xà thế cướp ngôi và chết trong ngục. [X. kinh Tần tì sa la vương nghinh Phật trong Trung a hàm Q.11; phẩm Xuất gia trong kinh Tu hành bản khởi Q.hạ; phẩm Sư tử hốngbồ tát trong kinh Niết bàn Q.39 (bản Bắc); luật Tứ phần Q.33; luận Đại trí độ Q.2; luận Câu xá Q.29; Đại đường tây vực kí Q.8].