Tất cả thánh hiền đều tu tập xứng hợp với tự tâm .  Vì pháp tánh vô biên, nên biển hạnh không thể nào lường được.  Cho nên, trong một giây phút đã trải qua khắp ba vô số kiếp hoặc đã trải qua số kiếp như cát của sông Hằng mà chưa đầy một niệm.  Bàn luận về phạm vi của các địa vị cũng như nói về các dấu chim bay. Nói về bóng dáng của thời gian quá khứ, hiện tại cũng như nói về giọt nước mắt phơi ngoài nắng gắt, như nụ hoa rơi rụng trước cơn gió lốc, như loài không có chân mà muốn chạy nếu bỏ từ phụ A Di Đà thì làm sao đi đến chỗ giải thoát? Căn cơ chậm lụt mà muốn chứng quả nhanh chóng, nếu biết hướng về Tây Phương thì không còn cách xa, như năm màu sắc, màu đen là màu sau cùng; như muôn ngàn dòng dòng sông, cuối cùng đều tuôn chảy về biển cả. Nay đứng về phương diện các hạnh của đại thừa tóm thu vào một hạnh, tôi trình bày đại khái năm môn:

  1. Hạnh tín tâm.
  2. Hạnh chỉ quán.
  3. Hạnh lục độ.
  4. Hạnh bi nguyện.
  5. Hạnh xứng pháp.

1. Hạnh tín tâm

Kinh Hoa Nghiêm ghi: “Niềm tin là bước đầu vào đạo, là mẹ của tất cả công đức”.  Tất cả các hạnh đều lấy niềm tin làm chánh nhân cho đến viên mãn quả bồ đề chỉ là hoàn thành cái gốc niềm tin này, như hạt lúa gieo xuống đất, đến khi thu hoạch cũng không khác với hạt lúa đã gieo; như măng tre non mới nhú, đến khi có cành lá rậm rạp thì trước  sau chỉ là một gốc.  Bồ tát mới phát tâm đều dựa vào năng lực của niềm tin này để thành tựu.  Tất cả người tu Tịnh Độ hoàn toàn dựa vào niềm tin này làm căn bản:

– Một là tin căn bản trí, bất động trí của Phật A Di Đà với ta không khác, như khoảng hư không mà mặt trời chiếu soi thì sáng tỏ,  mây đen che khuất thì thì tối tăm mù mịt.  Hư không vốn không có tánh sáng, tối.  Vậy thì mây với mặt trời không ngoài thể của hư không.

– Hai là tin Phật A Di Đà từ khi phát nguyện đến trăm triệu kiếp, Ngài làm được tất cả việc khó làm, nhẫn được nhiều điều khó nhẫn.  ta cũng có khả năng làm được như thế.  Tại sao vậy?  Vì ta tự nhớ lại từ kiếp vô thỉ nổi chìm liên miên trong ba đường dữ, chịu sự sinh khổ, chết khổ, mang lông đội sừng khổ, nằm giường sắt, ôm cột đồng khổ.  Tất cả nỗi khổ vô ích ấy, ta đều có khả năng chịu đựng được; huống chi ngày nay, vạn hạnh cứu vớt chúng sinh của bồ tát, chẳng lẽ ta không thể thực hành được sao?

– Ba là tin Phật A Di Đà có vô lượng trí tuệ, vô lượng thần thông và thành tựu vô lượng nguyện lực.  Ta cũng sẽ được như thế.  Tại sao vậy?  Vì trong tự tánh phương tiện của Như Lai có đủ các việc không thể nghĩ bàn như thế, mà ta với Như Lai cũng đồng một thể tự tánh thanh tịnh.

– Bốn là tin Phật A Di Đà không đến, không đi.  Ta cũng không đến, không đi.  Cõi Ta Bà và cõi Tây Phương không ngăn cách đường tơ kẽ tóc, nếu ta muốn thấy thì liền thấy.  Tại sao vậy?  Vì tất cả các đức Phật đều lấy pháp tánh làm thân, làm cõi nước.

– Năm là tin Phật A Di Đà tu hành trải qua số kiếp cho đến khi chứng quả không dời đổi một giây phút.  Nay ta cũng không dời đổi một giây phút mà ngang bằng địa vị của các đức Phật.  Tại sao vậy?  Vì sự phân chia thời gian là thuộc về nghiệp, mà trong biển pháp giới thì nghiệp không có bản chất chân thật.

Tin hiểu như thế chính là tâm đầu tiên để bước vào đạo, tức là tin hạnh tịnh độ của tất cả các đức Phật.

2. Hạnh chỉ quán

Xưa nay, đối với các kinh như kinh Viên giác, kinh Lăng Nghiêm, kinh Hoa Nghiêm và các kinh Phương đẳng, các học giả trình bày rộng về các môn quán.  Chỉ có ba pháp quán của tông Thiên Thai trình bày rất thẳng tắt, chỉ bày phương tiện của nhất tâm, là tập hợp chỗ trọng yếu của các pháp, là con đường tắt của sự tu hành, không có một pháp nào vượt qua ba pháp quán này.  Tông chỉ của Tây Phương có mười sáu pháp chánh quán.  Thế nhưng, trong pháp quán nào cũng bao hàm ba nghĩa này.  Tông Thiên Thai giảng kinh trực tiếp sử dụng ba đế để tóm thu mười sáu pháp quán kia.  Sách Diệu tông sao ghi: “Trong tánh, thể của ba đức là ba thân của các đức Phật.  Ngay nơi ba thân, ba đức này là ba pháp quán ở trong nhất tâm của ta.  Nếu không phải như vậy thì thấy ở bên ngoài có Phật, cảnh không phải là tâm.  Vậy thì làm sao gọi là pháp quán tuyệt đối của viên tông được?  Cũng có thể bảo rằng ba thân của  A Di Đà là pháp thân, ba pháp quán của ta là bát nhã.  Khi pháp quán thành tựu thì thấy Phật tức là giải thoát.  Nói một pháp quán mà đầy đủ cả ba nghĩa, như chữ y  ∆ trong chữ Phạn.  Quán Phật đã như vậy thì quán y báo, chánh báo cũng không khác”.  Nếu muốn hiểu rộng thì xem trong Sớ sao.  Ở đây không thể nào thuật lại đầy đủ cho được.  Đến như thiền sư Ôn Lăng chỉ dùng một tiếng niệm Phật nhập vào ba pháp quán.  Nói niệm Phật đủ cả ba pháp quán thì cũng như nói ngay một tiếng niệm Phật liền thấu suốt thể của chủ thể niệm này rỗng không, nên đối tượng niệm cũng không có tướng.  Như vậy, ngay khi niệm Phật có Không quán; đức Phật đối tượng tức là ứng thân, tức là cái tâm phá kiến tư hoặc.  Tuy thể của chủ thể niệm rỗng không, đối tượng niệm không có tướng, nhưng không ngại sự rõ ràng của chủ thể niệm, sự hiện bày của đối tượng niệm.  Như vậy, ngay khi niệm Phật có Giả quán; đức Phật đối tượng tức là báo thân, tức là cái tâm phá trần sa hoặc.  Mặt khác, ngay khi chủ thể niệm, đối tượng niệm đều rỗng không tức là chủ thể niệm, đối tượng niệm hiện bày.  Ngay khi chủ thể niệm, đối tượng niệm hiện bày tức là chủ thể niệm, đối tượng niệm vắng lặng.  Do đó, Không quán, Giả quán tồn tại lẫn nhau.  Như vậy, ngay khi niệm Phật có Trung quán; đức Phật đối tượng tức là pháp thân, tức là cái tâm phá vô minh hoặc.  Cho nên, ngay cái nhân niệm Phật thì rốt cuộc đầy đủ cả ba đế, bốn cõi tịnh độ kia thanh tịnh như cầm một hạt bụi rồi biến đất đai thành vàng ròng.

Đây chính là môn quán pháp giới viên dung không thể nghĩ bàn.

3. Hạnh lục độ

Luận Đại thừa khởi tín ghi: “Từ sơ chánh tín trở lại, đến khi sắp đủ vô số kiếp thứ nhất, ở trong pháp chân như, bồ tát hiểu sâu sắc sự tu tập hiện tiền vốn lìa tướng.  Vì biết thể của pháp tánh xa lìa tham lam, nên bồ tát tùy thuận pháp tánh tu tập bố thí ba la mật.  Vì biết pháp tánh không nhiễm ô, xa lìa tội lỗi của ngũ dục, nên bồ tát tùy thuận pháp tánh tu tập trì giới ba la mật.  Vì biết pháp tánh không khổ, xa lìa phiền não giận hờn, nên bồ tát tùy thuận pháp tánh tu tập nhẫn nhục ba la mật.  Vì biết pháp tánh không có tướng của thân tâm, xa lìa sự lười biếng, nên bồ tát tùy thuận pháp tánh tu tập tinh tiến ba la mật.  Vì biết pháp tánh thường định, thể không có loạn động, nên bồ tát tùy thuận pháp tánh tu tập thiền định ba la mật.  Vì biết thể của pháp tánh sáng suốt, xa lìa vô minh, nên bồ tát tùy thuận pháp tánh tu tập bát nhã ba la  mật”.  Luận Trí độ ghi: “Vì quán sát tất cả các pháp đều tất cánh không, nên bồ tát không sinh tâm tham lam.  Tại sao vậy? Vì trong tất cánh không không có tham lam , vì gốc rễ của tham lam đã bị chặt đứt cho đến bồ tát quán sát bát nhã ba la  mật tất cánh không, nên bồ tát không bao giờ sinh tâm si mê.  Sở dĩ như vậy là tại sao?  Vì Phật nói tất cả các pháp không có cho, không có nhận, không có giới, không có phạm cho đến không có trí mà cũng không có ngu”. Lại nói: “Bồ tát tuy bố thí nhưng không thấy có sự bố thí, vì bồ tát bố thí mà tâm rỗng rang thanh tịnh.  Bồ tát suy nghĩ:  Sự bố thí kia thì rỗng không, không có gì cả, vì chúng sinh cần nên bồ tát cho, như đứa bé lấy đất làm vàng bạc, người lớn không thấy đó là vàng bạc nên hào phóng cho nó, nhưng thật ra cho mà như không cho”.  Năm pháp kia cũng theo đây suy ra mà biết.  Đó là nói bồ tát tu tập lục độ.  Còn người tu Tịnh Độ thì không có danh tướng sai biệt như vậy, cũng không có hạnh nào vượt qua được một hạnh Niệm Phật này mà đầy đủ sáu nghĩa:

1-  Xả bỏ các tạp niệm là thực hành bố thí.  Lại nữa , vì chuyên chú vào tiếng niệm Phật, nên tâm không có trụ niệm, không có xả niệm.  Đó là bố thí xứng hợp với tự tánh.

2–  Trong niệm nào cũng đều tanh tịnh, đó là thực  hành trì giới.  Lại nữa, vì chuyên chú vào tiếng niệm Phật, nên tâm không mong cầu diệt các niệm.  Đó là trì giới xứng hợp với tự tánh.

3–  Những niệm lăng xăng về thế gian đều lặng lẽ, đó là thực hành nhẫn nhục.  Lại nữa, vì chuyên chú vào tiếng niệm Phật, nên tâm không dính dáng đến sự dẹp các niệm.  Đó là nhẫn nhục xứng hợp với tự tánh.

4–  Tất cả các niệm đều không lui sụt, đó là thực hành tinh tiến.  Lại nữa, vì chuyên chú vào tiếng niệm Phật, nên tâm không chấp vào các khổ hạnh.  Đó là tinh tiến xứng hợp với tự tánh.

5–  Đắc Niệm Phật tam muội, đó là thực  hành thiền định.  Lại nữa, vì niệm nào cũng đều là Phật, nên tâm không đắm say thiền vị.  Đó là đại định.

6–  Thấu suốt được cái nhân của việc niệm Phật là ngay khi niệm tức là Phật, đó là thực hành trí tuệ.  Lại nữa, vì niệm vốn chẳng phải có, Phật vốn chẳng phải không, nên tâm không rơi vào lối chấp đoạn, thường.  Đó là nhất thiết chủng trí.

Cho nên, một môn Niệm Phật có thể tóm thu các hạnh.  Tại sao vậy?  Vì Niệm Phật là pháp môn nhất tâm, ngoài tâm không có các hạnh nào khác, nhưng cũng không phế bỏ các hạnh.  Nếu phế bỏ các hạnh thì cũng tức là phế bỏ tâm.

4. Hạnh bi nguyện

Các đức Phật, các vị bồ tát có biển tánh vô tận, có sự cúng dường, sự trì giới, sự bố thí vô tận cho đến làm nhiều sự lợi ích cũng vô tận, như Phổ Hiền phát mười đại nguyện: “Khi cõi hư không, cõi chúng sinh  không cùng tận, thì nguyện này của ta cũng không cùng tận.  Nghiệp lành của thân, miệng, ý luôn luôn hoạt động tích cực gọi là nguyện vương”.  Tất cả các đức Phật đều thành tựu nguyện vương như thế, cho nên chứng quả niết bàn tối hậu.  Bốn môn trước trong Tịnh độ ngũ niệm môn của bồ tát Thiên Thân cho sự lễ bái, sự tán dương, sự phát nguyện, sự quán sát là thành tựu môn nhập công đức; cho hồi hướng đến tất cả chúng sinh phiền não, nhổ bật nỗi khổ của thế gian là thành tựu môn xuất công đức.  Bồ tát tu tập Ngũ niệm môn thì mau chóng thành tựu tuệ giác vô thượng.

Hỏi: Phật và chúng sinh vốn không có gì cả như kinh Tịnh Danh ghi: “Bồ tát quán sát chúng sinh như tiếng vang dội, như chùm bọt nước, như sự bền chắc của cây chuối, như sự lâu dài của làn điện chớp, như sắc trong  cõi vô sắc, như mầm lúa bị cháy khô, như sự tham lam, giận dữ, hủy phạm giới của bồ tát đắc vô sinh pháp nhẫn, như tập khí, phiền não của Phật, như người nằm chiêm bao thấy mình đã thức dậy”.  Bồ tát quán sát chúng sinh là như thế.  Vậy thì chúng sinh vốn không. Bồ tát luôn luôn làm lợi ích cho chúng sinh, chẳng lẽ bồ tát không thấy chúng sinh huyễn như hoa đốm trong hư không sao?

Đáp: Luận Trí độ ghi: “Thế Tôn nói không có Phật để phá bỏ cái chấp về Phật, chứ không phải nói để chấp chặt vào cái tướng không có Phật.  Vì thế, nên biết, nói không có chúng sinh để quét sạch cái chấp có chúng sinh, chứ không phải nói để mắc kẹt vào cái tướng không có chúng sinh”.  Tịnh Danh nói: “Bồ tát quán sát xong, tự nói rằng ta sẽ vì chúng sinh mà thuyết pháp này, đó là tâm từ chân thật”.  Điều ấy cũng cho biết bồ tát không nắm bắt cái tướng không có chúng sinh.  Lại nữa, bồ tát thuyết pháp này vì sự lợi sinh chân thật, vì tâm bi nguyện chân thật, chứ  không phải chỉ vì việc cứu độ chúng sinh.  Kinh Bát nhã  ghi: “Bồ tát thâm nhập tâm đại bi vô bờ bến như người cha hiền vô cùng đau xót khi thấy đứa con mình bị chết vì không có thức ăn.  Thế nhưng, đứa con này vốn hư ảo thì thế nào nó cũng phải chết”.  Cũng vậy, các đức Phật biết các pháp rỗng không, rốt cuộc đều không có bản chất chân thật.  Chúng sinh ngu si không biết lẽ này.  Vì thế, cho nên, ở trong pháp rỗng không mà say sưa đắm nhiễm.  Vì bị đắm nhiễm, cho nên chúng sinh rơi vào đại địa ngục.  Do đó, các đức Phật thâm nhập tâm đại từ, vận dụng tâm từ bi quảng đại cũng chính vì chúng sinh rỗng không, cũng chính vì chúng sinh dối trá lao vào con đường sinh tử nguy ngập.  Các đức Phật đâu có vì một lý do nào khác mà lui sụt tâm bi nguyện bao la. Nên biết, bồ tát luôn luôn phát nguyện độ sinh vì hiểu thâm sâu nghĩa không có chúng sinh.  Tại sao vậy?  Nếu thấy có một chúng sinh nào thì cũng còn  có ngã, tâm từ bi vì vậy mà kém cỏi, đâu có thể thực hành các hạnh lợi ích như thế.  Tiên đức nói : “Chưa bước lên địa vị cứu cánh thì hoàn toàn là môn tự lợi.  Từ bậc sơ tâm thập tín trải qua các giai vị như thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, thẳng đến diệu giác, trước khi thành Phật tu hạnh Phổ Hiền vẫn là tự lợi.  Còn môn lợi tha phải bước lên địa vị diệu giác, sau khi thành Phật tu hạnh Phổ Hiền mới là hạnh lợi tha”.  Đức Phật dạy các thầy tỳ kheo: “Quả báo công đức rất thâm sâu, không có người nào biết cái nhân công đức được quả báo thù thắng như ta đã biết.  Ta tuy đã thành Phật nhưng tâm vẫn ưa thích tu nhân công đức không bao giờ biết đủ.  Tuy biết công đức không có bản chất chân thật, nhưng tâm ưa thích tu công đức của ta không hề thôi nghỉ”.

Vì thế, nên biết, biển hạnh vô biên không thể dùng sào tre, thước gỗ mà có thể đo được đáy biển sâu thăm thẳm kia, như đứa bé ngu si thấy người khác chỉ cây sào dựng đứng ở trước cửa, nó bèn cho là cây sào cao đến giữa trời, vội vàng nói rằng khoảng cách từ mặt đất đến trời cao lồng lộng chỉ bằng chiều dài hai cây sào kia.  Sự hí luận về Phật pháp cũng theo đây suy ra mà biết.

5. Hạnh xứng hợp với pháp tánh

Biển pháp giới thì vô lượng vô biên, biển hạnh của bồ tát cũng vô lượng vô biên.  Nếu muốn dùng bột màu, bút mực tô vẽ hư không thì thật là vô ích, vì pháp giới bao la vô hạn, làm sao tìm được dấu vết?  Cho nên, hạnh xứng hợp với tự tánh của bồ tát chẳng phải có, chẳng phải không, chẳng phải hành, mà cũng chẳng phải không hành, chỉ là hạnh xứng hợp với pháp tánh tự tại mà thôi.

1–  Bồ tát độ tất cả chúng sinh rốt cuộc đến địa vị vô dư niết bàn mà cõi chúng sinh không  giảm bớt, như con rối bước lên hí trường rõ ràng là diễn những trò buồn, vui.  Nhưng thật ra, con rối kia chỉ là một lớp bùn, rỗng không, không có gì cả.  Đó là hạnh xứng hợp với pháp tánh.

2–  Bồ tát đi vào địa ngục vô gián mà tâm tư không có phiền não, giận hờn; đi vào địa ngục mà không có tội ác; đi vào cõi súc sanh mà không có các lỗi  vô minh, kiêu mạn, v.v…như cô gái họ Thanh  kia hồn lìa khỏi xác đi tìm lạc thú cho đến khi cô ấy sinh con mà thân vẫn thường bên cạnh cha mẹ.  Đó là hạnh xứng hợp với pháp tánh.

3–  Tự thân của bồ tát nhập định, thân khác xuất định.  Một thân nhập định, nhiều thân xuất định. Từ thân hữu tình nhập định, từ thân vô tình xuất định, như mãnh hổ xốc thây chết đứng dậy quỳ lạy, nhảy múa.  Đó là do mãnh hổ ưa thích vui đùa, chứ thây chết vốn không biết gì.  Đó là hạnh xứng hợp với pháp tánh.

4–  Bồ tát vào trong thân hình một chúng sinh nhỏ bé để vận hành bánh xe đại pháp, đốt cháy bó đuốc đại pháp, phát tiếng sấm đại pháp, làm sụp đổ cung  ma, chấn động địa cầu, độ vô luợng vô biên chúng sinh nhưng mà chúng sinh nhỏ bé kia không hề hay biết, như vị nhạc thần của Thiên Đế chạy trốn vào mũi của cô gái, mọi người tìm kiếm không ra, mà cô gái kia cũng không hề hay biết.  Đó là hạnh xứng hợp với pháp tánh.

5–  Muốn trụ lâu ở đời, bồ tát liền đem thời gian trong khoảnh khắc kéo dài thành vô lượng vô số trăm ngàn ức trăm triệu kiếp.  Muốn trụ mau chóng ở đời, bồ tát liền đem thời gian vô lượng vô số trăm ngàn ức trăm triệu kiếp rút ngắn lại trong khoảnh khắc, như đứa bé xem đèn kéo quân chạy vòng vòng mãi không có đầu đuôi.  Đó là hạnh xứng hợp với pháp tánh.

Vì vậy, nếu người chứng được hạnh không thể nghĩ bàn như thế thì tịnh độ của các đức Phật trong ba thời gian thu vào một niệm không sót.  Đó là hạnh trang nghiêm tịnh độ của bồ tát vận dụng trí chiếu vô tư để thấy, chứ không phải tri kiến thường tình có thể suy lường.  Tại sao vậy?  Vì tự tánh siêu việt hết thảy mọi sự suy lường.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
hư không
(虛空) Phạm:Àkàza. Dịch âm: A ca xá. I. Hư Không. Chỉ cho pháp vô vi thanh tịnh, không bị chướng ngại. Là 1 trong 3 vô vi của Thuyết nhất thiết hữu bộ và Kinh lượng bộ, 1 trong 9 vô vi của Đại chúng bộ và Hóa địa bộ, 1 trong 6 vô vi của luận Bách pháp minh môn và luận Thành duy thức, 1 trong 4 vô vi của luận Đại thừa ngũ uẩn, 1 trong 8 vô vi của luận Du già sư địa và luận A tì đạt ma tạp tập, v.v... II. Hư Không. Khoảng không bao la, gồm có 5 nghĩa: Trùm khắp, thường hằng, không bị ngăn ngại, không phân biệt, dung nạp hết thảy muôn vật. Còn theo Tông kính lục quyển 6, thì Hư không có 10 nghĩa: Không chướng ngại, cùng khắp, bình đẳng, rộng lớn, vô tướng, thanh tịnh, bất động, hữu không, không không, vô đắc. [X. luận Đại tì bà sa Q.75; luận Câu xá Q.1, Q.6; luận Ngoại đạo tiểu thừa niết bàn, luận Du già sư địa Q.53; luận A tì đạt ma tạng hiển tông Q.1; luận Thuận chính lí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Câu xá luận bảo sớ Q.1]. (xt. Hư Không Vô Vi). III. Hư Không. Tên khác của Không giới. Chỉ cho khoảng không gian, nơi tồn tại của tất cả các pháp, 1 trong 6 giới. Tuy nhiên, cứ theo Thuyết nhất thiết hữu bộ, thì giữa hư không và không giới có sự khác nhau, bộ này cho rằng Hư không chẳng phải sắc, còn Không giới thì là sắc; Hư không không thấy được, Không giới thì thấy được; Hư không vô lậu, Không giới hữu lậu; Hư không vô vi, Không giới hữu vi. Cái không mà chúng ta thấy đó là không giới, chứ chẳng phải Hư không. Nhưng trong các kinh thì phần nhiều không phân biệt 2 từ này mà dùng thay cho nhau. Ngoài ra, Hữu bộ còn cho rằng sắc của Không giới lấy sáng, tối làm thể, là có thật. Nhưng các bộ phái khác thì không công nhận thuyết này. [X. luận Du già sư địa Q.54; luận Đại tì bà sa Q75; luận Câu xá Q.1; luận Pháp uẩn túc Q.10; luận Thuận chính lí Q.2; Đại thừa nghĩa chương Q.2; Du già luận kí Q.14 phần dưới].
bố thí
(布施) Phạm: Pàli: Dàna. Dịch âm: Đàn na, Đà na, Đàn. Cũng gọi Thí. Hoặc là dịch từ tiếng Phạmdakwiịà, dịch âm: Đạt sấn, Đại sấn, Sấn. Dịch ý là tài thí, thí tụng, sấn thí. Nghĩa là vì lòng từ bi đem phúc lợi ban cho người. Bố thí vốn là pháp mà đức Phật khuyên hàng ưu bà tắc làm theo; nghĩa chính của nó là đem những vật như cơm ăn, áo mặc cho các bậc đại đức và những người nghèo khổ. Đến thời Đại thừa thì Bố thí là một trong sáu ba la mật và, ngoài việc ban phát của cải, thức ăn uống ra, còn thêm hai thứ bố thí nữa là Pháp thí (nói Pháp cho người nghe) và Vô úy thí (làm cho người khác không sợ hãi) để mở rộng ý nghĩa và phạm vi bố thí. Tóm lại, Bố thí là một phương pháp tu hành đem tài vật, thể lực, trí tuệ v.v... cho người khác, vì người mà tích lũy công đức, tạo phúc thành trí, để cuối cùng được giải thoát. Đại thừa nghĩa chương quyển 12 giải thích nghĩa bố thí như sau: Đem tài vật của mình chia xẻ cho người khác, gọi là Bố. Lòng mình lo lắng cho người, gọi là Thí. Tiểu thừa bố thí nhằm mục đích diệt trừ lòng tham lam bỏn xẻn của cá nhân để thoát khỏi sự nghèo khổ của kiếp sau, Đại thừa thì liên kết bố thí với giáo nghĩa đại từ bi nhằm siêu độ chúng sinh. Người bố thí tài vật gọi là Đàn việt (Phạm: dànapati, hàm ý chủ của sự bố thí, dịch ý là Thí chủ, Đàn na chủ, nói tắt là Đàn na). Tài vật để bố thí gọi là Sấn tư ..Sấn tài, Sấn kim, Sấn tiền, Đường sấn (ý là tài vật bố thí cho chư tăng của nhà Tăng), Biểu sấn (ý là phân chia tài vật), Tín thí (ý là tài vật do tín đồ bố thí). Bố thí là một trong sáu niệm (niệm thí), một trong bốn nhiếp pháp (Bố thí nhiếp), một trong sáu Ba la mật (Bố thí ba la mật), một trong mười ba la mật (Đàn ba la mật). Bố thí có thể khiến người ta trừ bỏ lòng tham, như bố thí những thứ áo mặc, cơm ăn cho Phật, tăng và người nghèo khổ, chắc chắn sẽ được quả báo hạnh phúc. Còn giảng nói chính pháp cho người nghe, khiến họ được công đức lợi ích, gọi là Pháp thí. Làm cho người khác thoát khỏi mọi sự sợ hãi, gọi là Vô úy thí. Tài thí, Pháp thí và Vô úy thí là ba hạnh của Bồ tát thực hành, trong đó, công đức của Pháp thí lớn hơn cả. Bố thí nhằm diệt trừ lòng tham và mong cầu khai ngộ là bố thí trong sạch; ngược lại là bố thí không trong sạch. Về pháp thí, nếu nói pháp khuyên người ta cầu sinh ở cõi người cõi trời, gọi là Thế gian pháp thí. Còn giáo pháp (37 phẩm trợ đạo và 3 giải thoát môn) khuyên người thành Phật, gọi là xuất thế gian pháp thí. Ngoài ra, về sự khác nhau giữa Bố thí và Bố thí ba la mật, cứ theo kinh Ưu bà tắc giới quyển 2 chép, thì Bố thí của Thanh văn, Duyên giác, phàm phu, ngoại đạo và Bố thí của Bồ tát ở hai a tăng kì kiếp đầu thực hành gọi là Thí; còn Bố thí của Bồ tát ở a tăng kì kiếp thứ ba thì gọi là Thí ba la mật. Cứ theo phẩm Tựa trong kinh Bồ tát thiện giới quyển 1 nói, thì Bồ tát tại gia thực hành Tài thí và Pháp thí; Bồ tát xuất gia làm bốn pháp thí: Bút thí, Mặc (mực) thí, Kinh thí, và Thuyết pháp thí. Còn Bồ tát được vô sinh pháp nhẫn thì thực hành ba pháp thí: Cụ túc thí, Đại thí và Vô thượng thí. Luận Câu xá quyển 18 nêu ra tám loại bố thí: Đến đâu cho đó, cho sự can đảm, cho để đền ơn, cho cầu báo, cho vì theo thói quen của người trước, cho để cầu mong sinh cõi trời, cho để cầu danh, vì trang nghiêm tâm mà cho v.v... Cũng quyển 18 của sách đã dẫn còn nêu bảy thứ bố thí: cho người khách, cho người đi đường, cho người bệnh, cho người săn sóc bệnh nhân, cho vườn rừng, cho ăn thường, cho tùy lúc v.v... Kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) quyển 12 phẩm Vô tận tạng thì nêu mười pháp bố thí: tu tập thí, tối hậu nan thí (tức cho cả thân mệnh), nội thí, ngoại thí, nội ngoại thí, nhất thiết thí, quá khứ thí, vị lai thí, hiện tại thí, và cứu kính thí v.v... Vì nội dung, thái độ và mục đích khác nhau của hành vi bố thí nói ở trên nên có những hình thức bố thí không giống nhau. Lại nữa, bản chất người cho, người nhận và vật để cho là không, không bị dính mắc, gọi là Tam luân thể không, Tam luân thanh tịnh. [X.Trung a hàm Q.30 kinh Phúc điền; kinh Tăng nhất a hàm Q.4, Q.9. Q.20; kinh Đại bát nhã ba la mật Q.469, Q.569; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bố thí; luận Đại trí độ Q.14, Q.29; luận Du già sư địa Q.39]. (xt. Đật Sấn).
chân như
(真如) Phạm: Bhùta-tathatàhoặctathatà. Chỉ bản thể chân thực tràn khắp vũ trụ - là nguồn gốc của hết thảy muôn vật. Còn gọi Như như, Như thực, Pháp giới, Pháp tính, Thực tế, Thực tướng, Như lai tạng, Pháp thân, Phật tính, Tự tính thanh tịnh thân, Nhất tâm, Bất tư nghị giới. Trong sách Phật Hán dịch ở thời kì đầu dịch là Bản vô. Chân, chân thật không hư dối - Như, tính của sự chân thật ấy không thay đổi. Tức là cái mà Phật giáo Đại thừa gọi là Bản thể của muôn vật. Nhưng luận cứu một cách tường tận, thì mỗi tông, mỗi nhà giải thích danh từ Chân như đều có khác, tổng kết có thể đưa ra mấy định nghĩa như sau đây. Cứ theo các kinh điển A hàm chép, thì lí pháp duyên khởi là chân lí vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân như. Lại cứ theo luận Dị bộ tông luân, thì trong chín vô vi mà Hóa địa bộ liệt kê, có Thiện pháp Chân như, Bất thiện pháp Chân như, Vô kí pháp Chân như, Đạo chí Chân như, Duyên khởi Chân như. Trong đây, ba tính Thiện, Bất thiện, Vô kí, tám chính đạo và lí pháp sinh tử duyên khởi, đều là chân thực và vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân như. Phật giáo Đại thừa chủ trương: bản tính của hết thảy sự tồn tại là Nhân vô ngã, Pháp vô ngã, bản tính ấy siêu việt các tính sai biệt, cho nên gọi là Chân như - như tự tính Pháp thân của Như lai chẳng hạn. Cứ theo Phật địa kinh luận quyển 7, thì Chân như là thực tính của hết thảy hiện tượng (chư pháp), hình tướng tuy sai biệt, nhưng bản thể thì là một, lời nói, suy tư không thể lường được. Để phân biệt với quan điểm sai lầm, hư dối mà tạm gọi là Chân như thôi. Nếu cho đó là chỗ nương tựa của hết thảy pháp lành, thì gọi là Pháp giới - để tránh quan niệm cho là không, thì gọi Thực hữu - để tránh quan niệm nhận là có, thì gọi Không vô - là chân thực, thì gọi Thực tế - vì là trí không phân biệt nên tạm gọi là Thắng nghĩa. Kinh Đại bát nhã quyển 360, nêu mười hai tên gọi: Pháp giới, Pháp tính, Tính không hư dối, Tính không đổi khác, Tính bình đẳng, Tính lìa sống, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không giới và Bất tư nghị giới. Luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 2 thì nêu ra sáu tên: Chân như, Tính không, Vô tướng, Thực tế, Thắng nghĩa và Pháp giới. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 8 phần dưới thì nêu ra mười bốn tên: Thực tướng, Diệu hữu, Chân thiện diệu sắc, Thực tế, Tất kính không, Như như, Niết bàn, Hư không, Phật tính, Như lai tạng, Trung thực lí tâm, Phi hữu phi vô trung đạo, Đệ nhất nghĩa đế và Vi diệu tịch diệt. Ngoài ra còn gọi là Nhất như thực tướng, Chân như nhất thực, Chân thực tế, Chân thắng nghĩa đế v.v... Vì tướng chân như bình đẳng tuyệt đối nên cũng gọi là Nhất tướng. Kinh Giải thâm mật quyển 3, có nói bảy Chân như: 1. Lưu chuyển chân như (lí pháp duyên khởi). 2. Thực tướng chân như (thực tính của các pháp). 3. Liễu biệt chân như (lí pháp vạn pháp duy thức). 4 đến 7 phối hợp với bốn đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo theo thứ tự là: An lập chân như, Tà hành chân như, Thanh tịnh chân như và Chính hành chân như. Trong bảy Chân như kể trên, ngoài Thực tướng chân như ra, sáu thứ còn lại cũng gọi là sáu Chân như, vì tự thể của các lí pháp vĩnh viễn bất biến, cho nên gọi là Chân như, đó là do các tướng trạng được hiển hiện bởi Chân như thực tướng mà đặt tên là Chân như. Thuyết của tông Pháp tướng, cứ theo luận Thành duy thức quyển 9 chép, thì Chân như là pháp xa lìa sự phân biệt hư dối, là tính Nhân vô ngã, Pháp vô ngã, tương đương với tính Viên thành thực trong ba tính. Tông này chủ truơng hết thảy hiện tượng đều từ thức A lại da sinh ra, cho nên bản thân Chân như là cái thể vắng lặng tuyệt đối, siêu việt hết thảy hiện tượng, tự thể của nó không trở thành hiện tượng, cho nên nói Chân như vắng lặng, không tạo các pháp. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 10 chép, thì Bồ tát phải đến Sơ địa mới ngộ lí Chân như. Theo thứ tự sâu, cạn của nội dung giác ngộ mà lập mười Chân như khác nhau: 1. Biến hành chân như, tức lí nhân không, pháp không tràn khắp muôn vật. 2. Tối thắng chân như, Chân như do thân hoàn toàn trụ trì giới Cụ túc mà ngộ được, vì nó có vô lượng công đức, nên gọi Tối thắng. 3. Thắng lưu chân như, giáo pháp từ Chân như lưu xuất, có phần hơn các giáo khác, mà căn bản của giáo ấy tức là Chân như. 4. Vô nhiếp thụ chân như, ý là không trở thành đối tượng của sự chấp trước. 5. Loại vô biệt chân như, nghĩa là sinh tử và Niết bàn chẳng phải hai, mê ngộ nhất như. 6. Vô nhiễm tịnh chân như, Chân như siêu việt nhơ và sạch. 7. Pháp vô biệt chân như, nghĩa là Chân như đã lìa tướng sai biệt, cho nên bất luận bàn về pháp nào thì thể của nó vẫn là một. 8. Bất tăng giảm chân như, nghĩa là đoạn diệt các phiền não ô nhiễm nó chẳng giảm, mà tu các pháp thanh tịnh nó cũng chẳng vì thế mà tăng, tức lìa sự chấp trước tăng giảm. Một khi ngộ được Chân như này, có thể biến hiện các loại hình trạng và quốc độ một cách tự tại, cho nên cũng gọi là Tướng độ tự tại sở y chân như. 9. Trí tự tại sở y chân như, ý là được tự tại đối với bốn trí vô ngại. 10. Nghiệp tự tại đẳng sở y chân như, tất cả tác dụng của thân khẩu ý, như thần thông, tổng trì, Thiền định v.v... đều được tự tại. Lấy mười Chân như trên đây làm thuận tự, từ Sơ địa đến Thập địa, tu hành mười ba la mật, đoạn trừ mười trọng chướng mà đến Bồ đề. Ngoài ra, Chân như của nhân vô ngã (Nhân không chân như) và Chân như của pháp vô ngã (Pháp không chân như) gộp lại gọi là Nhị không chân như - trong đó, Nhị thừa chỉ ngộ được Nhân không chân như, Bồ tát thì có thể ngộ Nhị không chân như. Tông Địa luận chủ trương, tự thể của thức A lại da thứ tám (tông Nhiếp luận gọi là thức A ma la thứ chín) là tâm tự tính thanh tịnh, tâm tự tính thanh tịnh ấy tức là Chân như. Thức của nó, vì chịu sự huân tập của vô minh, cho nên mới hiển hiện ra các hiện tượng nhơ và sạch. Luận Đại thừa khởi tín chủ trương, Chân như là bản thể của tâm chúng sinh, vì nó dứt tuyệt nói năng, suy tưởng nên gọi là Li ngôn chân như - nhưng nếu phải miễn cưỡng dùng lời nói mà biểu hiện, thì gọi là Y ngôn chân như, cả hai Chân như này gộp lại, gọi là Nhị chân như. Đứng về phương diện Y ngôn chân như mà nói thì thể của nó xa lìa tâm mê mà không, cho nên là Như thực không (Không chân như) - vả lại, thể của nó đầy đủ công đức thanh tịnh vô lậu rất mực trong sạch, cho nên là chân thực bất không (Bất không chân như). Đồng thời tâm chúng sinh (tức Chân như) có đủ cả Tâm chân như môn tuyệt đối bất động, và duyên với vô minh mà khởi động sinh diệt, rồi hình thành Tâm sinh diệt môn của các hiện tượng nhơ và sạch, là Tùy duyên chân như, gộp cả hai lại, cũng gọi là Nhị chân như. Thông thường, đối với pháp sinh khởi vạn hữu, nếu thuyết minh theo Chân như bất biến hoặc tùy duyên, thì gọi là Chân như duyên khởi (Như lai tạng duyên khởi). Còn hai Chân như sau đây đều là tiếng đồng loại: Thanh tịnh chân như và Nhiễm tịnh chân như, hoặc Phi an lập Chân như và An lập chân như (An lập, hàm ý là khiến vạn hữu sinh khởi đều đúng vị trí). Tông Hoa nghiêm y theo thuyết Tính khởi, chủ trương Bản thể tức hiện tượng, hàm ý Chân như vốn là muôn pháp, muôn pháp vốn là chân như. Đồng thời, chia Chân như thành Nhất thừa chân như và Tam thừa chân như - Nhất thừa chân như lại chia làm Biệt giáo chân như, Đồng giáo chân như - Tam thừa chân như lại chia làm Đốn giáo chân như, Tiệm giáo chân như, đều do lí giải Chân như một cách bất đồng mà có sự khác nhau như thế. Tông Thiên thai y theo thuyết Tính cụ, chủ trương bản thân Chân như xưa nay vốn có đủ các pháp sạch nhơ thiện ác. Lại tự tính (Chân như) của chư Phật, gọi là Vô cấu chân như, hoặc Xuất triền chân như - còn thể tính Chân như của chúng sinh, vì bị phiền não làm cho nhơ bẩn, cho nên gọi là Hữu cấu chân như, hoặc Tại triền chân như. Gộp cả hai lại, tức là Lưỡng cấu chân như (hai Chân như cáu bẩn). Cứ theo luận Ma ha diễn quyển 3 chép, thì Chân như là ngộ được lí của hai trí Thủy giác và Bản giác, cho nên lập hai nghĩa Tính chân như và Lí hư không. Lí hư không thanh tịnh có mười nghĩa: nghĩa vô ngại, nghĩa chu biến, nghĩa bình đẳng, nghĩa quảng đại, nghĩa vô tướng, nghĩa thanh tịnh, nghĩa bất động, nghĩa hữu không, nghĩa không không và nghĩa vô đắc. [X. kinh Tạp a hàm Q.12, Q.21 - Phật địa kinh luận Q.4, Q.7 - Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.12 - luận Thành duy thức Q.2 - luận Nhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) Q.hạ - Nhiếp đại thừa luận thích (bản dịch đời Đường) Q.8 - Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1 phần cuối].
Pháp Tánh
(法性, Hosshō, ?-1245): vị tăng của Chơn Ngôn Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa thời Liêm Thương, húy là Pháp Tánh (法性), tự Giác Viên (覺圓). Ông theo làm đệ tử của Minh Nhiệm (明任) ở Chánh Trí Viện (正智院) trên Cao Dã Sơn, rồi tu tập yếu chỉ của Mật Giáo với Giác Hải (覺海), và học về sự tướng của Dòng Báo Ân Viện (報恩院流) với Hiến Thâm (憲深) ở Tam Bảo Viện (三寶院). Về sau, ông kiến lập Pháp Tánh Viện (法性院, hay Bảo Tánh Viện [寶性院]) tại Cao Dã Sơn. Vào năm 1242, vì có liên can trong cuộc tranh giành ngôi Tọa Chủ của Kim Cang Phong Tự (金剛峰寺) và Đại Truyền Pháp Viện (大傳法院), ông bị lưu đày đến vùng Xuất Vân (出雲, Izumo) và qua đời tại đó. Ông được xem như là một trong Cao Dã Bát Kiệt (高野八傑, tám nhân vật kiệt xuất của Cao Dã Sơn). Trước tác của ông có Hiển Mật Vấn Đáp Sao (顯密問答抄) 2 quyển.
niệm
(念) I. Niệm. Phạm: Smfti, Smriti. Pàli: Sati. Ghi nhớ, tên của 1 tâm sở(tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo 1 cách rõ ràng không để quên mất. Trong tông Câu xá, Niệm được kể làm 1 trong 10 Đại địa pháp; còn trong tông Duy thức thì nó được xếp vào 1 trong 5 Biệt cảnh. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Du già sư địa Q.55]. II. Niệm. Chỉ cho quán niệm, khẩu niệm, tâm niệm. Quán niệm là quán tưởng Phật thân, Phật pháp; khẩu niệm là dùng miệng xưng danh hiệu của Phật; tâm niệm là dùng tâm tưởng nhớ Phật và Bồ tát. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn]. (xt. Thập Niệm). III. Niệm. Một trong Hành ngũ pháp. Nhớ nghĩ thế gian là hư dối không thực, không nên quyến luyến, mà nên xem việc tu hành thiền định và trí tuệ là quí báu. (xt. Hành Ngũ Pháp). IV. Niệm. Tên giai vị tu hành của Bồ tát, tức là giai vị thứ 2 trong Thập tín vị. (xt. Thập Tín). V. Niệm. Chỉ cho khoảng thời gian rất ngắn. Theo các kinh luận thì 1 niệm bằng 1 sát na, 60 sát na hay 90 sát na. [X. luận Đại trí độ Q.15, 60; Ma ha chỉ quán Q.3, phần 3]. (xt. Nhất Niệm, Sát Na).
kiếp
(劫) .. Phạm: Kalpa Pàli:Kappa. Hán âm: Kiếp ba, Kiếp bả, Kiếp pha, Yết lạp ba. Hán dịch: Phân biệt thời phần, Phân biệt thời tiết, Trường thời, Đại thời, Thời. Vốn là đơn vị thời gian rất dài của Bà la môn giáo ở Ấn độ đời xưa, về sau Phật giáo dùng theo và coi đó là thời gian không thể tính toán được bằng năm tháng. Có thuyết nói 1 kiếp tương đương với 1 ngày ở cõi trời Đại phạm, hoặc 1.000 thời (Phạm:Yuga), tức là bốn mươi ba ức hai nghìn vạn năm (243.000.000 năm) ở nhân gian, cuối kiếp có nạn lửa xảy ra, đốt cháy hết tất cả, sau đó thế giới được thành lập lại. Thuyết khác thì cho rằng 1 kiếp có 4 thời: 1. Viên mãn thời (Phạm: Kftayuga), tương đương với 1.728000 năm. 2. Tam phần thời (Phạm: Tretàyuga), tương đương với 1.296.000 năm. 3. Nhị phần thời (Phạm: Dvàyuga), tương với 864.000 năm. 4. Tranh đấu thời (Phạm: Kaliyuga), tương đương với 432.000 năm. Tất cả 4 thời gồm có 4.320.000 năm.

Theo thuyết này thì thời gian chúng ta đang sống đây thuộc về thời Tranh đấu. Ngoài ra, căn cứ vào thuyết 1 kiếp có 4 thời nói trên, Bà la môn giáo cho rằng so sánh 4 thời với nhau, thì về mặt thời gian càng ngày càng ngắn đi, thân hình con người thấp bé dần và đạo đức mỗi ngày mỗi sa sút, nếu thời Tranh đấu kết thúc thì là mạt kiếp, thế giới sắp bị hủy diệt. Quan niệm về thời gian của Phật giáo lấy Kiếp làm cơ sở để thuyết minh quá trình hình thành và hủy diệt của thế giới. Về vấn đề phân loại các Kiếp, trong kinh luận có nhiều thuyết khác nhau: -

Luận Đại trí độ quyển 38, cho rằng Kiếp có 2 loại: Đại kiếp và Tiểu kiếp. - Diệu pháp liên hoa kinh ưu ba đề xá chia Kiếp làm 5 loại: Dạ, Trú, Nguyệt, Thời, Niên(đêm, ngày, tháng, giờ, năm). - Luận Đại tì bà sa quyển 135 cho rằng Kiếp có 3 loại: Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp. - Luận Câu xá quyển 12 nêu 4 loại: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp. - Luận Chương sở tri quyển thượng chia Kiếp thành 6 loại: Trung kiếp, Thành kiếp, Trụ kiếp, Hoại kiếp, Không kiếp và Đại kiếp. - Du già sư địa luận lược toản quyển 1 phần cuối nói có 9 loại Kiếp: 1. Nhật nguyệt tuế số(số ngày tháng năm). 2. Tăng giảm kiếp(tức Tiểu tam tai kiếp (đói, kém, tật bệnh, đao binh), gọi là Trung kiếp. 3. Hai mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm chúng thiên kiếp. 4. Bốn mươi kiếp là 1 kiếp, tức Phạm tiền ích thiên kiếp. 5. Sáu mươi kiếp là 1 kiếp, tức Đại phạm thiên kiếp. 6. Tám mươi kiếp là 1 kiếp, tức Hỏa tai kiếp. 7. Bảy hỏa tai kiếp là 1 kiếp, tức Thủy tai kiếp. 8. Bảy thủy tai kiếp là 1 kiếp, tức Phong tai kiếp. 9. Ba đại a tăng kì kiếp. Trong các kinh luận còn có những tên gọi Tiểu kiếp, Trung kiếp, Đại kiếp. Tiểu kiếp, Trung kiếp đều được dịch từ tiếng PhạmAntara-kalpa, còn Đại kiếp thì được dịch từ tiếng Phạm Mahà-kalpa. Trong kinh Pháp hoa do ngài Cưu ma la thập dịch, đều gọi là Tiểu kiếp, nhưng trong phẩm Đề bà đạt đa do ngài Pháp ý dịch thì gọi là Trung kiếp. Kinh Đại lâu thán quyển 5 cho 3 tai ách: Binh đao, bệnh tật, đói kém là 3 tiểu kiếp, kinh Khởi thế quyển 9 thì gọi là 3 Trung kiếp. Luận Lập thế a tì đàm cho 80 tiểu kiếp là 1 Đại kiếp; luận Đại tì bà sa thì cho 80 trung kiếp là 1 Đại kiếp. Những sai biệt này đều có thể được xem là do sự phiên dịch khác nhau từ tiếng Phạm Antarakalpamà ra. Chữ Kiếp vốn biểu thị thời hạn, trong đó, tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng Kiếp biểu thị thời gian dài thì thường được dùng để thuyết minh sự sinh thành và hoại diệt của thế giới.

Như đã trình bày ở trên, luận Đại tì bà sa chia Kiếp làm 3 loại: Trung gian kiếp, Thành hoại kiếp và Đại kiếp; luận Câu xá chia làm 4 loại kiếp: Hoại kiếp, Thành kiếp, Trung kiếp và Đại kiếp, v.v... đều nói về sự thành hoại của thế giới. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 135, Trung gian kiếp cũng có 3 loại là: Giảm kiếp, Tăng kiếp và Tăng giảm kiếp. - Giảm kiếp: Thời gian từ lúc con người sống lâu vô lượng tuổi giảm xuống dần đến lúc chỉ còn 10 tuổi. - Tăng kiếp: Thời gian từ lúc con người chỉ sống có 10 tuổi tăng dần lên đến 80.000 tuổi. - Tăng giảm kiếp: Thời gian con người chỉ sống có 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, rồi lại từ 80.000 giảm xuống đến 10 tuổi. Ba loại kiếp trên nói về sự sai khác của 20 Trung kiếp trong kiếp Trụ, tức là trong 20 Trung kiếp của kiếp Trụ, thì kiếp thứ 1 là kiếp giảm, kiếp thứ 20 là kiếp tăng, còn 18 kiếp ở khoảng giữa là kiếp tăng giảm, thời gian của mỗi Trung kiếp đều bằng nhau.

Sở dĩ như vậy là vì trong kiếp giảm đầu tiên, chúng sinh còn nhiều phúc đức nên sự giảm xuống còn tương đối chậm, trong kiếp tăng cuối cùng chúng sinh còn ít phúc đức nên sự tăng lên cũng chậm, còn trong 18 kiếp trung gian, thì thời gian luân lưu có chậm có nhanh, vì thế mà thời gian của 3 kiếp này bằng nhau. Trên đây là luận điểm của Tiểu thừa. Nhưng, theo luận Du già sư địa quyển 2, luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập quyển 6 và Du già sư địa luận lược toản quyển 1, thì Đại thừa lập mỗi kiếp của 20 Trung kiếp đều có tăng giảm, cho nên không cần chia ra 3 thứ kiếp như luận Đại tì bà sa, tức cho mỗi Trung kiếp là tăng giảm kiếp duy nhất. Còn kinh Ưu bà tắc giới quyển 7 thì cho rằng từ 10 tuổi tăng lên đến 80.000 tuổi, lại từ 80.000 tuổi giảm còn 10 tuổi, cứ tăng giảm như thế đủ 18 lần, gọi là Trung kiếp. Trong Trung kiếp nhất định có 3 tai ách xảy ra, gọi là Tiểu tam tai(đao binh, tật bệnh, đói kém). Thời gian xuất hiện của 3 tai ách này có nhiều thuyết khác nhau. Theo luận Đại tì bà sa quyển 134, thì vào kiếp giảm của mỗi Trung kiếp, mỗi khi tuổi thọ con người giảm xuống còn 10 tuổi, thì 3 tai ách liền xuất hiện. Theo luận Đại tì bà sa, trong 1 kiếp, tam tai cùng khởi lên thì trong 20 Trung kiếp của kiếp Trụ đều có tiểu tam tai. Theo luận Lập thế a tì đàm, trong mỗi kiếp lần lượt xảy ra 1 tai ách, thì kiếp thứ nhất là kiếp Tật dịch (Phạm: Rogàntara-kalpa), kiếp thứ 2 là kiếp Đao binh (Phạm: Zastràntara-kalpa), kiếp thứ 3 là kiếp Cơ cận (Phạm: Durbhikwàntara-kalpa), cho đến thứ 19 là kiếp Tật dịch. Trong kiếp Trụ có 20 Trung kiếp như trên, trong các kiếp Hoại, kiếp Không, kiếp Thành... cũng đều có 20 Trung kiếp, cộng chung lại là 80 Trung kiếp.

Trong 3 kiếp Hoại, Không, Thành tuy không có sự tăng giảm khác nhau, nhưng do thời gian của chúng bằng với kiếp Trụ, cho nên đều có 20 Trung kiếp. Tám mươi Trung kiếp là 1 Đại kiếp, 1 Đại kiếp bao gồm 4 kiếp Thành, Trụ, Hoại, Không, là 1 chu kì sinh thành và hoại diệt của thế giới. Thời kì kiếp Hoại, khí thế gian hư hoại, có 3 tai ách xảy ra là: Lửa, nước, gió, gọi là Đại tam tai, để phân biệt với Tiểu tam tai đã nói ở trên. Trong đó, nạn lửa khởi lên thì 7 mặt trời xuất hiện, gió thổi, lửa cháy dữ dội, từ cõi Sơ thiền trở xuống đều bị thiêu rụi. Nạn nước xảy ra do mưa dầm dề, từ cõi Nhị thiền trở xuống đều bị ngập lụt. Nạn gió khởi lên do cuồng phong, từ cõi Tam thiền trở xuống đều bị thổi tan. Theo thứ tự, đầu tiên thế giới bị nạn lửa hủy diệt 7 lần, kế đến bị nạn nước hủy diệt 1 lần, sau nạn nước lại có 7 lần nạn lửa. Đủ 7 lần nạn nước như thế rồi, lại xảy ra thêm 7 lần nạn lửa nữa, sau đó khởi lên 1 lần nạn gió, khí thế giới từ cõi trời Tam thiền trở xuống đều bị thổi tan. Tính chung có 8 x 7 = 56 lần nạn lửa, 7 lần nạn nước, 1 lần nạn gió, tức là 64 chuyển đại kiếp. Như vậy, khí thế giới từ cõi Sơ thiền trở xuống, cứ trải qua 1 đại kiếp thì bị phá hoại 1 lần; cõi Tam thiền thì cứ mỗi 64 đại kiếp lại 1 lần bị phá hoại.

Trong cõi Sắc, chỉ có cõi trời Tứ thiền không bị tam tai phá hoại. Tuổi thọ của trời Đại phạm ở cõi Sơ thiền là 60 Trung kiếp, tức 1 Đại kiếp (trừ 20 kiếp của kiếp Không), tuổi thọ của trời Nhị thiền là 8 đại kiếp, tuổi thọ của trời Tam thiền là 64 đại kiếp. Trong đây, 1 đại kiếp gọi là Hỏa tai kiếp. 7 hỏa tai kiếp gọi là Thủy tai kiếp, 7 Thủy tai kiếp gọi là Phong tai kiếp. Số tích lũy của Đại kiếp là một triệu, nhân lên cho đến A tăng kì thì gọi là 1 A tăng kì kiếp (Phạm: Asaôkhyeya-kalpa), nhân đến 3, gọi là A tăng tì kiếp. Nhưng sự tính toán về lượng thời gian của nó có nhiều thuyết khác nhau. Luận Đại tì bà sa quyển 177 nêu ra 4 thuyết: Thuyết thứ 1 như trên, thuyết thứ 2 là nhân Trung kiếp đến A tăng xí da là 1 A tăng kì kiếp, thuyết thứ 2 là nhân với Thành kiếp, thứ 4 là nhân với Hoại kiếp. Kinh Bồ tát địa trì quyển 9 nói rằng kiếp có 2 thứ: 1. Ngày tháng, ban ngày ban đêm, thời tiết, số năm vô lượng nên gọi là A tăng kì. 2. Đại kiếp vô lượng nên gọi là A tăng kì. Thuyết thứ 1 nói theo kiếp số năm, tháng; thuyết thứ 2 giống với nghĩa chính thống của luận Đại tì bà sa. Tóm lại, thời lượng lâu dài của kiếp, toán số cũng khó lường tính được. Kinh Tạp a hàm quyển 34 có những thí dụ như Giới tử kiếp (Phạm: Sarwapopama-kalpa), Bàn thạch kiếp (Phạm: Parvatopama-kalpa). Đại tạng pháp số có tên gọi của 5 Đại kiếp là: Thảo mộc(cây cỏ),Sa tế(cát mịn), Giới tử (hạt cải), Toái trần(bụi nhỏ)và Phất thạch (lau tảng đá)... để nói về thời lượng lâu dài vô hạn của kiếp. Theo từ điển tiếngPàli của ông Cát nhĩ đắc tư (R.C. Childers) thì Kiếp có 2 loại Không và Bất không. Bất không kiếp lại có 5 thứ khác nhau: 1. Kiên kiếp (Phạm:Sàra-kalpa). 2. Đề hồ kiếp (Phạm: Maịđa-kalpa). 3. Diệu kiếp (Phạm:Vara-kalpa). 4. Kiên đề hồ kiếp (Phạm:Sàra-maịđakalpa). 5. Hiền kiếp (Phạm:Bhadra-kalpa). Tam kiếp tam thiên Phật duyên khởi và kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán quyển 1, nói có 3 kiếp: Quá khứ trang nghiêm kiếp, Hiện tại hiền kiếp, Vị lai tinh tú kiếp, trong mỗi kiếp đều có 1.000 đức Phật ra đời.

Ngoài ra, kinh Hoa nghiêm quyển 2 (bản 80 quyển), dùng lượng nước của biển cả để ví dụ cho số nhiều của số kiếp, gọi là Kiếp hải. [X. kinh Trung a hàm Q.2; kinh Trường a hàm Q.1; kinh Khởi thế nhân bản Q.9; luận Lập thế a tì đàm Q.7; luận Câu xá Q.9; luận Thuận chính lí Q.32; luận Đại trí độ Q.7; Pháp hoa huyền luận Q.5; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần cuối. Đại nhật kinh sớ Q.2; Câu xá luận quang kí Q.12; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.15; Du già luận kí Q.1 phần cuối; Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10 phần cuối; Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết Q.1 phần 1; Phật tổ thống kỉ Q.30; Pháp uyển châu lâm Q.1].
pháp giới
(法界) Phạm: Dharma-dhàtu. Pàli: Dhamma-dhàtu. Hán âm: Đạt ma đà đô. Chỉ cho tất cả đối tượng(cảnh sở duyên) của ý thức, 1 trong 18 giới. Cứ theo luận Câu xá quyển 1 thì 3 uẩn: Thụ, tưởng, hành, cùng với vô biểu sắc và vô vi pháp, gọi là Pháp giới. Trong 12 xứ thì Pháp giới được gọi là Pháp xứ. Còn trong 18 giới thì 17 giới kia cũng được gọi là Pháp. Bởi vậy, theo nghĩa rộng thì Pháp giới là chỉ cho tất cả các pháp hữu vi và vô vi. Theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì Pháp giới có 3 nghĩa: 1. Nhân sinh ra các thánh pháp. 2. Thể tính chân thực của các pháp. 3. Các pháp đều có phần hạn của chúng, do đó mà phân biệt được tướng trạng của mỗi pháp. Pháp giới cũng chỉ cho chân như hoặc chỉ cho tất cả các pháp. Theo Phổ hiền hành nguyện thì Pháp giới có 5 môn: Pháp giới hữu vi, pháp giới vô vi, pháp giới vừa hữu vi vừa vô vi, pháp giới chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi và pháp giới vô chướng ngại, do đó mà lập ra 5 lớp Pháp giới khác nhau là: Pháp giới pháp, pháp giới nhân, pháp giới nhân pháp dung hợp, pháp giới nhân pháp đều vắng bặt và pháp giới không chướng ngại. Chủng loại của pháp giới tuy nhiều nhưng tất cả đều qui về Nhất chân pháp giới, đây chính là tâm thanh tịnh nguyên sơ của chư Phật và chúng sinh, cũng gọi là Nhất tâm pháp giới, Nhất chân vô ngại pháp giới. Nếu đứng về phương diện hiện tượng và bản thể mà nhận xét, thì Pháp giới có thể được chia làm 4 nghĩa, gọi là Tứ pháp giới. Đó là: 1. Sự pháp giới: Hiện tượng giới bao gồm muôn pháp thiên sai vạn biệt, mỗi pháp đều có tự thể riêng và phần hạn khác nhau. 2. Lí pháp giới: Hiện tượng các pháp tuy nhiều, nhưng thể tính chân thực của chúng thì thường trụ bất biến, bình đẳng nhất như, là cảnh giới tuyệt đối. 3. Lí sự vô ngại pháp giới: Giữa hiện tượng và bản thể có sự quan hệ nhất thể bất nhị, mỗi mỗi pháp tương tức tương nhập, viên dung vô ngại. 4. Sự sự vô ngại pháp giới: Tất cả mọi hiện tượng đều tác dụng hỗ tương, một tức tất cả, tất cả tức một, trùng trùng vô tận, sự sự vô ngại. Mật giáo lấy 6 yếu tố (6 đại): Đất, nước, lửa, gió, không, thức làm thể tính của pháp giới; 6 yếu tố này là thân Tam ma da của đức Đại nhật Như lai. Cung điện của Ngài là Pháp giới cung; định vị của Ngài là Pháp giới định, ấn khế của Ngài là Pháp giới định ấn, năng lực gia trì của Ngài gọi là Pháp giới gia trì. Trong 5 trí thì Đại nhật Như lai biểu thị Pháp giới thể tính trí. Ngoài ra, tông Thiên thai gọi chung 10 giới: Địa ngục, ngã quỉ, súc sinh, A tu la, người, trời, Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát và Phật là Thập pháp giới. Đây là nói theo nghĩa phần hạn sai biệt của các tướng pháp giới. Lại nữa, Pháp giới cũng là 1 trong 12 tên của Thực tướng. Mười hai tên là: Chân như, Pháp giới, Pháp tính, Bất hư vọng tính, Bất biến dị tính, Bình đẳng tính, Li sinh tính, Pháp định, Pháp trụ, Thực tế, Hư không và Bất tư nghị giới. [X. kinh Tạp a hàm Q.16; hội Bị giáp trang nghiêm trong kinh Đại bảo tích Q.23; kinh Đại bát nhã Q.360; kinh Hoa nghiêm Q.1, 3 (bản dịch cũ); luận Đại tì bà sa Q.71; luận Đại thừa khởi tín; luận Biện trung biên Q.thượng; luận Bồ đề tâm].

Chánh Hạnh Niệm Phật
Đại Sư Hám Sơn

Hoằng Nguyện và Ðại Hạnh
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Mười Hạnh Nguyện Của Phổ Hiền Bồ Tát
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Hạnh Tốt Và Hạnh Xấu
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Chánh Hạnh
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc

Giải Hạnh Tương Ứng
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Lục Độ Vạn Hạnh
Thượng Tọa Thích Trí Siêu

Tín Nguyện Hạnh
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc