Ý chính của Tây Phương tự có trình bày trong kinh.  Các luận đã giải thích đầy đủ về pháp môn tinh yếu của Tịnh Độ.  Các vị Thiên Thân, Trí Giả, Hải Đông, Việt Khê, v.v…đều vạch rõ chỗ sâu kín, nhiệm mầu để biểu dương tông chỉ.  Gần đây, hòa thượng Vân Thê có soạn ra Tiểu bổn sớ sao, phân tích ra từng điều, từng loại, giải thích thật uyên bác, tinh vi.  Thật là cây đuốc lớn soi đường trong đêm dài tăm tối, là chiếc thuyền nhẹ lướt qua biển khổ dập dồn.  Những điều mà các đại sư đã phát huy thì không có dư thừa, chỉ dựa vào các kinh tùy thời lập giáo.  Vì thuyết nghĩa hợp với căn cơ, cho nên mỗi thời có khác biệt đến nỗi sinh ra mối nghi ngờ cho học giả.  Nay tôi trình bày đại khái những điều được tuyển chọn trong các luận, dựa vào cái thấy hạn chế ở tôi dung hội về một chỗ để tiện cho việc tham khảo.

  1. Giải thích về cõi nước xa hay gần.
  2. Giải thích về thân, thành lớn hay nhỏ.
  3. Giải thích về lượng tuổi nhiều hay ít.
  4. Giải thích về hoa sen như bánh xe lớn hay nhỏ.
  5. Giải thích về mặt trời, mặt trăng có hay không.
  6. Giải thích về nhị thừa có hay không.
  7. Giải thích về phụ nữ có hay không.
  8. Giải thích về sự phát tâm lớn hay nhỏ.
  9. Giải thích về nghi thành thai sinh.
  10. Giải thích về người phạm tội ngũ nghịch được vãng sinh.

1- Giải thích về cõi nước xa hay gần

Hỏi: Kinh Vô Lượng Thọ, kinh A Di Đà đều nói: “Tây phương Cực Lạc cách đây mười vạn ức cõi”.  Quán kinh chỉ nói: “Phật A Di Đà cách đây không xa”.  Như vậy, hai thuyết trên thuyết nào đúng?

Giải thích: Do khoảng cách xa, gần không cố định cho nên nói cũng xa, cũng gần.  Tại sao vậy?  Vì nói về một phương nào đó tức là nói từ phương này đến phương kia cách xa bao nhiêu thành phố?  Bao nhiêu thị trấn?  Đó là căn cứ vào sắc thân để thành lập.  Nhưng vì thân tướng hư vọng, cho nên sự suy lường về phương hướng, số dặm của đường đi cũng đều không thật.  Do đó, không được nói nơi nào gần?  Nơi nào xa?  Như người ở Vân Nam cho đất Yên vời vợi xa xôi.  Đó là từ Vân Nam mà suy lường, chứ đất Yên không có xa xôi.  Người nước Tề cho đất Yên rất gần.  Đó là từ nước Tề mà suy lường, chứ đất Yên không có gần.  Lại như khoảng cách mười bước, con kiến cho là xa, nhưng con voi cho là gần.  Do đó, không nên nói khoảng cách xa, gần là thật.  Tại sao vậy?  Vì khoảng cách xa, gần không phải căn cứ vào sự suy lường của con kiến, con voi.  Vậy thì sự suy lường về khoảng cách mười bước cũng không thật.  Tại sao vậy?  Vì khoảng cách đó không phải căn cứ vào sự suy lường của con kiến, con voi, con người.  Luận Trí độ ghi: “Tùy theo thói quen của người thế tục mà nói có phương hướng, chứ phương hướng không có bản chất chân thật”.

Hỏi: Tại sao Ngài nói không có phương hướng?  Phương hướng kia cũng có, mà cũng thường còn.  Trong kinh, Phật nói: “Nơi mặt trời mọc là phương Đông, nơi mặt trời lặn là phương Tây, nơi mặt trời vận hành là phương Nam, nơi mặt trời không vận hành là phương Bắc”.  Như vậy, một ngày có ba phần họp: đầu tiên họp, giữa họp, sau cùng họp.  Sự phân chia cũng tùy thuộc vào phương mặt trời:  nơi đầu tiên họp là phương Đông, kế đến là phương Nam, phương Tây.  Nơi mà mặt trời không vận hành là nơi vô phần.

Đáp: Thật ra không phải như vậy. Núi Tu Di ở giữa bốn khu vực. Mặt trời xoay quanh núi Tu Di và tỏa chiếu khắp bốn thiên hạ. Mặt trời đứng bóng ở Uất Đát La Việt; chính khi ấy, mặt trời mọc ở Phất Bà Đề và người Phất Bà Đề cho là phương Đông.  Mặt trời đứng bóng ở Phất Bà Đề; chính khi ấy, mặt trời mọc ở cõi Ta Bà và người ta cho là phương Đông. Xét cho cùng thì không có phương đầu tiên. Tại sao vậy?  Vì tất cả phương đều là phương Đông, đều là phương Nam, đều là phương Tây, đều là phương Bắc. Ông nói rằng nơi mặt trời mọc là phương Đông, nơi mặt trời lặn là phương Tây, nơi mặt trời vận hành là phương Nam, nơi mặt trời không vận hành là phương Bắc. Điều đó không đúng.

Hỏi: Tôi nói cái tướng của phương hướng trong một nước, còn Ngài lại lấy bốn nước để hỏi lại.  Vì lý do đó, cho nên phương Đông chính là nơi mặt trời mọc.

Đáp: Trong một nước, nếu cho mặt trời mọc ở phương Đông thì đó là bờ mé hữu vi.  Vì có bờ mé, cho nên có sự vô thường.  Vì có vô thường, cho nên không có trùm khắp.  Chính vì thế, chỉ có mệnh danh phương hướng, chứ phương hướng không có bản chất chân thật.  Phương hướng đã không có bản chất chân thật thì đâu có con đường vận hành, nhưng cũng không nên phế bỏ chỗ của phương hướng và con đường vận hành.  Tại sao vậy?  Vì không nên căn cứ vào cõi Ta Bà mà suy lường nhưng cũng có thể ngay cõi Ta Bà mà suy lường, như mặt trời tuy không mọc ở phương Đông, không lặn ở phương Tây nhưng cũng có thể nói rằng mặt trời mọc ở phương Đông, lặn ở phương Tây.

2- Giải thích về thân, thành lớn hay nhỏ

Hỏi: Kinh Thanh vương ghi: “Phật A Di Đà cùng với thanh văn tập hợp tại cõi nước được mệnh danh là Thanh Thái. Thánh vương cư trú thành kia ngang, dọc mười ngàn do tuần”. Quán kinh ghi: “Thân Phật cao sáu mươi vạn ức trăm triệu hằng sa do tuần. Tướng lông trắng chặng giữa chân mày thì uyển chuyển, xoáy tròn về bên phải như năm ngọn núi Tu Di. Mắt Phật rộng lớn bao la bát ngát như nước của bốn biển”. Bây giờ tính một biển cả rộng tám vạn bốn ngàn do tuần. Như vậy, bốn biển cả rộng ba mươi ba vạn sáu ngàn do tuần. Thân Phật to lớn hơn mắt kia là năm trăm sáu mươi do tuần. Nếu tính oán thì thành kia nhỏ hơn mắt Phật là ba mươi hai vạn sáu ngàn do tuần, huống chi thân Phật. Chẳng lẽ thân, thành rất chênh lệch như thế sao?

Đáp: Trong sớ của ngài Hải Đông cũng có nêu câu hỏi này. Sớ ghi: “Phật kia có rất nhiều thành. Tùy theo chúng lớn, nhỏ mà thành cũng lớn, thành cũng lớn, nhỏ. Thành lớn thì hiện bày với thân to lớn, thành nhỏ thì hiện bày với thân nhỏ”.  Kinh Thanh vương nói mười ngàn do tuần chính là chiều ngang, dọc của thành với thanh văn cùng cư trú.  Nên biết, thân Phật tương đương mà cư trú.  Kinh Quán Vô Lượng Thọ nói rằng, thân cao lớn thì thành kia cũng rộng lớn để cho các đại chúng đều có chỗ cư trú. Tiên đức nói: “Trong kinh Pháp hoa, cõi Tịnh Quang Trang Nghiêm chỉ diễn bày về đốn giáo. Trong kinh Tịnh Danh, cõi Phật Chúng Hương toàn là bồ tát.  Cho nên, Phật kia chỉ hiện thân cao lớn”.

Nếu đốn giáo, tiệm giáo đều được tuyên thuyết trong cõi nước An Dưỡng thì thanh văn, bồ tát đều là tăng.  Giả sử Phật hiện bày hai thứ tướng là sinh thân và pháp thân thì ba mươi hai tướng thuộc về sinh thân; cả chúng tiểu thừa, đại thừa đều trông thấy. Nếu tám vạn tướng thuộc về pháp thân thì bậc hiền thánh đại thừa mới trông thấy được.  Cho nên, người đáng dùng tướng thắng ứng thân, liệt ứng thân để được bốn điều lợi ích, thì vì xứng hợp với căn cơ nên Phật hiện tướng thắng ứng thân, liệt ứng thân.  Người đáng dùng tám vạn tướng thắng ứng thân để được bốn điều lợi ích, thì vì xứng hợp với căn cơ nên Phật hiện tám vạn tướng thắng ứng thân.  Người đáng dùng ba mươi hai tướng liệt ứng thân để được bốn điều lợi ích, thì vì xứng hợp với căn cơ nên Phật hiện ba mươi hai tướng liệt ứng thân, như Tỳ lô giá na tuy thanh văn được nghe nói đến nhưng không được diện kiến tôn nhan.  Còn bồ tát thấy được thân to lớn, nhưng vẫn không có trở ngại gì.  Tại sao vậy?  Vì thân Phật ứng hợp giáo hóa tùy theo căn cơ đại thừa hay tiểu thừa, như ánh sáng mặt trời xuyên qua kẽ hở nên có phần lớn, phần nhỏ; chứ thật ra ánh sáng kia vốn không chia thành lớn nhỏ gì.

3- Giải thích về lượng tuổi nhiều hay ít

Kinh ghi: “Mạng sống của Phật kia lâu đến vô lượng vô số kiếp”.  Lại nói rằng: “Đến khi Phật kia nhập niết bàn, bồ tát Quan Thế Âm mới thành Phật”.  Nói rồi sẽ nhập diệt tức là có hạn lượng.

Giải thích: Tiên đức nói: “Bồ tát bổ xứ (bồ tát còn tu tập một đời nữa thì thành Phật) theo tạng giáo, thông giáo cho rằng Phật có hạn lượng. Bồ tát bổ xứ theo biệt giáo, viên giáo cho rằng Phật không có hạn lượng, vì tất cả Như Lai trong mười phương, ba đời, không có kia, đây đối đãi nhau, vì đồng một pháp thân, đồng một trí tuệ”. Nếu cơ duyên của bồ tát hết thì bắt đầu dấu hiệu ứng thân của Như Lai;  gọi là bổ Phật xứ thật khác với tạng giáo, thông giáo cho rằng đức Phật trước nhất định nhập diệt, đức Phật sau nhất định giáng sinh. Kinh Kim quang minh ghi: “Có bốn đức Phật xuống cung điện”. Sớ lại giải thích rằng: “Nếu thấy bốn đức Phật đồng một thắng ứng thân, đồng một thân, đồng một trí tuệ thì đó là thân thường trụ, vì chúng đệ tử chỉ có một. Nếu thấy bốn đức Phật mà thân Phật khác nhau thì đó là thân ứng, hóa, vì chúng đệ tử đông nhiều”. Nên biết, toàn thân pháp giới không sinh không diệt. Đâu được đứng về phương diện thời gian để phân chia hiện tại, vị lai. Đâu được đứng về phương diện không gian để bàn luận chỗ này, chỗ kia. Thân pháp giới đã không sinh không diệt thì cái nghĩa vô lượng được thành lập.  Hơn nữa, cõi Phật thanh tịnh thì nước, cây, vô lượng thế giới nhiều như số bụi bặm đều là thân Phật. Kinh ghi: “Các loài chim kia đều do Phật A Di Đà biến hóa ra”. Luận Trí độ ghi: “Chúng sinh có rất nhiều, nếu chỗ nào Phật cũng hiện thân thì chúng sinh không tin, cho là huyễn hóa, tâm không kính trọng. Có chúng sinh từ con người nghe pháp thì tâm không tỏ ngộ, nhưng nếu từ súc sinh mà nghe pháp thì liền tin tưởng, tiếp nhận”. Kinh Bổn sinh ghi: “Bồ tát mang thân  hình súc sinh, vì người thuyết pháp. Người cho sự thuyết pháp thật là ít có, không thể không tin tưởng, tiếp nhận. Có người cho súc sinh là vật hữu tình, cho rằng cây cối vô tình mà có tiếng thuyết pháp thì đềư tin nhận”.

Vì lý do ấy. cho nên nước, cây, loài chim đều là thân Phật biến hiện.  Số lượng tuổi của Phật nếu có cùng tận thì đạo tràng, cõi nước, các thứ âm thanh của nước, của chim cũng phải có cùng tận.  Nếu có cùng tận thì không nên nói có bổ xứ.  Nếu không có cùng tận thì không nên nói dứt hết như phạm vi của hư không, chẳng phải có phạm vi mà cũng chẳng phải không có phạm vi.  Vận dụng trí không  thể nghĩ bàn chiếu soi điều đó thì mới có thể được.

4- Giải thích về hoa sen như bánh xe lớn hay nhỏ

Kinh A Di Đà ghi: “Trong ao, hoa sen lớn như bánh xe”. Kinh Quán Vô Lượng thọ ghi: “ Trong ao nào cũng đều có sáu mươi ức hoa sen bằng bảy chất liệu quý báu, tròn trịa như nhau,… lớn mười hai do tuần”.  Kinh  Lượng Thọ ghi: “Trong ao, hoa sen lớn một do tuần cho đến trăm, ngàn do tuần”.  Bánh xe trong nhân gian lớn không hơn một trương.  Dù cho bánh xe bằng vàng của chuyển luân thánh vương có ngàn căm nhưng mà ngang, dọc không hơn một do tuần.  Vậy thì đâu có cái tướng lớn, nhỏ chênh lệch đến như thế?

Giải thích: Hoa sen như bánh xe có lớn, nhỏ cũng như thân, thành. Vì căn cơ của chúng sinh có lớn, nhỏ, cho nên thân, thành, nước, cây hiện bày cũng có lớn, nhỏ. Hoa sen  cũng đại loại như vậy, như sơ địa biến hiện trăm cõi Phật và biến hiện hoa sen trăm cánh.  Nhị địa biến hiện ngàn cõi Phật và biến hiện hoa sen ngàn cánh. Tam địa biến hiện hoa sen vạn cánh. Tứ địa biến hiện hoa sen ức cánh. Ngũ địa ngàn ức. Lục địa trăm ngàn ức. Thất địa trăm ngàn ức trăm triệu.  Bát địa trăm ngàn vạn tam  thiên đại thiên thế giới như số bụi bặm. Cửu địa trăm ngàn vạn ức vô số cõi nước như số bụi bặm.  Thập địa trăm ngàn ức trăm triệu cõi Phật như số bụi bặm, nhiều đến mười lần không thể nói hết.  Vì thân tự thọ dụng có lớn, nhỏ, cho nên hiện bày hoa sen cũng đại loại như vậy, chứ không phải là hoa sen có lớn, nhỏ.

Đã từng nghe vị tăng nói rằng, ven bờ biển có tháp thờ xá lợi Phật mà vua A Dục xây dựng.  Chúng sinh thấy ánh sáng của xá lợi đều khác nhau.  Có người thấy không có ánh sáng. Có người thấy ánh sáng nhỏ bằng hạt đậu. Có người thấy ánh sáng to bằng quả táo. Có người thấy ánh sáng lớn bằng đầu ngón tay.  Có người thấy ánh sáng lớn bằng cái đấu.  Cả ngàn người thấy nhưng ai nấy đều thấy khác nhau.  Chúng sinh đồng một nhục nhãn mà còn thấy khác biệt như thế; huống chi là bồ tát, thanh văn cho đến trời, người… Công dụng đã cách xa nhau thì sự cảm thấy hoa sen như bánh xe làm sao mà không sai khác?  Như trong cõi nước này, tầng lớp sát đế lợi cao quí có lầu hồng gác tía khắp cả thành phố, thị trấn thì khác hẳn với kẻ nghèo hèn sống cô đơn trong cảnh màn trời chiếu đất.  Không nên thắc mắc rằng:  Tại sao có sự khác biệt như vực thẳm trời xa?  Đó là do phước đức của chính mình mà rước lấy.  Tướng hoa sen, ao báu cũng đại loại như vậy.

Trên đây nói về tháp của vua A Dục.  Vì chính tôi (Ấn Quang) cũng chưa từng thấy qua sự linh ứng như thế, cho nên nghe qua kể lại dễ mất đi sự thật.  Do đó, tôi viết bổ sung để làm sáng tỏ về thánh tích.

Chùa này nguyên hiệu là A Dục Vương.  Về sau đổi hiệu là Quảng Lợi.  Thế nhưng, người ta vẫn quen gọi là A Dục Vương.  Chùa tọa lạc trên núi Mậu cách làng Nam, huyện Ngân, phủ Ninh Ba, tỉnh Triết Giang (Trung Quốc) khoảng bốn mươi dặm.

Sau khi Phật diệt độ khoảng một trăm năm, ở miền Trung Ấn Độ có vua A Dục trị nước, có oai đức rộng lớn, có quỷ thần đều là bầy tôi.  Vua muốn làm lợi ích rộng lớn cho người đời, đã mở kho tàng của vua A Xà Thế lấy ra được tám vạn bốn ngàn xá lợi của Phật.  Vua phái quỷ thần đập vụn bảy chất liệu quý với các loại hương thơm vật liệu.  Trong một đêm xây cất được tám vạn bốn ngàn bảo tháp, phân chia khắp châu Thiệm Bộ phía Nam này.  Vua nhờ tôn giả Da Xá duỗi cánh tay phóng ra tám vạn bốn ngàn tia sáng, phái mỗi quỷ thần sử dụng hai tay nâng lấy một bảo tháp bay đi theo chiều của ánh sáng, đến chỗ cuối cùng của ánh sáng thì để bảo tháp trong lòng đất.  Phía Đông Trung Hoa có mười chín chỗ.  Khi Phật pháp truyền đến phương Đông, các tháp ấy lần lượt xuất hiện như tháp ở núi Ngũ Đài, núi A Dục Vương (Mậu sơn) v.v…  Tháp ở núi Ngũ Đài thì xá lợi được cất kỹ trong tháp lớn.  Tháp ở núi A Dục Vương có sự kiện như sau:

Vào năm Thái Khang thứ 3 (282 TL), triều vua Vũ Đế, đời Tây Tấn có Lưu Tát Hà chính là bồ tát Lợi Tân thị hiện.  Tát Hà xuất gia, pháp danh Tuệ Đạt, lễ bái, thỉnh cầu, thì từ lòng đất, bảo tháp vọt lên.  Tát Hà liền xây cất chùa A Dục Vương.  Khi hiến cúng phải vào trong thạch tháp thuộc nội điện.  Cửa tháp luôn khóa kín.  Nếu có ai muốn xem xá lợi thì trước tiên phải thông báo cho người giữ tháp biết.  Muốn lễ Phật, dâng hoa thì phải vào trong chính điện.  Muốn xem bảo tháp thì phải quỳ gối theo thứ tự ở bậc thềm, ngoài chánh điện.  Người giữ tháp mới đem bảo tháp ra.  Trước tiên cho thấy ở bên trong.  Sau đó cho thấy khắp cả bảo tháp.  Dù trong một ngày nhưng mà có người đến xem vài ba lần, cũng không lấy làm buồn phiền.  Tháp kia cao một thước tư (42 cm), chu vi hơn một thước (30 cm).  Ở tầng giữa của tháp thì bên trong trống rỗng.  Ở giữa có treo một cái chuông đặc ruột.  Chính giữa của đáy chuông có  một cây kim, xá lợi được đính ở đầu kim.  Bốn mặt đều có cửa sổ, có lan can hình hoa văn vây phủ nên không thể đưa tay vào được.  Thế nhưng, người ta có thể nhìn vào được bởi khoảng trống giữa các hoa văn.

Hình sắc của xá lợi kia thì lớn, nhỏ, nhiều, ít, động, tịnh không có nhất định.  Bình thường, đa số người ta thấy chỉ có  một viên xá lợi, cũng có người thấy hai, ba, bốn viên.  Có người thấy xá lợi đính ở đáy chuông không nhúc nhích.  Có người thấy xá lợi lơ lửng ở dưới cây kim đến một tấc (3cm).  Có người thấy xá lợi thoạt hạ xuống, thoạt lên cao, thoạt lớn, thoạt nhỏ.  Có người thấy xá lợi sắc xanh, vàng, đỏ, trắng và một màu sắc có khi đậm, có khi nhạt.  Có người thấy xá lợi có hai màu khác nhau.  Có người thấy màu đen xì.  Có người thấy màu sáng rực.  Không chỉ mỗi người thấy khác nhau mà ngay cả một người cũng thấy nhiều sự chuyển biến sai biệt.  Có người thấy hình hoa sen, hình tượng Phật, bồ tát.  Có người do nghiệp lực quá nặng nề nên hoàn toàn không thấy gì hết.  Nhìn xá lợi khoảng một giờ đồng hồ, có người thấy xá lợi lớn bằng hạt đậu xanh rồi to dần bằng hạt đậu đỏ, cũng có người thấy lớn bằng hạt đậu nành rồi to dần bằng quả táo.  Vào đời vua Thần Tông, nhà Minh, Lại bộ thượng thư Lục Quang Tổ rất kính tin và cực lực hộ trì Phật pháp.  Ông với vài người bạn đến xem.  Đầu tiên thấy xá lợi lớn bằng hạt đậu đỏ, hạt đậu nành, rồi lớn dần bằng quả táo, bằng quả dưa, bằng bánh xe và tỏa ra ánh sáng rực rỡ, trong lòng cảm thấy sảng khoái.  Khi điện thờ xá lợi bị đổ nát, tháp hư hỏng.  Lục Quang Tổ liền phát tâm trùng tu tháp, điện.  Các người bạn của ông trông thấy xá lợi cũng rất tốt nhưng không có sự kỳ diệu bằng ông.

Phải biết, tâm từ bi vô bờ bến của Như Lai muốn để lại thể chân thật của pháp thân này khiến cho chúng sinh đời sau gieo trồng căn lành xuất thế.  Do thấy thần dị này mà phát sinh niềm tin chân chính.  Từ đó bỏ các điều dữ, làm các điều lành, bặt dứt tà kiến, giữ tâm chí thành để dứt hết mê lầm, chứng nhập chân như, vượt thoát hố thẳm sinh tử, quay thẳng về Phật tánh sẵn đủ của chính mình, viên mãn tuệ giác vô thượng.  Đây là bổn tâm của Như Lai thị hiện cái tướng không thể nghĩ bàn làm phương tiện tiếp dẫn chúng sinh.  Nguyện cho kẻ thấy, người nghe cùng cảm niệm sâu xa thì thật là điều may mắn.  Vào năm Quang Tự thứ 21, Ấn Quang tôi hân hạnh được đảnh lễ bảo tháp vài tuần, đọc hết bộ A Dục Vương Sơn Chí nên biết xác thực những điều kể trên.

Ngày mùng một tháng giêng năm Dân Quốc thứ 20 (1931-Tân Mùi).  Thường Tàm Quý tăng Thích Ấn Quang kính ghi.

5- Giải thích về mặt trời, mặt trăng có hay không

Các kinh hoặc nói: “Mặt trời, mặt trăng ở giữa hư không”, hoặc nói: “Ở giữa hư không mà không chuyển động”, hoặc không đề cập đến vấn đề mặt trời, mặt trăng có hay không, hoặc nói thẳng: không có.  Kinh ghi: ‘Ánh sáng của Phật kia chiếu rạng rỡ khắp cả vô lượng vô số cõi Phật không thể nghĩ bàn.  Ánh sáng ấy chiếu trùm lên cả vầng nhật nguyệt.  Các vị thanh văn đều có ánh sáng nơi thân, có thể toả chiếu một tầm.  Ánh sáng của bồ tát toả chiếu đến trăm ngàn tầm.  Ánh quang minh của bồ tát nào cũng thường chiếu đến ba ngàn đại thiên thế giới.  Như vậy, tuy có mặt trời, mặt trăng nhưng mặt trời sáng như ngọn đuốc, ánh sáng đâu đáng kể.

Nếu mặt trời, mặt trăng không thể chiếu soi thì lẽ ra không có ngày đêm.  Tại sao trong kinh lại nói rằng, ngày đêm sáu buổi và việc ăn uống vào buổi sáng?  Đủ biết lời ấy chỉ là nói tạm thời mà thôi.  Dựa vào ngày đêm ở cõi này mà Phật ví dụ cho việc phân chia thời khắc ở cõi kia, chứ không phải là việc thật.  Hơn nữa, ngày đêm tới lui liên tục không ngừng, đó là do tâm của chúng sinh bị sự sáng, tối chi phối mà cảm thấy có cái tướng ấy, cho nên Tịnh Độ không có việc này.  Từ cõi trời Đao Lợi trở lên còn không nương nhờ vào ánh sáng mặt trời, mặt trăng, huống chi cõi Cực Lạc.  Dù cho có mặt trời, mặt trăng đi nữa, nhưng vì chúng sinh ở cõi nước biến hóa (Hóa quốc) kia chưa sạch hết kiến chấp về sắc, không, cho nên hiện bày cái tướng nhật nguyệt như vậy.  Thật ra, cõi Phật không có mặt trời, mặt trăng.  Đại luận ghi: “Phật Thích Ca Văn cũng có cõi nước thanh tịnh như Phật A Di Đà.  Phật A Di Đà cũng có cõi nước không trang nghiêm, thanh tịnh như Phật Thích Ca Văn”.  Đây là tùy theo cơ cảm của chúng sinh để trình bày, cũng không ngại gì nói có.

6- Giải thích về nhị thừa có hay không

Vô Lượng Thọ của bồ tát Thiên Thân ghi: “Thế giới căn lành của đại thừa, v.v…hoàn toàn không có các căn cơ bị chê bai cho đến không nghe danh hiệu nhị thừa, huống chi có thật”.  Các kinh kia đều nói: “Cõi nước có chúng thanh văn nhiều không thể nào kể xiết được”. Hai thuyết ấy mâu thuẫn với nhau, phải không?

Giải thích:  Tiên đức nói: “Nhị thừa được vãng sinh chính là đến khi lâm chung biết chuyển tiểu thừa hướng về đại thừa”.  Vì thói quen huân tập tiểu thừa thâm sâu, nên khi nghe Phật thuyết pháp thì âm vang của nước, của gió, của cành cây đều phát ra tiếng pháp tiểu thừa khiến cho các vị ấy tạm thời chứng quả vị nhỏ.  Dần dần tăng tiến mãi đến địa vị bồ tát thì không còn vướng mắc vào quả vị nhỏ nữa.  Cho nên nói không có nhị thừa có hai nghĩa:

1/ Nhị thừa định tánh thì không sinh Tây Phương Cực Lạc, đây mới thật là không có.

2/ Không trụ vào nhị thừa, vì đó là tất cánh không.

Ví như có hai người cùng tạm nhận một chức quan Lang, người thứ nhất ở lại, người thứ hai sẽ được thuyên chuyển.  Người ở lại có thể gọi là quan Lang, vì không có người thứ hai.  Còn người thứ hai sẽ được thuyên chuyển kia không nhất định là quan Lang, vì chức quan Lang rốt cuộc sẽ thay đổi.

Vì thế, cho nên Tịnh Độ không được nói có nhị thừa, vì rốt cuộc đến địa vị bồ tát.

7. Giải thích về phụ nữ có hay không

Kinh Thanh Vương ghi: ‘Phật A Di Đà cũng có cha mẹ”.  Vậy thì đâu được nói không có người nữ?

Giải thích: Đây cũng là biến hiện ra như biến hiện ra chim vẹt.  Sớ của ngài Hải Đông ghi: “Kinh Thanh vương nói:  Trong thế giới An Lạc, Phật A Di Đà có cha mẹ là biến hiện ra người nữ, chứ không thật do kết quả nghiệp nữ mà có.  Lại nữa, tuy có cha mẹ nhưng không phải từ bào thai sinh ra”.  Thật ra là  mượn cha mẹ để hóa sinh.  Kinh kia nói: “Nếu bốn chúng định tâm niệm danh hiệu của Phật thì do công đức ấy, đến khi lâm chung, Phật A Di Đà cùng với đại chúng đến chỗ người này khiến cho người này thấy được, thấy rồi mừng rỡ, công đức tăng thêm gấp bội.  Vì nhân duyên đó, cho nên chỗ sinh ra vĩnh viễn xa lìa hình hài dục vọng, nhơ bẩn của bào thai, thuần ở trong hoa sen báu tươi đẹp tuyệt vời, tự nhiên hóa sinh, đầy đủ thần thông, có ánh quang minh rực rỡ huy hoàng”.  Nên biết, cha mẹ chỉ là giả mượn mà thôi.  Hoặc có người cho rằng kinh Thanh vương nói có cha mẹ là hiển bày cõi uế mà Phật kia cư trú.  Nghĩa này không đúng.  Tại sao vậy?  Vì kinh kia đã nói do hoa sen báu hóa sinh.  Lại nói: “Hai vị bồ tát đứng hầu ở bên phải, bên trái”.  Tất cả những điểm ấy đều là hình tướng trong Tịnh Độ, không khác với Quán kinh đã nói.  Nên biết, kinh kia nói: “Đề Bà Đạt Đa và quỷ vương,… đều được biến hóa từ Tịnh Độ”.  Nếu không có những điểm này thì không phải là Tịnh Độ, như biến hiện ra súc sinh mà không phải là uế độ vậy.

8. Giải thích về sự phát tâm lớn hay nhỏ

Kinh Vô Lượng Thọ, Ngụy dịch: “Ba hạng người (thượng căn, trung căn, hạ căn) đều phát tâm bồ đề”.  Quán kinh khi đề cập đến hạ phẩm nói thẳng mười niệm.  Như vậy, các kinh nói có khác nhau.  Bây giờ muốn dung hợp lại.

Các kinh đều cho rằng: “Phát tâm bồ đề rộng lớn là nhân”.  Tại sao vậy?  Nếu đầu tiên không có cái nhân đại thừa thì dù người ấy có đọc tụng kinh điển nhưng cũng sinh tâm nghi ngờ, đâu được liền nghe, liền tin.  Vì thế, nên biết, trong Quán kinh, khi đề cập đến hạ phẩm nói mười niệm chính là đã gieo trồng cái nhân lớn từ đời trước và đến đời sau bị thoái chuyển.  Thế nhưng, đến khi lâm chung, người ấy gặp được thiện tri thức như lúa non bị khô héo, nếu được cơn mưa trút xuống thì nó vụt xanh tươi  mơn mởn.  Nếu không có cái nhân thì thiện tri thức không bao giờ gặp được, huống chi tin tưởng, tiếp nhận, như người quý tộc mà không quan tước thì bị nhiều người càng nghe lại càng không tin tưởng.  Nên biết, một khi nghe được thiện tri thức chỉ dạy liền niệm Phật thì không phải là cái duyên nhỏ.  Chúng ta không nên căn cứ vào một đời làm ác mà vội bảo rằng người ấy không có cái nhân lớn.  Kinh ghi: “Người dân trong thế gian nghe được danh hiệu A Di Đà, nếu động mối từ tâm, vui mừng phấn chấn, lông tóc dựng đứng, nước mắt tuôn rơi thì biết người ấy đã từng thực hành Phật đạo trong nhiều đời, hoặc từng làm bồ tát trong cõi Phật ở phương khác”.  Vì vậy, không luận là kẻ ngu muội hay người thông minh, nếu chí tâm niệm Phật thì đã gieo trồng căn lành sâu dày trong nhiều kiếp, đã phát tâm bồ đề rộng lớn.  Tại sao vậy?  Vì nói đến căn lành nghĩa là không chuyên nói về trí tuệ.  Nếu không có căn lành thì cũng như hạt lúa bị cháy khô, không thể nào nảy mầm được.  Bàn về chuyện nhỏ nhặt, chẳng hạn như chuyện đánh cờ trong thế gian, có những người hèn mọn, dốt nát, một khi được học liền trở thành tay cờ cao thủ.  Lại có những người trí thức tuy luyện tập suốt đời nhưng chỉ vụng về mà thôi.  Nên biết, kỹ năng vặt vãnh đó mà không có cái nhân thì không được xuất sắc, huống chi Phật pháp tuyệt diệu.  Nếu tin tưởng có cái pháp hiếm có khó tin kia thì người ấy là bồ tát phát tâm rộng lớn vô bờ bến.

9. Giải thích về nghi thành thai sinh

– Kinh Vô Lượng Thọ, đời Đường dịch: “Có người vì chưa ngộ tự tâm nên rơi vào vực thẳm nghi ngờ, hối hận nhưng mà người ấy biết tích tụ căn lành để mong cầu Phật trí, phổ biến trí, bất tư nghì trí, vô đẳng trí, oai đức trí, quảng đại trí.  Đối với căn lành của người ấy, vì chưa tỏ ngộ nên không thể phát sinh niềm tin chân thật.  Do nghe danh hiệu Phật, nên khởi dậy niềm tin cầu sinh về Tịnh Độ.  Vì nhân duyên này, cho nên người ấy sinh trong thai sen đến năm trăm năm như cung điện, hoa viên, không thấy được Phật, không nghe được pháp.  Đó là thai sinh’.

– Kinh Vô Lượng Thọ, Ngụy dịch: “Tuy không tỏ ngộ Phật trí nhưng người ấy tin tưởng tội phước, tu tập căn lành, nguyện sinh về cõi nước kia.  Đó là thai sinh”.

– Kinh Vô Lượng Thọ, đời Tống dịch: “Có người tuy gieo trồng căn lành nhưng không thể lìa tướng, không mong cầu tuệ giác vô thượng.  Vì vọng sinh phân biệt, người ấy tham đắm vào phước báo nhân gian, cái vui trong đời. Đó là thai sinh”.

– Bản của Vương Nhật Hưu ghi: “Có người tu tập công đức nguyện sinh về cõi kia.  Về sau lại sinh tâm nghi ngờ, hối hận, không tin có cõi Phật kia, không tin làm lành được phước.  Tuy vậy, người ấy lại có tâm niệm tạm thời tin, tạm thời không tin. Đến khi lâm chung, Phật liền hóa hiện thân hình khiến cho người ấy nhìn thấy.  Vì tâm hối hận nên tội lỗi cũng giảm bớt, cũng được sinh về cõi kia.  Đó là thai sinh”

Hai bản dịch trước nói không tin tự tánh (đời Đường dịch), không tỏ ngộ Phật trí ( Ngụy dịch) là thai sinh.

Bản dịch đời Tống nói thẳng: tu tập các điều lành để mong cầu sinh vào cõi người, cõi trời.  Đó là thai sinh, vì trong cõi Cực Lạc không có thai sinh.  Còn bản dịch của Vương Nhật Hưu nói rằng, vì không tin cõi Phật, không tin tội phước, tạm thời tin, tạm thời nghi, nên gọi là thai sinh; khác với hai thứ vãng sinh trong các bản dịch trước là do nghe danh hiệu nên khởi dậy niềm tin (Đường dịch) và tu tập căn lành (Ngụy dịch và Tống dịch).

Tịnh Độ đại loại nói chín phẩm.  Nếu nói rộng thì nhiều đến ngàn vạn phẩm cũng không thể nào kể hết cho được.  Đời nay, trong cõi người, các loại phước báo, các loại tội nghiệp, loại nào cũng thiên sai vạn biệt.  Cho nên, tuy các bản dịch có khác nhau nhưng đều là những lời nói chân thật.  Trong đó, bản dịch đời Đường có đại ý rất sâu kín.  Vì không tin căn lành của chính mình, vì dựa vào người khác khởi dậy niềm tin, nên gọi là nghi thành.  Nếu tin vào quả lành của chính mình thì người ấy lập tức tỏ ngộ được tự tâm, không từ người khác mà được.  Vì vào được cửa ngộ này, nên mới có thể thoát khỏi lưới nghi.  Do vậy, nếu chưa tỏ ngộ mà tu thì rốt cuộc bị ngăn cách bởi thai nghi.  Thai có nghĩa là bao bọc, ngăn che.  Người chưa tỏ ngộ thì chưa phá hủy được các chướng.  Phù hợp với kết quả này, người ấy được vào bậc trung phẩm hạ sinh, hạ phẩm thượng sinh.  Tại sao vậy?  Vì hạ phẩm trung sinh, hạ phẩm hạ sinh phải trải qua sáu kiếp, mười hai kiếp thì hoa sen mới bừng nở.  Còn ở đây nói chỉ sinh trong thai sen đến năm trăm năm mà thôi.  Nếu căn cứ vào bản của Vương Nhật Hưu thì người này tin tưởng Phật chưa mạnh mẽ bằng người hạ phẩm trung sinh, hạ phẩm hạ sinh.  Lại nữa, sinh về biên địa của cõi kia không phải năm trăm năm mới thấy được Phật.

10. Giải thích về người phạm tội ngũ nghịch được vãng sinh

Kinh Vô Lượng Thọ ghi: “Chỉ trừ kẻ tạo tội ngũ nghịch, khinh chê chánh pháp và các thánh nhân”. Quán kinh ghi: “Những người tạo tội ngũ nghịch, thập ác, đến khi lâm chung, niệm Phật mười  niệm đều được vãng sinh”. Nên biết, kinh Vô Lượng Thọ loại bỏ kẻ tạo tội ngũ nghịch và khinh chê chánh pháp.  Tại sao vậy? Vì bước vào Tịnh Độ lấy niềm tin làm bâc thầy dẫn đường.  Khinh chê là đối lập với niềm tin, như nước có thể chứa tất cả vật nhưng không chứa được lửa, vì lửa tự nó đối chọi với nước; như gió thổi vi vút vào tất cả chỗ nhưng không thể nào thổi vào đá được, vì đá tự nó ngăn cản gió. Người khinh chê chánh pháp, thiêu hủy chánh pháp cũng như ngọn lửa hung tàn; làm ngăn cách Phật trí cũng như vách sắt.  Cho nên, biển pháp, gió tuệ không thể nào tiếp nhận được.  Quán kinh loại bỏ kẻ khinh chê chánh pháp mà không loại bỏ kẻ tạo tội ngũ nghịch, nghĩa lý giống nhau mà lời văn lại khác. Vì tội ngũ nghịch, tuy là hung ác cực độ nhưng không có kiến giải một mực không tin, nên không loại bỏ. Thế nhưng, người có tâm rộng lớn, đầu tiên không tin tưởng. Về sau gặp được thiện tri thức chỉ dạy thì nhận thức sai lầm trước kia lập tức bị đổ vỡ như Hàn Xương Lê: ban đầu quở trách xá lợi Phật, sau này ông quy y Đại Điên, hoặc như Trương Vô Tận, trước tiên chống đối sách vở có liên quan với Phật giáo, muốn soạn ra luận Vô Phật.  Về sau xem kinh Tịnh Danh mà giật mình tỉnh ngộ, rốt cuộc làm bậc kiệt xuất trong Thiền tông.  Đó là những chuyện hiếm có trong Phật pháp. Vì thế, các nhà nho tài ba lỗi lạc, hoặc trước kia sai lầm, khinh chê Phật pháp, nhưng họ hối hận, sửa đổi rất mau, tức là việc làm tốt, không nên cho khinh chê Phật pháp là chướng nạn vậy.

Lời Bạt

Đã lâu, pháp  môn huyền diệu của Tịnh Độ không được hoằng dương.  Đại sư Vân Thê nêu cao lại nghĩa sâu xa huyền diệu, mọi người khắp trong bốn biển đều kính ngưỡng.  Thế mà bọn Tào Lỗ Xuyên còn chấp sai lạc Phương sơn hiệp luận, mê lầm tranh luận quyền, thật.  Vì chưa thông suốt viên tông, nên họ chấp vào lời nói viên dung rộng lớn.  Tây phương hiệp luận một khi ra đời phê phán lối chấp sai lầm kia là chấp viên thật mà không thông được nghĩa viên thật.  Rồi sau mới biết các kinh nói về Tịnh Độ không kém kinh Hoa nghiêm, kinh Pháp hoa, có thể phá tan những mối nghi ngờ từ ngàn xưa.  Nguyện cho kẻ thấy người nghe bộ luận này phá tan được những mối tà nghi một cách rộng khắp, sớm mở được niềm tin chân chánh, nêu cao ngọn tâm đăng của Tịnh Độ để soi sáng trần kiếp vô cùng tận!

Mùa thu năm Tân Mão, đệ tử tịnh nghiệp Minh Thiện kính cẩn ghi lời bạt.

Ghi lại những lời trong mộng
của Viên Trung Đạo

Ngày Rằm, tháng mười, năm Giáp Dần, niên hiệu Vạn Lịch thứ 42 (1573), đời vua Thần Tông, nhà Minh.

Khi khóa tụng xong, tôi tĩnh tọa cảm thấy thân thể, tinh thần thanh tịnh, sáng suốt.  Bỗng nhiên có trạng thái như vào định.  Đêm rằm, trăng sáng vằng vặc, thần thức vượt lên nhà, bất giác nhẹ nhàng, bồng bềnh bay vút lên, nhanh như chim tung bay.  Trong mây có hai đồng tử hộ vệ bảo:  “Hãy theo chúng tôi!” rồi đưa về Tây Phương.  Nhìn xuống, tôi thấy núi đầm, ruộng đất bằng phẳng, thôn xóm, làng mạc, thành phố, thị trấn nhỏ như đống đất, chén nước, tổ ong, tổ kiến.  Đáp xuống một chút, có mùi hôi thối xộc lên, tôi không thể nào chịu đựng nổi!  Hết sức phấn chấn vượt thẳng lên cao mới khỏi hiện tượng này.  Bỗng chốc, hai đồng tử bảo: “Dừng lại!”  rồi cùng nhau đáp xuống đất.

Tôi phóng tầm mắt nhìn xung quanh thấy con đường thẳng tắp như dây giăng, bằng phẳng như bàn tay.  Mặt đất chẳng phải cát đá, ánh ra tia sáng rực rỡ, mịn màng.  Dọc theo đường có ngòi nước rộng hơn mười trượng, thềm bằng thạch bảo có vân.  Trong ngòi nước, hoa sen năm màu sắc tỏa hương thơm ngát khác thường.  Dài theo ngòi nước có hàng cây ánh ra tia sáng chói chang, các loại chim đẹp hót vang hòa điệu.  Cách một khoảng lại có cây cầu bằng vàng nối ngang qua ngòi nước để làm ranh giới, có lan can đan xen như lưới giăng.  Bên kia cầu, phía sau hàng cây có lầu các ngay ngắn, đẹp lộng lẫy, không cảnh nào so sánh cho kịp.  Trong lầu toàn là những người có vóc dáng thanh tú, trẻ đẹp như tiên, mỉm cười nhìn tôi.  Hai đồng tử đi quá mau, tôi đi theo không kịp, bèn gọi to:

– Xin đứng lại trên cầu đợi tôi một chút!

Hai đồng tử thực hiện như lời tôi nói, tôi mới theo kịp. Khi  mới đến cầu, cùng tựa vào lan can báu để nghỉ giây lát, tôi hỏi:

– Hai vị là ai? Đây là nơi nào? Xin nói cho tôi được biết!

Một đồng tử đáp:

– Chúng tôi là thị giả của tiên sinh Linh Hòa. Tiên sinh muốn cùng ông chuyện vãn.

Tôi hỏi:

– Tiên sinh Linh Hòa là ai vậy?

– Tiên sinh chính là anh của ông, là Viên Hoành Đạo tự Trung Lang đó!  Khi gặp nhau, tiên sinh sẽ nói chuyện với ông.  Bây giờ, chúng ta phải đi mau cho đến nơi.

Rồi dẫn tôi đến một nơi có hơn ngàn cội cây to, lá bằng ngọc xanh biếc, hoa có cánh bằng vàng. Dưới cây, hồ nước chảy róc rách.  Trên hồ có cánh cửa bằng bạch ngọc.  Một đồng tử bước vào trước.  Đồng tử kia dẫn tôi đi qua hơn hai mươi lớp lầu các có kim sắc ánh ra tia sáng chói chang, hoa thơm cỏ lạ lay động qua lại bên thềm.  Khi đến dưới lầu nọ, một người xuống đón tiếp, thần thái tựa Trung Lang mà gương mặt sáng như ngọc, áo như ráng mây, dài hơn một trượng. Thấy tôi, ông vội chào mừng: “Em mới đến à!” rồi dẫn lên lầu chào.  Trên đó có bốn năm vị ngồi chung quanh, vóc dáng hình hài cũng như người cõi trời. Trung Lang nói:

– Đây là biên địa ở Tây Phương  Những người tu Tịnh Độ mà niềm tin, hiểu biết chưa hoàn thành, giới bảo chưa toàn vẹn, phần nhiều sinh về chốn này.  Nơi đây cũng gọi là cõi nước Giải Mạn.  Phương trên có lầu đài của hóa Phật. Trước lầu có hồ rộng lớn khoảng chừng một trăm do tuần. Trong hồ có sen báu tuyệt diệu. Chúng sinh  mười phương sinh về gởi chất nơi hoa sen ấy. Khi hoa bừng nở thì chia nhau vào ở trong các lâu đài.  Tất cả những vị ấy đến  ở chung với các người bạn đã cùng nhau tu Tịnh Độ thuở trước. Vì không có sắc đẹp, tiếng dâm nên niềm tin, hiểu biết thành tựu dễ dàng.  Chẳng bao lâu sẽ tiến lên làm người trong Tịnh Độ.

Tôi thầm nghĩ: “Cảnh trí tươi đẹp như thế này mà còn là biên địa sao?”. Lại hỏi:

– Anh sinh về cõi nào?

Trung Lang đáp:

– Tuy anh tịnh nghiệp thâm sâu, nhưng tình nhiễm chưa dứt, đầu tiên sinh về nơi đây một thời gian ngắn.  Bây giờ cư trú khu vực Tịnh Độ.  Vì ngộ đệ nhất nghĩa đế nhanh, dừng nghiệp ác chậm, nên chỉ thuộc từng lớp địa cư, không được cùng bậc đại sĩ cư trú lầu các giữa hư không, còn phải tiến tu thêm nữa.  May thay!  Khi ở Ta Bà, nhờ có trí tuệ rất linh lợi, anh từng soạn bộ Tây phương hiệp luận tán dương năng lực độ sinh không thể nghĩ bàn của Như Lai, nên cảm báo được bay đi tự tại, tham quan các cõi khác.  Các đức Phật thuyết pháp, anh đến nghe được.  Như thế thật là thù thắng.

Trung Lang nắm tay tôi, từ từ bay lên hư không, khoảnh khắc vượt muôn ngàn dặm, rồi đáp xuống một chỗ. Nơi đây không có mặt trời, không có mặt trăng, không có ngày đêm, ánh sáng rực rỡ không bị ngăn che. Đất toàn bằng lưu ly; trong, ngoài đều chói suốt. Dây bằng hoàng kim đan xen lẫn nhau. Ranh giới được chia rõ ràng bằng bảy chất liệu quý báu. Tất cả cây toàn là chiên đàn, cát tường; Hàng hàng song song, gốc gốc đối xứng, trải dài xa tít tắp đến vài muôn ngàn lớp. Lá nào cũng đều trổ các loại hoa đẹp tuyệt vời bằng màu sắc dị bảo. Bên dưới là hồ báu có vô lượng đợt sóng nhấp nhô, tự nhiên phát ra âm thanh diệu pháp. Đáy hồ trang rải toàn cát bằng kim cương. Trong hồ, các loại sen báu lá ánh ra tia sáng năm màu. Trên hồ, lầu cao ẩn hiện, xoay chuyển xung quanh vùng. Con đường chạy dọc theo dãy lầu, điện các nối nhau. Cửa lớn, cửa sổ đều giao chiếu, hiên thềm nhô ra, cột dỡ mái cong. Các loại như thế đều đầy đủ, đều có vô lượng nhạc khí diễn tấu pháp âm. Những điều ghi chép trong Đại kinh, Tiểu kinh so với đây thì mười phần chưa được một. Tôi ngước nhìn lên thấy nhiều lầu các lơ lửng giữa hư không cũng như khói mây. Trung Lang nói:

– Quang cảnh mà em thấy là chỗ của chúng sinh sống trên đất Tịnh Độ.  Qua khỏi nơi này là chỗ cư trú của pháp thân đại sĩ, cảnh trí còn đẹp tuyệt vời hơn ở đây ngàn lần, vạn lần.  Thần thông của các vị ấy cũng hơn ở đây trăm lần, ngàn lần.  Anh vận dụng năng lực của trí tuệ để tham quan nơi đó, chứ không cư trú được.  Qua khỏi chốn ấy là chỗ cư trú của bậc thập địa, đẳng giác.  Anh không thể nào biết đến.  Xa hơn nữa là chỗ cư trú của bậc diệu giác, chỉ có Phật với Phật mới có thể biết được chỗ ấy.

Nói xong lại bay đến một chỗ không có thành quách, chỉ có lan can bao bọc, có điện các ánh ra tia sáng rực rỡ khác thường, không biết được kết hợp bằng những chất gì?  Tôi cảm thấy tất cả hoàng kim, bạch ngọc ở thế gian sánh với loại báu này đều giống như màu sắc của đất.  Ở dưới lầu, cùng nhau trò chuyện giây lát, Trung Lang nói:

– Anh không ngờ khung cảnh lại vui đẹp tột bực như thế này! Khi ở Ta Bà, giá mà anh giữ giới luật thêm tinh nghiêm thì sự thọ lạc còn hơn nữa, đại loại như: ngộ đệ nhất nghĩa đế, dừng nghiệp ác đều nhanh chóng thì vãng sinh phẩm vị rất cao.  Kế đến, dừng nghiệp ác nhanh thì vãng sinh phẩm vị rất ổn. Nếu ngộ đệ nhất nghĩa đế mà không dừng nghiệp ác, thì đa số bị sức mạnh của nghiệp lôi kéo, trôi dạt vào tám bộ quỷ thần. Chính mắt anh đã trông thấy những bạn đồng tu lâm vào tình trạng này. Còn em, tuy khí phần bát nhã thâm sâu nhưng năng lực giới, định rất kém cỏi. Ôi! Ngộ lý sâu xa huyền diệu mà không thể sinh giới, định thì cũng là trí tuệ ngông cuồng mà thôi. Khi về cõi Ta Bà, nhân lúc sức khoẻ dồi dào, em phải thật tu, thật ngộ, gồm đủ tịnh nguyện.  Hãy siêng năng cần mẫn thực hành phương tiện lợi tha, thương xót tất cả, chẳng bao lâu sẽ có dịp hội ngộ!  Nếu một khi sa vào con đường khác thì thật là nỗi kinh hoàng! Nếu như không thể giữ giới thì hiện có pháp lục trai của Long Thọ. Hãy tuân theo mà thực hành đi! Trong các giới, giới sát quan trọng bậc nhất. Xin gởi lời đến những bạn đồng tu: “Chưa có ai mỗi ngày tay cầm dao bén giết hại, miệng thèm khát vị ngon mà được vãng sinh về Cực Lạc. Dù có thuyết pháp lời lẽ hùng tráng như mưa đổ, mây bay, nhưng đối với sự tu tập nào có ích gì?”. Từ thuở Phật Không Vương, chúng ta đã nhiều đời từng làm anh em với  nhau cho đến trôi lăn trong sáu đường cũng đều như thế.  May thay!  Anh đã được chỗ an lành, e rằng em bị đọa lạc, nên vận dụng năng lực thần thông làm phương tiện đem em đến đây để khuyên bảo.  Bây giờ, báo nghiệp giữa cõi tịnh và cõi uế đã cách biệt nhau, em không thể nào ở đây lâu được nữa!

Tôi vội hỏi chỗ sinh của Bá Tu và các bạn đồng tu đã mãn phần.  Trung Lang đáp:

– Chỗ sinh của các vị ấy đều tốt đẹp cả.  Về sau, em sẽ tự biết.

Bỗng nhiên, Trung Lang vượt lên hư không mà bay mất.  Tôi đứng dậy, ung dung cất bước trên hồ.  Bỗng dưng như té nhào xuống nước, kinh hoàng mà giật mình tỉnh dậy, toàn thân vã mồ hôi.  Khi ấy, ngọn đèn tàn còn ở trên giá, ánh trăng vẫn tỏa chiếu lung linh xuống cửa sổ.  Thời khắc đã điểm sang canh tư.

_____________________

Truyện Viên Trung Lang

Viên Trung Lang tên là Hoành Đạo, hiệu cư sĩ Thạch Đầu, ở huyện Công An, tỉnh Hồ Bắc.  Anh là Bá Tu, tên Tông Đạo, hiệu cư sĩ Hương Quang. Em là Tiểu Tu, tên Trung Đạo, hiệu cư sĩ Thượng Sinh. Cả ba anh em đồng một mẹ sinh ra.  Thuở trẻ tuổi nổi tiếng về văn học, lớn lên đều ưa thích Thiền tông. Niên hiệu Vạn Lịch thứ 42 (1573), đời vua Thần Tông, nhà Minh, trước sau, ba anh em đều đỗ tiến sĩ.  Bá Tu làm quan đến chức Hữu thứ tử. Trung Lang làm Tri huyện ở Ngô Giang. Ông giải quyết việc công rất sáng suốt, mau lẹ. Khi rảnh rỗi, Trung Lang thích ngao du sơn thủy. Sau được thăng lên chức Lễ bộ chủ sự, lấy cớ bệnh, xin về nghỉ.

Ở Thành Nam, Cư sĩ có lập một khu vườn trồng muôn cây liễu xanh tươi, gọi cảnh trí này là Liễu Lãng.  Cư sĩ thường cùng với các thiền nhân tham quan ở trong đó.    Đầu tiên Cư sĩ học thiền với Lý Trác Ngô, tin hiểu thông suốt, biện tài vô ngại. Sau đó, Cư sĩ tự nghiệm xét: “Bàn luận về cái không này chẳng phải thiết thực”, liền hồi hướng về Tịnh Độ, sớm hôm siêng năng lễ tụng và giữ gìn cấm giới. Bá Tu, Tiểu Tu cũng đồng thời phát tâm niệm Phật. Trung Lang tuyển chọn trong các kinh giáo, viết ra bộ Tây phương hiệp luận. Trong ấy bàn tánh, tướng đến chỗ viên dung, đi sâu vào pháp môn bất nhị. Viết xong, Bá Tu ghi lời tựa. Sau đó, Trung Lang nhận giữ lại chức cũ, rồi thăng tiến đến chức Huân ty lang trung. Chẳng bao lâu cáo bệnh, xin nghỉ. Về nhà chẳng mấy ngày rồi vào thành Kinh Châu, ở tạm trong chùa Tăng tu niệm, không bệnh mà qua đời. Tiểu Tu làm quan đến chức Lễ bộ lang trung ở phương Nam cũng xin nghỉ việc. Về già, Cư sĩ siêng năng cần mẫn với việc lễ tụng. Một buổi tối, khi khóa tụng xong, thần thức tham quan Tịnh Độ như đã ghi ở trên.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
Xá Lợi
(s: śarīra, p: sarīra, 舍利): âm dịch là Thật Lợi (實利), Thiết Lợi La (設利羅), Thất Lợi La (室利羅); ý dịch là tử thi (死屍), di cốt (遺骨), xác chết, thân, thể, thân cốt (身骨), di thân (遺身). Thông thường, từ này được dùng để chỉ cho di cốt của đức Phật, nên có tên là Phật cốt (佛骨), Phật Xá Lợi (佛舍利); về sau chỉ cho phần xương cốt lưu lại sau khi hỏa thiêu của chư vị cao tăng. Bảo tháp nơi được an trí Xá Lợi Phật được gọi là Xá Lợi Tháp (舍利塔), bình có an trí Xá Lợi thì gọi là Xá Lợi Bình (舍利瓶), hay pháp hội cúng dường Xá Lợi Phật thì có tên là Xá Lợi Hội (舍利會). Như trong Hợp Bộ Kim Quang Minh Kinh (合部金光明經, Taishō Vol. 16, No. 664) quyển 8 định nghĩa rằng: “Thử Xá Lợi giả, thị Giới Định Tuệ chi sở huân tu, thậm nan khả đắc, tối thượng phước điền (此舍利者、是戒定慧之所熏修、甚難可得、最上福田, Xá Lợi này được huân tu bởi Giới Định Tuệ, thật khó có được, là ruộng phước tối thượng).” Dục Phật Công Đức Kinh (浴佛功德經, Taishō Vol. 16, No. 698) chia Xá Lợi làm 2 loại: (1) Sanh Thân Xá Lợi (生身舍利), tức di cốt của đức Phật; (2) Pháp Thân Xá Lợi (法身舍利), hay Pháp Tụng Xá Lợi (法頌舍利), là giáo pháp, giới luật của Ngài để lại và lấy Xá Lợi để ví dụ. Trong khi đó, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林, Taishō Vol. 53, No. 2122) quyển 40 lại phân Xá Lợi làm 3 loại: (1) Cốt Xá Lợi (骨舍利, Xá Lợi xương), có màu trắng; (2) Phát Xá Lợi (髮舍利, Xá Lợi răng), màu đen; (3) Nhục Xá Lợi (肉舍利, Xá Lợi thịt), màu đỏ. Xá Lợi nói chung chủ yếu là mảnh xương, có hình trạng lớn nhỏ bất đồng, cứng chắc, nhỏ vụn, thường như hạt đậu. Theo kinh điển cho biết rằng Xá Lợi đức Phật được chia làm 3 phần cho chư Thiên, Long Vương và con người. Trong đó, tương truyền Trời Đế Thích (s: Indra, p: Inda, 帝釋天) thì nhận Xá Lợi răng, đem về Trời cúng dường, nhưng bị quỷ chạy nhanh đoạt mất một miếng. Ngoài việc lễ bái Xá Lợi đức Phật, còn có truyền thống lễ bái Xá Lợi của các tôn giả A Nan (s, p: Ānanda, 阿難), Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連), Xá Lợi Phất (s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗), v.v. Bên cạnh đó, lễ bái các Thánh địa như nơi đức Phật đản sanh, gốc cây Bồ Đề nơi Ngài Thành Đạo, tòa báu Kim Cang, nơi Ngài từng đi kinh hành, v.v., đều có ý nghĩa tạo nhân duyên gọi là “gặp Phật nghe pháp” để sớm thành đạo quả. Về sự kiện sau khi đức Phật nhập Niết Bàn, 8 quốc gia phân phối Xá Lợi của Ngài như thế nào, các kinh điển ghi lại rất rõ. Theo Trường A Hàm Kinh (長阿含經, Taishō Vol. 1, No. 1) quyển 4, Du Hành Kinh (遊行經) thứ 2, lúc bấy giờ dân chúng Mạt La (p: Malla, 末羅) của nước Ba Bà (p: Pāvā, 波婆) muốn có được Xá Lợi để dựng tháp cúng dường ngay tại xứ sở mình, bèn chuẩn bị 4 loại binh lính đến thành Câu Thi Na (s: Kuśinagara, p: Kusinagara, 拘尸那), sai sứ giả cầu xin phân chia Xá Lợi. Thế nhưng, quốc vương nước này lại bảo rằng đức Phật diệt độ tại nước ông, nên dân chúng trong nước có thể tự lo liệu cúng dường và từ chối không chia Xá Lợi. Đồng thời, dân chúng Bạt Ly (p: Buli, 跋離) của nước Già La Phả (p: Allakappa, 遮羅頗), dân chúng Câu Lợi (p: Koḷiya, 拘利) của nước La Ma Già (p: Rāmagāma, 羅摩伽), chúng Bà La Môn của nước Tỳ Lưu Đề (p: Veṭhadīpa, 毘留提), dân chúng dòng họ Thích Ca (p: Sakya, 釋迦) của nước Ca Tỳ La Vệ (p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), dân chúng Ly Xa (p: Licchavī, 離車) của nước Tỳ Xá Ly (p: Vesālī, 毘舍離), vua A Xà Thế (p: Ajātasattu, 阿闍世) của nước Ma Kiệt Đà (p: Magadha, 摩掲陀); mỗi đoàn đều chuẩn bị 4 loại binh lính, tiến qua sông Hằng. Trong khi đó, Bà La Môn Hương Tánh (香姓) cũng xin chia Xá Lợi, nhưng bị từ chối. Các nước nhất tề muốn dùng sức mạnh của binh khí, đao gậy để tranh giành; song Bà La Môn Hương Tánh ngăn cản, khuyên họ không nên làm như vậy; bèn phân chia Xá Lợi cho 8 quốc gia. Các nước nhận được Xá Lợi xong, trở về bôn quốc, dựng tháp cúng dường. Trong Ngụy Thư (魏書), phần Thích Lão Chí (釋老志), có đoạn: “Phật ký tạ thế, hương mộc phần thi, linh cốt phân toái, đại tiểu như lạp, kích chi bất hoại, phần diệt bất tiêu, hoặc hữu quang minh thần nghiệm, Hồ ngôn vị chi Xá Lợi, đệ tử thâu phụng, trí chi bảo bình, kiệt hương hoa, trí kính mộ, kiến cung vũ, vị chi tháp (佛旣謝世、香木焚屍、靈骨分碎、大小如粒、擊之不壞、焚亦不燋、或有光明神驗、胡言謂之舍利、弟子收奉、置之寶瓶、竭香花、致敬慕、建宮宇、謂爲塔, đức Phật đã qua đời, lấy gỗ thơm đốt thi hài, linh cốt chia nhỏ ra, lớn nhỏ như hạt gạo, đập vào không vỡ, đem đốt không cháy, hoặc có ánh sáng linh nghiệm, người Hồ [Tàu] gọi đó là Xá Lợi, đệ tử thu gom thờ phụng, đặt vào trong bình báu, dốc hết hương hoa [cúng dường], tận tâm kính mộ, kiến lập cung điện nhà cửa, gọi đó là tháp).” Hay trong tác phẩm Cổ Kim Tiểu Thuyết (古今小說, tức Dụ Thế Minh Ngôn [喻世明言]) quyển 30, phần Minh Ngộ Thiền Sư Cản Ngũ Giới (明悟禪師趕五戒), của Bằng Mộng Long (馮夢龍, 1574-1646) nhà Thanh, lại có đoạn: “Tụng xong, Trà Tỳ chi thứ, kiến hỏa trung nhất đạo thanh yên, trực thấu vân đoan, yên trung hiển xuất Viên Trạch toàn thân bổn tướng, hiệp chưởng hướng không nhi khứ; thiểu yên, Xá Lợi như vũ, chúng tăng thâu cốt nhập tháp (頌畢、茶毗之次、見火中一道青煙、直透雲端、煙中顯出圓澤全身本相、合掌向空而去、少焉、舍利如雨、眾僧收骨入塔, sau khi đọc bài tụng xong, khi làm lễ Trà Tỳ [hỏa thiêu], thấy trong lửa có một làn khói xanh, xuyên thẳng lên tầng mây, trong làn khói ấy hiện rõ toàn thân hình tướng của Thiền Sư Viên Trạch, chấp tay hướng không trung mà đi; lát sau, Xá Lợi như mưa, chúng tăng thu gom cốt nhập tháp).” Hoặc trong Tục Truyền Đăng Lục (續傳燈錄, Taishō Vol. 51, No. 2077) quyển 36, phần Tịnh Từ Trọng Dĩnh Thiền Sư Pháp Từ (淨慈仲穎禪師法嗣), Ôn Châu Giang Tâm Nhất Sơn Thiền Sư (溫州江心一山禪師), cũng có đoạn rằng: “Hoàng Khánh nguyên niên thập nhất nguyệt nhị thập lục nhật, cấu tật nguy toạn bất cận dược; duyệt thất nhật, mạng cụ dục cánh y, xuất cứ thất kỷ, thư quyết chúng ngữ tọa thệ; Xà Duy thâu ngũ sắc Xá Lợi như thục, bất khả kế, song mục tình bất tẫn (皇慶元年十一月二十六日、遘疾危坐不近藥、閱七日、命具浴更衣、出據室几、書訣眾語坐逝、闍維收五色舍利如菽、不可計、雙目睛不燼, vào ngày 26 tháng 12 năm đầu [1312] niên hiệu Hoàng Khánh [đời vua Nhân Tông nhà Nguyên], Thiền Sư nhuốm bệnh, vẫn ngồi ngay thẳng mà không uống thuốc; trãi qua 7 ngày, ngài bảo tắm rửa, thay áo quần, ra ngồi tựa vào ghế dựa của thất, viết thư giã từ vài lời rồi ngồi mà ra đi; khi làm lễ Xà Duy [hỏa thiêu], thâu Xá Lợi năm màu nhiều như hạt đậu, không đếm được, hai tròng mắt không cháy thành tro).”
A DỤC VƯƠNG

阿 育王

- S: Asoka

- P: Asoka

- Hâ: A-du-ca, A-du-già, A-nộ-già, A-thú-khả, A-thúc.

- Hd: Vô ưu Vương

- Cg: Thiên Ái Hỉ Kiến Vương (S: Devànampriya priyadrasi)

Vị vua thứ ba của vương triều Khổng Tước ở nước Ma-kiệt-đà thuộc Trung ấn Độ.

Ông ra đời vào khoảng thế kỷ thứ III tr. TL, là vị vua thống nhất Ấn Độ và là một nhân vật đóng góp công sức lớn nhất trong công việc hộ trì Phật giáo.

Ông nội của ông là Đại vương Candragupta (Chiên-đà-la-cấp-đa), Tổ khai sáng vương triều Khổng Tước; Cha ông là vua Bindusara (Tân-đầu-sa-la), mẹ ông là Asokàvadàna (A-dục-vi-đạt-na), con gái của một vị Bà-la-môn ở thành Thiệm-Ba.

Lúc nhỏ, nhà vua rất hung bạo, không được vua cha yêu mến. Khi nước Takasasila (Đức-xoa-thi-la) làm phản, phụ vương sai ông đi dẹp loạn, với ý muốn ông chết trong chiến trận. Nhưng A-dục lại bình định được quân phản loạn, quyền uy vang lừng. Sau khi phụ vương băng hà, ông giết chết anh em mình rồi lên ngôi.

Có thuyết cho rằng A-dục giết 99 người anh em, sau khi ông lên ngôi vẫn còn hung bạo, giết đại thần và phụ nữ, xây lao ngục, tàn hại nhân dân vô tội, do đó bị gọi là Chiên-đà A-dục Vương (S: Candàsoka). Trong ấn Độ Phật Giáo Sử của Đa-la-na-tha gọi ông là Kamasoka (Ái-dục A-dục). Nhưng chương 4,5 và 6 trong chỉ dụ khắc trên phiến đá lớn, chương 7 trong chỉ dụ khắc trên trụ đá và trong chỉ dụ của hoàng hậu đều chép rằng: Thời gian vua A-dục trị vì, còn có anh em, chị em. Thế nên truyền thuyết rằng vua A-dục giết hết anh em có thể là do đời sau thêm vào.

Vua lấy thành Hoa Thị làm thủ đô, phạm vi thống trị ba gồm cả toàn bộ Bắc ấn Độ và một nửa Đại Hạ, phía Nam đến Án-đạt-la, phía Đông đến bờ biển, dọc ngang mỗi chiều vài nghìn dặm. Nhà vua còn thi hành chính sách thích hợp với quần chúng, ưa chuộng chân lý, giàu tinh thần bác ái, quả là từ khi Ấn Độ có lịch sử đến nay, ông là nhà vua thống trị có thành tích to lớn từ trước chưa từng có.

Năm tháng và nhân duyên vua quy y Phật, các kinh, luật đều ghi chép khác nhau:

Theo truyện A-dục Vương 1, do thấy kỳ tích của Hải Tỳ kheo (S: Samudra) nên nhà vua quy y Phật.

Theo chương 6 trong Đảo Sử và Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa 1, vua quy y Phật nhờ sự cảm hóa của ngài Nigrodha.

Theo chương 6 trong Ấn Độ Phật Giáo Sử của ngài Đa-la-na-tha, do sự tích lạ của đệ tử ngài A-la-hán Da-xá (S: Yasa) mà vua quy y Phật.

Theo lời văn trong chỉ dụ khắc trên vách đá nhỏ thì sau khi quy y Phật, trong hơn hai năm rưỡi, tuy là ưu-bà-tắc mà vua không dốc lòng tin Phật; Hơn một năm sau đó, vua mới thân cận chư tăng và nhiệt tâm tu hành.

Tổng hợp và khảo sát đoạn văn trên với câu: “Quán đảnh lên ngôi hơn 10 năm thì đến với tam-bồ-đề”, trong chương 8 của chỉ dụ khắc trên phiến đá lớn, ta thấy vua trở thành Ưu-bà-tắc vào khoảng năm thứ 7 sau khi lên ngôi. Nhưng chương 6 trong Đảo Sử ghi: “Sau khi vua lên ngôi ba năm, vua qui y Phật”.

Theo chương 13 của chỉ dụ khắc trên vách đá lớn, sau khi lên ngôi 8 năm, vua chinh phục Kalinga; Thấy cảnh giết chóc, tâm vua bị kích động mạnh, nhờ đó tín tâm đối với Phật giáo càng thêm kiên cố. Vì thế, vua bãi bỏ việc dùng binh lực để mưu cầu thống nhất và với niềm tin vững chắc rằng: “Thắng lợi bằng chính pháp là sự thắng lợi cao hơn hết” (chương 13, trong chỉ dụ khắc trên vách đá lớn), vua hết lòng khen ngợi sự truyền bá Phật giáo. Do đó, nửa đời còn lại của vua được gọi là Đạt-ma A-dục Vương (vua A-dục Chính pháp).

Theo truyền thuyết, vua cho xây 84.000 ngôi chùa và 84.000 tháp Phật khắp trong nước. Các việc này đều có ghi trong chương 6 của Đảo Sử, Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa 1, kinh Tạp A-hàm 23, Truyện A-dục Vương 1, nhưng trong chỉ dụ của vua thì không thấy có ghi.

Theo Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa 2 vua lên ngôi 17 năm thì tổ chức kết tập kinh điển lần thứ 3 tại thành Hoa Thị, tôn ngài Mục-kiền-liên-tử Đế-tu (P: Moggaliputta-tissa) làm Thượng tọa, có 1.000 vị trưởng lão tham dự, suốt thời gian 9 tháng mới hoàn tất.

Kế tiếp, nhà vua phái các vị sau đây đến các nước để truyền đạo:

- Majjhantika đến nước Kasmira (Kế Tân) và nước Gandhàra (Kiện-đà-la).

- Mahadeva đến nước Mahisakamandala (Ma-hê-sa-mạn-đà-la).

- Rakkhita đến nước Vanavàsi (Bà-na-bà-tư).

- Yonaka-dhammarakkhita (Đàm vô đức) đến nước Mahà-rattha (Ma-ha-lặc-tha).

- Mahàrakkhita đến nước Yonaka-loka (Du-na-thế-giới).

- Majjhima đến nước Himavantapadesa (Tuyết Sơn Biên).

- Sonaka và Uttara đến nước Suvannabhùmi (Kim Địa).

- Mahinda, Sambala và Baddasàla đến nước Tambapannidipa (Sư tử).

Vùng truyền bá chánh pháp xa đến Syrie, Ai cập, Macedone, Cyrene.

Truyền thuyết lần kết tập thứ ba, truyện A-dục Vương do phương Bắc truyền hoàn toàn không có ghi điều này. Luận Đại Trí Độ 2 (Đại, 25, 70 thượng) tuy có ghi: “Vua A-du-ca mở đại hội Ban-xà-vu-sắt, trong đó các vị Đại luận sư bàn luận khác nhau nên có tên là Biệt bộ”. Nhưng việc này cũng không thể gán cho ý nghĩa kiết tập. Cho nên, truyền thuyết về kỳ kết tập kinh điển lần thứ 3, có thể nói là chưa rõ sự thật.

Niên đại vua ra đời, từ trước nay có nhiều thuyết khác nhau: Chương 13 trong chỉ dụ khắc trên vách đá lớn có câu: “Các vua của 5 vương quốc ở Hy Lạp tại vị cùng niên đại với vua vào năm 261 tr. TL hoặc từ năm 272 đến năm 258 tr. TL”. Do đó, Quán Đảnh lên ngôi được đoán là khoảng năm 270 tr. TL.

Từ khi Phật nhập diệt đến lúc vua A-dục ra đời, kinh Tạp A-hàm 23 (Bắc truyền), phẩm A-du-ca Thí Thổ trong kinh Hiền Ngu 3, Tăng-già-la-sát Sở Tập Kinh, hạ; kinh Tạp Thí Dụ, thượng; Đại Trang Nghiêm Luận Kinh 10, luận Đại Trí Độ 2 ghi: “Vua A-dục ra đời sau đức Phật nhập diệt 1.000 năm”. Luận Dị Bộ Tông Luân ghi: “Vua A-dục ra đời sau đức Phật nhập diệt hơn 1.000 năm”. Thập Bát Bộ Luận và Bộ Chấp Dị Luận ghi: “Vua A-dục ra đời sau đức Phật nhập diệt 116 năm”.

Chương 6 trong Đảo Sử và Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa 2 ghi: “Vua lên ngôi sau khi Phật nhập diệt 218 năm, còn Phật nhập diệt khoảng 100 năm, có Ca-la A-dục Vương (Kàlàsoka) tại vị”. Tây Tạng Văn Vu Điền Huyền Ký (Lihi-yullun-bstan-pa) ghi: “Sau Phật nhập diệt 234 năm, có Đạt-ma A-dục Vương”. Chương 5 trong đảo sử ghi: “Vua A-dục trị vì 37 năm”.

Theo: Đại Trang Nghiêm Kinh Luận 3, 4, 10; Truyện A-Dục Vương, Soạn Tập Bách Duyên Kinh 10; kinh A-dục Vương Tức Hoại Mục Nhân Duyên; Truyện Phó Pháp Tạng Nhân Duyên 3; A- Dục Vương Sự Tích Đại Đường Tây Vực Ký 8; Ấn Độ Tôn Giáo Sử Khảo; Ấn Độ Triết Triết Học Nghiên Cứu 2, 4.

Chúng Sanh Trong Ba Cõi
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Cõi Đại Thiên Và Thời Kiếp
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Niệm Phật Ra Khỏi Ba Cõi
Đời Đường, Thiện Đạo Hòa Thượng tập ký

Phạm Vi Cõi Cực Lạc
Hòa Thượng Thích Trí Thủ

Nước An Lạc Thuộc Cõi Nào Trong Ba Cõi...?
Nguyên Ngụy Huyền Trung Tự sa-môn Đàm Loan

Tịnh Độ Là Ra Khỏi Ba Cõi Hay Còn Trong Ba Cõi...?
Nguyên Ngụy Huyền Trung Tự sa-môn Đàm Loan