Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Phap-Mon-Tinh-Do-Von-Tiep-Dan-Can-Co-Trung-Ha

Pháp Môn Tịnh Độ Vốn Tiếp Dẫn Căn Cơ Trung Hạ
Tiến Sĩ Viên Hoành Đạo | Dịch Giả :Sa Môn Thích Minh Thông

Hương Quang Tử mai danh ẩn tích ở chốn núi rừng vắng vẻ, chuyên tu tịnh nghiệp. Có một thiền nhân kiến thức rộng, trình độ cao, quá bước đến tịnh thất để luận đàm. Thấy trên bàn có quyển Tây Phương hiệp luận của cư sĩ Thạch Đầu mới biên soạn, thiền nhân xem chưa hết quyển luận đã lên tiếng chống đối:

– Như pháp môn của bộ luận này vốn tiếp dẫn căn cơ trung, hạ. Tại sao vậy? Vì đối với người căn cơ trung, hạ, trí tuệ kém cỏi, sức nghiệp sâu nặng thì phải nhờ nhớ Phật, niệm Phật mới được sinh về Tịnh Độ, như tảng đá nhờ chiếc thuyền mới có thể đến bờ bên kia. Những người này thật sự cần phải niệm Phật ! Còn như chúng ta thấu suốt cội nguồn, tâm này tức là Phật, lại tìm kiếm Phật ở đâu nữa ? Về mặt lý tuyệt đối thì tìm kiếm cái tướng ba thời gian của chúng sinh và Phật, tới và lui, sinh và chết không thấy có một mảy may. Vừa há miệng nói thành Phật đã là lời nói dư thừa. Sao được phân chia những việc nhơ sạch, bỏ đây, sinh kia ? Nếu ngay chỗ này tỏ ngộ thì đó là người thong dong tự tại. Ngay tánh dâm dục, giận dữ và si mê đều là đạo tràng bình đẳng của A Di Đà, như như bất động. Sao lại từ bỏ Phật của chính mình mà lễ lạy Phật đúc bằng vàng, bằng đồng kia ? Hơn nữa, bảo rằng: “Ngộ và chưa ngộ đều nên tu tập thì đó là đang vô sự mà bỗng nhiên sinh sự. Tôi không thể nào hiểu nổi !”

Hương Quang Tử nghe rồi, thở dài, nói rằng:

– Nếu ông nói như thế thì chỉ là nói cho sướng miệng thôi. Ông không biết một khi nhấc chân lên sẽ rơi vào hầm lửa. Việc sinh tử, vô thường nháy mắt liền đến, sao lại ghi nhớ thuộc lòng những lời tương tự có sẵn của Tông môn rồi cho là cứu cánh ? Những người trong Tông môn đều nói rằng: “Ta đã thành Phật, không cần niệm Phật”. Nếu đứng về phương diện lý lẽ mà nói thì con bọ chét, con rận ở thế gian đều có đầy đủ thể giác thanh tịnh như Như Lai, không hai, không khác, cho đến các đức Phật thành chánh đẳng giác, chứng đại niết bàn mà bản thể chưa từng tăng thêm một tơ tóc. Chúng sinh rơi vào ba đường dữ, trôi chìm liên miên trong biển cả sinh tử mà bản thể chưa từng giảm bớt một mảy may. Thể như như thì thường còn, bất động. Sinh tử, niết bàn đều là cái thấy sai lầm, cũng không có Như Lai, cũng không có chúng sinh. Đối với việc chứng nhập này cũng không có người chứng nhập, cũng không có pháp được chứng nhập, bặt dứt tâm nghĩ ngợi lăng xăng, vượt thoát mọi nhận thức sai lầm. Đại địa không có một tấc đất thì một chữ Phật nhằm vào chỗ nào mà an trụ ? Cho đến pháp môn để tinh tiến tu hành, tu chứng ở trong không tu chứng, đẳng cấp ở trong không đẳng cấp, muôn ngàn sai biệt. Tuy Bồ-tát bước lên địa vị đẳng giác nhưng không biết chỗ nhấc chân lên, để chân xuống của Như Lai.

Từ xưa, tổ sư sở dĩ mắng Phật, quở giáo cũng chỉ là lời nói phương tiện ngăn chấp, vì tâm người chấp chặt giáo tướng, theo lời nói mà sinh tri giải, không tỏ ngộ được bản thể ở ngoài lời nói, quen chấp phương tiện trong lời nói. Họ cứ mãi nói tâm, nói tánh, nói không, nói huyễn, nói đốn, nói tiệm, nói nhân, nói quả; ngàn kinh muôn luận đều thông hiểu cả. Nhưng, khi hỏi đến bản tánh của họ thì liền đem ngôn ngữ sẵn có trong kinh luận để đối đáp, nếu dẹp bỏ cả ngôn ngữ sẵn có ấy thì họ vẫn y như trước kia mù tịt không biết phải làm sao. Đó là điều mà người ta gọi là đếm tiền cho người khác, còn chính mình thì không có một đồng. Hoặc có người tu hành chân thật nhưng không thấy Phật tánh, hành trì khổ hạnh như kẻ đui mù, không được thiện tri thức hướng dẫn, không sinh vào nhà của Như Lai, chỉ gặt hái quả báo trời, người mà thôi. Ở đây, các vị tổ sư biết được tệ nạn ấy, bèn dùng thủ đoạn độc địa quét sạch ngôn ngữ đã che lấp con đường giải thoát, bài trừ tình thức kia để khiến cho họ phải khổ công tham cứu miên mật, lội ngược dòng sinh diệt. Khi thức tình sinh diệt tiêu tan hết thì tâm niệm nắm lấy, xả bỏ đều rỗng không. Có như thế họ mới biết được cha mẹ sinh ra mình, kho báu muôn kiếp của mình. Bấy giờ trở lại đọc kinh, xem giáo thì họ sẽ thấy cái gì cũng đều nói như việc ở trong nhà. Sau đó nói đến tinh tiến tu hành, vận dụng tri kiến Phật để quét sạch tập khí, lễ Như Lai như hoa đốm giữa hư không, tu phạm hạnh như bóng trăng trong nước, bước lên giai cấp như ánh nắng chập chờn, độ chúng sinh như âm vang trong hang đá, không dính mắc vào sự chứng đắc niết bàn. Đó là hạt giống Phật, thật giống như mặt trời chói lọi giữa hư không, đi trên con đường của vua đi, chứ không phải lủi bước trong đêm dài tối tăm mù mịt, vịn níu cây gai, té nhào vào gai góc. Đâu được nói rằng sau một khi tỏ ngộ liền ngang bằng với quả vị Phật, như Cung Phụng hỏi thiền sư Cảnh Sầm:

– Trên quả vị niết bàn, ở trong thiên hạ, thiện tri thức chứng đắc chưa ?

Cảnh Sầm đáp:

– Chưa chứng đắc.

Cung Phụng hỏi:

– Vì lẽ gì chưa chứng đắc ?

Cảnh Sầm đáp:

– Vì công phu chưa ngang bằng với các vị thánh.

Cung Phụng hỏi:

– Nếu như vậy thì sao được gọi là thiện tri thức ?

Cảnh Sầm đáp:

– Thấy rõ Phật tánh cũng được gọi là thiện tri thức.

Thiền sư Hoằng Biện nói: “Ngay khi tỏ ngộ tự tánh thì ngang bằng với Phật. Thế nhưng, có tập khí từ vô thỉ nên phải nhờ sự đối trị. Việc ấy đã khiến cho thuận theo tự tánh để khởi diệu dụng, như người ăn cơm không phải một búng liền no”. Quy Sơn nói rằng: “Người sơ tâm cầu đạo bồ đề phải từ các duyên để đốn ngộ lý tánh của chính mình. Tuy nhiên, còn có tập khí lâu xa từ vô thỉ, chưa thể nào tẩy sạch ngay tức khắc được. Phải dạy họ quét sạch hiện nghiệp lưu thức tức là phải tu tập chứ không có một pháp nào khác, phải dạy họ có ý chí hướng về việc tu hành”. Nếu bàn luận đến chỗ vì người của các vị tổ sư thì như vách đá cheo leo muôn nhẫn, như trong đống lửa lớn chạm đến liền phỏng, như rừng gươm bén nhọn đụng tới liền đứt; chưa từng mở miệng mà đã cách xa ngàn muôn dặm, đến ngoài cơ duyên. Nói một cách xác thực thì chưa từng dứt tuyệt giai cấp, chưa từng bỏ việc tu hành. Truyền đăng lục nói rõ ràng và đầy đủ những điều này. Các thiền sư Đại Tuệ, Trung Phong nói giáo rất khẩn thiết, là tấm lòng son khuyên bảo và khích lệ. Ngài e rằng những người mắc kẹt vào sự hiểu biết rỗng không thì rơi vào việc của ma. Các Ngài ấy đâu từng nói rằng, sau một khi tỏ ngộ không cần dụng công tu tập, liền ngang bằng với bậc Lưỡng Túc Tôn đắc quả niết bàn tối hậu.

Đời sau có người không biết được ý của giáo, không hiểu được cơ của tổ, lại chấp chặt vào các lời quát Phật, mắng tổ, các câu hiểm hóc vỡ mật kinh hồn cho là hành trì. Người xưa bị che lấp bởi kinh, luận vẫn là ăn tạp các thứ lúa , gạo, không thể nào tiêu hóa được. Người sau này ghi nhớ no nê những câu nói của Thiền tông rồi bài nhân, bác quả, vượt quá thân phận của mình. Ngày hôm nay lấy đại hoàng, bã đậu (vị thuốc xổ cực mạnh) cho là trà, cơm. Không chỉ chính mình đã sai lầm mà còn gieo rắc điều sai lầm cho người khác, thật không có gì tồi tệ hơn ! Vì thế, khi vừa bước vào cửa này, họ liền khinh khi đức Như Lai khắp cả mười phương, họ đều tự nói: “ Không có Phật để thành, không hạnh để tu”. Thấy người niệm Phật thì nói: “Tự tánh là Phật”. Thấy người tu Tịnh Độ thì bảo: “Ngay nơi tâm tức là Tịnh Độ”. Nói đến tham thiền thì tôn kính trên chín tầng trời, nói đến niệm Phật thì chà đạp dưới chín lớp đất. Họ hoàn toàn không suy xét rằng, tham thiền, niệm Phật rốt cuộc là tháo tung ngục tù sinh tử, là chiếc cầu để bước qua biển khổ kinh khiếp, là chiếc bè báu để vượt qua thế giới hữu vi sinh diệt. Tất cả đều cùng một nhà, đâu có hơn kém. Trong môn tham thiền, sự tỏ ngộ của các hành giả cũng có cạn, sâu. Còn sự tu tập của các vị niệm Phật cũng có cao, thấp, bất đồng. Tại sao lại chấp chặt rằng người tham thiền là căn cơ bậc thượng, người niệm Phật lại là căn cơ trung, hạ ? Từ khi Đạt Ma từ Ấn Độ đến thành lập Tông môn này, Ngài đã huyền ký: “Hai trăm năm sau, người hiểu đạo thì nhiều nhưng người thực hành đạo thì ít; người nói lý thì nhiều nhưng người thông hiểu lý thì ít”. Hiện nay, trong Truyền đăng lục ghi lại người ngộ nhiều như mè, như lúa, nhưng kỳ thực có nhiều trình độ khác nhau; đến như người có duyên bát nhã rất sâu, căn lành vun trồng đời trước, như chim ca lăng tần già phá vỡ vỏ trứng để chui ra, như con voi chúa rẽ dòng nước để vượt qua; hoặc thấy căn cơ qua một vài lời, hoặc hiển hiện oai phong qua một tiếng hét, một nghe ngàn ngộ, được đại tổng trì, hoặc ôm ấp tâm niệm xuất thế, đầy đủ chí khí của bậc đại trượng phu, buông bỏ thế tình để tham cứu việc lớn này, không dựa vào sự hiểu biết nhỏ mà chỉ cầu trí Phật. Nằm gai nếm mật, uống lạnh nuốt đắng trải qua thời gian ba mươi năm, bốn mươi năm gian khổ, họ gặp được minh sư thống thiết cho một dùi, một trát, giúp cho tâm hướng ngoại của họ chết tuyệt thì đóa hoa của tâm linh bừng nở. Sau đó lại phải kín đáo tu hành, tập khí từ từ tan rã. Kiến giải về pháp còn phải buông bỏ, huống chi kiến giải phi pháp, như Triệu Châu chỉ trừ hai thời cơm cháo mới khởi tâm động niệm, Dũng Tuyền dụng công tu tập suốt bốn mươi năm mà tâm còn rong ruổi, Hương Lâm hạ thủ công phu suốt bốn mươi năm mới nhồi thành một khối. Hành giả vốn chăm chăm cẩn trọng như giữ đầu mắt của mình cho đến khi khói tan, tro lạnh rồi thì tự nhiên một niệm không sinh, nghiệp không thể buộc, tùy ý tự tại đối với sinh tử. Hỏi đến chỗ chứng đắc của họ thì e rằng cũng chưa thể vượt qua địa vị thượng phẩm thượng sinh. Căn cứ vào đâu mà dám nói như thế ? Bồ Tát Long Thọ là tổ khai sáng của Thiền tông. Ngài được đại trí tuệ, đầy đủ đại biện tài, trụ trì Phật pháp, cho nên trước đó vài trăm năm, ở trên hội Lăng Già, Thế Tôn đã thọ ký nhưng chỉ nói rằng: “Chứng sơ hoan hỷ địa được vãng sinh về nước An Lạc mà thôi”. Và, Quán kinh ghi: “Hành giả sinh về cõi kia ở địa vị thượng phẩm thượng sinh, khoảng một giây phút chứng quả sơ địa”.

Các đại tổ sư của Tông môn ngày nay giả sử kiến giải buông lìa được ngũ cái và thập triền, ngôn ngữ tuôn phát vượt khỏi khuôn sáo thì cũng đâu có thể tức khắc vượt qua Long Thọ. Long Thọ đã ngộ cái nghĩa vô sinh vô tướng, đã đủ kiến giải không rơi vào giai cấp mà còn sinh về An Dưỡng, chính là ngang với quả của bậc thượng phẩm thượng sinh chứng. Thế thì, sự chứng đắc của các vị trong Thiền môn đâu có ai có thể vượt qua Long Thọ. Bởi vì bậc thượng phẩm thượng sinh giải đệ nhất nghĩa ngang với bậc tỏ ngộ trong Thiền tông. Tin sâu nguyên lý nhân quả cũng ngang với sự tu tập trong Thiền tông, song chỉ khác biệt với niệm Phật vãng sinh mà thôi. Nhưng, tôi cho rằng người tu tập tỏ ngộ trong Thiền môn đã không thể bám víu vào cái niết bàn vô dư đồng với Như Lai, cũng không chịu bám víu vào cái niết bàn hữu dư đồng với nhị thừa. Dĩ nhiên là bước vào biển hạnh nguyện của Phổ Hiền. Các vị này nếu không buông bỏ một thân , nhận lấy một thân để tế độ chúng sinh thì sẽ từ một cõi này đến một cõi khác để cúng dường các đức Phật. Đã thấy các đức Phật thì cũng như được vãng sinh, rốt cuộc cũng dự vào địa vị thượng phẩm thượng sinh. Do đó, Thiền, Tịnh cũng ngang nhau. Vì lẽ gì lại coi trọng tổ sư mà khinh chê bạn tu Tịnh Độ ?

Hoặc có người đã vào cửa ngộ nhưng mà ngưng nghỉ quá sớm, cho nên trí không vào chỗ sâu xa vi diệu thì đạo cả khó thắng nổi thói quen. Một niệm không dứt sạch là cội nguồn của sinh tử, là bị luồng gió nghiệp thổi dạt, đâm đầu vào bào thai, như Ngũ Tổ Giới tái sinh thành Đông Pha, Thanh Thảo Đường đời sau làm Lỗ Công. Sau khi bỏ thân cũ thọ thân mới, họ sẽ bị lưu chuyển theo từng tình huống. Đạo có tiêu vong mà không có lớn mạnh. Nghiệp có tăng thêm mà không có giảm bớt. Dù cho duyên bát nhã rất sâu, không rơi vào ba đường dữ nhưng mà họ ra khỏi bào thai này đâm đầu vào bào thai khác cũng rất đắng cay ngậm ngùi. So lại thấy các vị vãng sinh trung phẩm, hạ phẩm thì đã cách xa như vực thẳm, trời cao. Sự hơn kém ấy không thể nào ví dụ được. Huống chi tông phong đời sau mỗi ngày mỗi suy vi, năng lực tu tập của con người mỗi ngày mỗi yếu kém. Sự phát tâm phần nhiều không chân thật, công phu cũng không thuần nhất. Ngẫu nhiên, đối với cơ phong của Phật tổ, ngữ ngôn của thiện tri thức, hoặc họ ngộ được chỗ xưa nay thành Phật. Ngay chỗ ấy chính là chỗ mà ý thức bất lực không đạt đến được, ngôn ngữ đuổi bắt không kịp. Tất cả đều không thể nắm lấy. Ngay cái không thể nắm lấy cũng là chỗ không thể nắm lấy. Đem các câu nói của người xưa ra tìm hiểu, họ đều thấy tương tự. Đã được cái kiến giải tương tự này, họ liền nói rằng tâm tìm cầu đã hết, ta là đạo nhân vô sự; biết được phiền não như mộng huyễn mà mặc tình phóng túng phiền não; biết được tu hành vốn không mà mặc tình phá hoại sự tu hành. Nói bố thí vốn không mà thực hành ngược lại, ôm lấy sự keo kiệt. Nói nhẫn nhục vốn không mà trái lại còn cho phép bỏ phế sự nhẫn nhục. Nói đến giới thì bảo rằng vốn không trì, phạm, cần gì phải tôn trọng sự trì giới, xem thường sự phạm giới? Nói đến thiền thì bảo rằng vốn không định, loạn, cần gì xả bỏ loạn tưởng, giữ lấy định tĩnh ? Họ mặc tình giẫm đạp trên có mà lếu láo nói không. Đã nói rằng:

– Pháp còn phải buông bỏ, tại sao giữ lấy phi pháp?

– Chân cũng không cầu, sao lại bỏ chân cầu vọng ?

– Tu quán, tập định đều thuộc về dấu vết hữu vi, sao chỉ tham danh cầu lợi mới riêng hợp với đạo vô vi?

Ngọn lửa yêu, ghét, khen, chê vừa đụng đến liền bốc cao. Ngọn gió sinh, già, bệnh, chết vừa thổi phớt qua đã lay động. Tranh nhân, tranh ngã, nói phải, nói quấy đến nỗi họ cho tánh nóng nảy bừng bừng là khí phách, cho ngã mạn là đủ bản lĩnh, cho gian dối là huyền cơ diệu dụng, cho lời nói dối là phương tiện, cho phóng túng là du hí tam muội, cho lời nói thô tục là cởi mở sự dính mắc. Tán dương người phá giới, vô hạnh, khinh khi người gương mẫu chuẩn mực. Chỉ thiên chấp lý nên cho rằng chỗ cùng huyền tột diệu không còn dấu vết rồi quét sạch pháp môn tu hành. Cho nên, họ tùy ý phóng túng, không gìn quy củ. Miệng nói vãng sinh là pháp tiểu thừa, bảo người tu tập, còn chính mình lại an nhàn, hoặc quanh năm không lạy một đức Phật, quanh năm không lễ một thời sám, quanh năm không đọc một câu kinh . Trở lại xem sách vở không bổ ích gì của thế gian. Làm những việc mà người hành đạo không nên làm, làm gương xấu cho bọn hậu sinh chuyên khoe khoang sự thông minh, chỉ tìm kiếm sự hiểu biết. Vừa biết được điều gì, họ lập tức cho là vượt thoát cảnh giới mê, nhảy thẳng vào cảnh giới giác ngộ, không còn có việc gì nữa, rồi tùy tiện kiêu căng, phách lối làm liều; miệng nói năng không lựa lời, thân không có nết hạnh. Cha đã đền trả mà con lại còn làm nghề cướp giật; viết chữ ô thành chữ mã, truyền cho nhau những điều sai lầm, không nhớ nghĩ rằng tình dục trong thế gian không có bờ mé như con đê bị ngập tràn. Nếu như một ngày nào đó vì nói cho sướng miệng mà phá vỡ cửa nhân quả, đập bỏ bức tường ngăn chặn thì giặc sẽ tràn vào. Chính mình đã mê lầm mà còn gieo rắc điều mê lầm cho người khác. Làm sao tránh khỏi trầm luân đọa lạc ! Họ nếu không bị ma tóm bắt thì chắc chắn cũng sẽ vĩnh viễn rơi vào ba đường dữ. Núi đao, rừng kiếm đền trả cái nhân trước kia. Mang lông, đội sừng trả lại món nợ cũ. Vì vậy, đừng bao giờ nói: “Ta là người tỏ ngộ, nghiệp không thể buộc”. Nghiệp không thể buộc không phải nghĩa là có mà không có. Chính là vì không mà tự không. Lúc sống đã bị động theo cảnh thì khi chết làm sao tránh khỏi sức mạnh của nghiệp lôi kéo mà cam chịu tái sinh ? Trước mắt, một niệm sân hận khởi lên tức là mang hình hài quái dị của con trăn. Trước mắt, một niệm tham lam khởi lên tức là loài ngạ quỉ. Cái nhân khởi niệm vô hình rất nhỏ, nhưng mà cái quả báo hữu hình rất lớn. Một niệm rất nhỏ được giữ lại ở mảnh đất tạng thức, trải qua ngàn muôn kiếp, không bao giờ mất đi, như một thầy tỳ kheo do có trí tuệ nên thân tỏa ra ánh sáng, nhưng vì nói dối nên miệng tuôn ra dòi bọ. Chỉ một lời nói nhỏ nhặt mà thân phận cam chịu quả dữ khốc liệt như thế. Tuy có trí tuệ nhưng nghiệp ác không bao giờ tiêu tan. Huống chi ngày nay, con người vô minh, phiền não mạnh mẽ, không dứt hết dục vọng mà muốn đem cái kiến giải tương tự để làm tiêu mòn nghiệp ác, ra khỏi ba đường dữ thì hẳn là không thể nào được ! Ví như những người ấy không chấp được chút ít cho là đủ, mà thường theo đúng lời Phật dạy tu hành, không bao giờ tự bảo rằng: “Ta đã tỏ ngộ, ngay nơi tâm tức là Phật” thì đâu thể lại bằng người trung căn, hạ căn niệm Phật cầu sinh về Tịnh Độ ? Nếu tỏ ngộ sinh vốn vô sinh thì những người ấy càng mạnh mẽ cầu sinh về Tịnh Độ. Ngay nơi tâm tức là cõi nước thì Liên Bang không phải ở ngoài tâm. Không bỏ việc lễ lạy, không buông lơi tụng niệm, vận dụng cả hai năng lực trí tuệ và tu tập để tiến lên thì họ sẽ ngồi trên đài sen thượng phẩm, ngồi trên lầu báu lơ lửng giữa hư không; buổi sáng ăn cơm thơm ở cõi Phật Hương Tích; buổi chiều tham quan cõi Phật Mãn Nguyệt; nhìn lại những người ở phẩm vị thai sinh đi thong thả trên đất báu, không được nghe pháp ngữ, không được thấy pháp thân còn giống như voi, ngựa khó hợp bầy; gà, phượng khác loại, huống chi cái quả nhỏ của cõi trời, cõi người như con ruồi, con muỗi ở trong cái hũ.

Thế nhưng, lại có người kiến giải rỗng không mà tâm lý kiêu căng, chấp không mà phá có. Rốt cuộc do vì cái kiến giải sai lầm chỉ chấp một bên mà phải chịu quả báo phi thường. Những người ấy không chịu làm con của A Di Đà mà lại làm tù phạm của Diêm La, không làm bạn với chúng thanh tịnh lại làm đồng bọn với ngục tốt ở địa ngục, bỏ rừng cây bằng bảy chất liệu quí báu mà đi vào rừng kiếm, bỏ phạm âm thuyết pháp mà nghe tiếng gào khóc hết sức bi thảm. Kiểm điểm lại thì thấy họ không bằng với người quê mùa dốt nát ở thế gian làm việc lành chút ít, làm công đức chút ít được vãng sinh vào cõi người, cõi trời v.v …Do đó, xê xích một đường tơ kẽ tóc thì đã cách xa nhau như trời, đất, có thể không đau xót lắm sao ?

Vậy thì, đối với người trong Tông môn , bậc thượng căn chưa chắc đã vượt qua địa vị thượng phẩm thượng sinh mà bậc hạ căn thì rơi vào ba đường dữ. Vì thế, nên biết, con đường này vô cùng gian nan, nguy hiểm, chưa dễ gì vượt qua; thành công thì làm Phật, thất bại thì làm ma. Vua và giặc phân chia trong khoảnh khắc, khanh tướng và đồ tể sai khác ở kẽ tóc đường tơ. Phần vui, phần khổ hãy mau mau lựa chọn ! Huống chi thế hệ ngày nay, cửa ngộ như sợi dây một mạch không đứt, nhưng trong cửa thiền thì vắng vẻ không có người chứng ngộ, chỉ có vài ba cư sĩ tại gia có cơ may được truyền thừa pháp này. Thế nhưng đã là cư sĩ, không đồng với các vị sa môn Thích tử còn có giới luật buộc thân mới có thể dấn thân trong đống lửa lớn, dìm tâm trong biển cả phiền não. Tuy ở trong đời làm các việc thế gian nhưng hiếm có được một người vào cửa giải thoát, vì đạo lực rất cạn, nghiệp lực rất sâu. Ngay cả cái nghiệp rất thô trọng không chi bằng nghiệp sát, dâm, họ còn không thể gìn giữ không làm; huống chi trong cái vòng lẩn quẩn của sinh tử luân hồi vi tế kia, làm sao có thể được an nhiên tự tại ? Chỉ thấy những người giàu có sang cả như Vu Địch, gian ác như Lữ Huệ Khanh, nóng vội như Trương Thiên Giác, phong lưu trẻ đẹp như Bạch Lạc Thiên, Tô Tử Chiêm, … đều được liệt vào Truyền đăng mà bèn cho rằng tất cả các vị ấy đều vô ngại, mà đâu biết rằng họ tuy có đầy đủ chánh kiến nhưng nếu nói họ từ đây không còn mang cái thân sinh tử phần đoạn, nghiệp không thể buộc thì tôi không dám chấp nhận. Họ đang ở trong đêm dài chịu quả báo, chưa biết đến bao giờ mới chấm dứt.

Vì thế, nên biết, một pháp môn Niệm Phật này đối với cư sĩ thì càng khẩn thiết. Sức của nghiệp tuy nặng nhưng mà ngưỡng nhờ năng lực của Phật mới tránh khỏi chìm đắm trong biển sinh tử, như người mắc nợ trốn ở cung vua thì khỏi phải bồi thường. Cũng vậy, một khi hành giả sinh về cõi nước Phật thì những điều đã hiểu, những điều đã ngộ từ trước đến nay đều không bị tiêu mất. Lẽ sinh tử thúc giục con người, hơi thở ra rồi khó mong bảo đảm. Hãy sớm tìm con đường trở về để khỏi phải đến nỗi lâm vào tình trạng bấn loạn ! Giả sử ý chí hành giả ưa thích tham thiền lại niệm Phật thêm cũng không có gì chướng ngại. Người thế gian làm quan chức, làm các ngành nghề còn cho rằng không có gì trở ngại tham thiền, huống chi sớm hôm lễ lạy, tụng niệm. Hơn nữa, nhờ niệm Phật khẩn thiết càng làm tỉnh sáng cái tâm tham thiền. Nhờ thấu suốt môn tham thiền thì niềm tin về Tịnh Độ càng thêm vững chắc. Do đó, hành giả nương nhờ cả hai bên thì rất yên ổn. Nếu không tin điều này thì thật là ngu si.

Lúc còn trẻ, cư sĩ Thạch Đầu ưa thích tham thiền, căn tánh rất linh lợi, trong mười năm trời thấu suốt có chỗ vào. Cơ phong linh lợi, sắc bén; ngôn ngữ lưu loát vô ngại. Bình thường bàn luận với người đến việc này thì hạ bút có cả ngàn lời, không đạp nhằm câu nói của tổ sư, trực tiếp từ hông ngực lưu xuất. Thật là con cọp sống, con rồng sống, không có một lời nói chết. Cuối cùng cũng tự nói rằng tỏ ngộ, không còn việc gì để làm nữa. Tình đời tuy giảm bớt, không vào trần lao nhưng cư sĩ còn hưởng ngoạn gió mát trăng thanh, tham quan sông núi, lưu luyến cuộc văn thơ, rượu chè, chìm vào cái nghiệp say sưa tao nhã. Vì kiêu ngạo, ngông cuồng nên tâm ý chưa tránh khỏi sự phóng túng. Cái bệnh trước kia chưa thể nào hoàn toàn thoát khỏi. May thay ! Cư sĩ có tấm lòng tha thiết đối với vấn đề sinh tử, không bị mê muội lâu dài, thống thiết nghĩ rằng, gặp cảnh thì sinh tâm, tiếp xúc với các đối tượng vật lý, tâm lý, sinh lý còn bị vướng mắc, kiến giải phù phiếm chưa thắng nổi thức tình. Nếu giải ngộ mà không tu tập thì rơi vào cảnh ma. Ranh giới giữa Phật và ma chỉ trong khoảnh khắc. Cư sĩ mới bắt đầu chuyển cái kiến chấp không vào biển của Phổ Hiền. Lại suy nghĩ rằng, trong các pháp môn tu hành không có pháp nào bằng Niệm Phật, rồi tạm dẫn mối nghi ngờ của những người trung căn, hạ căn chưa phá hết. Về sau xem rộng các kinh luận mới biết pháp môn này vốn tóm thu cả bậc tỏ ngộ nhất thừa và người chưa tỏ ngộ. Hết thảy mọi người đều phải tu tập. Trong bộ luận này chọn lấy những điều của Phật đã tuyên dương, những điều của bồ tát đã nói rõ, những điều của các đại thiện tri thức đã phát huy và thêm vào ý của mình. Ngàn lượn sóng đua nổi dậy chia ra khắp muôn nhánh sông, thật ra xét kỹ thì đều cùng nhau chung một nguồn. Bộ luận này lấy đệ nhất nghĩa không thể nghĩ bàn làm tông, lấy tỏ ngộ làm bậc thầy chỉ đường vạch lối. Trong mười hai thời lấy trì danh niệm Phật, nhất tâm bất loạn, niệm niệm nối nhau liên tục làm sự hành trì, lấy lục độ vạn hạnh làm trợ nhân, lấy niềm tin thâm sâu nguyên lý nhân quả làm cửa ngõ bước vào. Khi bộ luận này vừa mới hoàn thành, có năm bạn tu thiền phát tâm trì giới, niệm Phật. Năm người ấy đều muốn truyền bá bộ luận này để quét sạch sự sai lầm của Tông giáo.

Hương Quang Tử tôi kiến thức hẹp hòi, căn cơ kém cỏi; từ lâu cũng say mê cái kiến chấp về không, tâm tư mặc tình buông thả như con voi điên cuồng. Năm ngoái, một đêm nọ đang chìm trong giấc ngủ, bỗng tôi nằm mộng thấy đi đến địa ngục Cách Tử. Địa ngục này lửa cháy ngùn ngụt, tôi trông thấy vị tăng quen thuộc đã qua đời. Lúc sinh tiền, ông ta hay bàn luận về lý không, phá giới. Hình hài gầy gò yếu đuối, què chân đang khập khiễng bước qua, tiếng gào khóc chấn động cả trời đất, nghe qua thật bất nhẫn ! Đến khi giật mình tỉnh dậy, lông trên toàn thân dựng đứng, tôi liền phát tâm nương về pháp môn Tịnh Độ. Sau khi đọc bộ luận này, những điều nghi ngờ xưa kia đều tiêu tan hết. Cho nên, ngày nay không ngại lắm lời như người bệnh lâu năm tự biết làm thầy thuốc, như kẻ tha phương biết thương người lưu lạc. Ông hãy quét sạch cái kiến chấp trước kia đi ! Phải khiêm tốn tụng tập thì tự nhiên sẽ có chỗ vào. Việc sinh tử thì vô cùng lớn lao, đừng nên chần chờ nữa !

Lúc ấy, thiền nhân vừa buồn thương, vừa rơi nước mắt, tự nói rằng:

– Nếu không gặp được Ngài thì có lẽ tôi đã bị cái kiến chấp không làm hỏng một đời. Ngài đã sinh ra tôi một lần nữa vậy.

Thiền nhân tha thiết xin thỉnh bộ luận ở trên bàn rồi làm lễ cáo lui.

Ngày hai mươi ba, tháng thứ hai của mùa xuân
Canh Tý, niên hiệu Vạn Lịch thứ 42 (1573).
Đời vua Thần Tông, nhà Minh,
Bá Tu Viên Tông Đạo ghi ở Bạch Tô Trai.

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
Tri kiến

Là sự thấy biết, sự hiểu biết, tương đương với một thuật ngữ Phật học khác là “kiến giải”. Tri kiến là những kiến giải có được do năm thức mắt, tai, mũi, lưỡi và thân, thu thập kinh nghiệm từ cuộc sống, từ mọi hiện tượng trong vũ trụ, cộng với sự suy nghĩ, phân biệt, phán đoán v.v... của ý thức. Tùy theo phàm phu hay thánh nhân mà tri kiến có trình độ thấp cao khác nhau: tri kiến của người thường không giống với tri kiến của bậc Thanh-văn; tri kiến của Thanh-văn không giống như tri kiến của chư vị Bồ-tát v.v...; và ngay cả tri kiến giữa những kẻ phàm phu cũng khác nhau nhiều. Vì vậy, tri kiến không giống với “trí tuệ” (tức trí bát nhã) – là trí không phân biệt, xa lìa sự suy nghĩ, phán đoán của tâm thức. Và chỉ có tri kiến của Phật (cũng gọi là “tri kiến ba la mật”) mới gọi được là trí tuệ, hay nói cách khác, chỉ có ở địa vị Phật thì tri kiến với trí tuệ mới là một. Kinh Pháp Hoa nói, đức Phật ra đời là vì một nguyên nhân vô cùng quan trọng, đó là dẫn dắt chúng sinh nhập vào tri kiến Phật. Câu nói đó có nghĩa là, đức Phật hóa độ cho chúng sinh chứng đắc các quả vị Thanh-văn, Duyên-giác, thậm chí là Bồ-tát, đều chỉ là phương tiện mà thôi, chứ cái quả vị cứu cánh phải là Phật quả, tức là quả vị giác ngộ trọn vẹn, cao tột, duy nhất; đó là tri kiến của Như Lai, thứ trí tuệ siêu việt, vượt khỏi mọi khái niệm, mọi suy tư, phân biệt của tâm thức.

Bồ Tát
(s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩): từ gọi tắt của âm dịch Bồ Đề Tát Đỏa (菩提薩埵), hay Bồ Đề Sách Đa (菩提索多), Mạo Địa Tát Đát Phược (冐地薩怛縛), Phù Tát (扶薩); ý dịch là Đạo Chúng Sanh (道眾生), Giác Hữu Tình (覺有情), Đại Giác Hữu Tình (大覺有情), Đạo Tâm Chúng Sanh (道心眾生), Đại Sĩ (大士). Nguyên ngữ của nó được kết hợp bởi 2 từ bodhi và sattva. Từ bodhi (bồ đề [菩提]) có nghĩa là sự khai ngộ, tỉnh thức, được dịch là giác (覺). Sattva (tát đỏa [薩埵]) nghĩa là sinh vật, nên được dịch là chúng sanh (眾生), hữu tình (有情). Khi hai từ này được kết hợp lại với nhau, chúng có nghĩa là người tìm cầu sự giác ngộ hay người có trang bị đầy đủ sự giác ngộ. Đặc biệt, đối với trường hợp của Đại Thừa Phật Giáo, Bồ Tát không phải là người tu hành để tìm cầu sự giác ngộ cho tự thân mình, mà tồn tại trong hiện thực của cuộc đời để tìm cầu chân lý giác ngộ, tu hành thật tiễn (hạnh từ bi lợi tha) cho mọi người trên đời, nỗ lực tinh tấn Tịnh Độ hóa (làm thanh tịnh quốc độ Phật) hiện thực xã hội bằng chân lý giác ngộ. Từ đó, Đại Thừa Phật Giáo phê phán hai thừa Thanh Văn (聲聞) cũng như Duyên Giác (緣覺) vốn thoát ly hiện thực của Phật Giáo Nguyên Thủy, và nhấn mạnh vai trò của Bồ Tát Nhất Thừa (菩薩一乘). Trong các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華), v.v., đôi khi phủ nhận người xuất gia Tiểu Thừa, thay vào đó lập nên hình tượng Bồ Tát. Từ thế giới giác ngộ, vị này thể nhập vào cuộc đời, đồng cam cọng khổ với mọi người và tận lực cứu độ chúng sanh. Do đó, nhiều loại Bồ Tát được dựng lên và được tôn thờ trong dân gian. Tỷ dụ như Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音), Bồ Tát Địa Tạng (s: Kṣitigarbha, 地藏), v.v. Chính vì vậy, việc điêu khắc hình tượng Bồ Tát cũng trở nên thịnh hành. Tại Nhật Bản—đất nước có đặc sắc khẳng định con người và trung tâm hiện thực—ngay từ buổi ban sơ khi Phật Giáo mới được truyền vào, chư vị thần được xem như là chúng sanh mê muội chẳng khác gì con người, cũng có địa vị tối cao như là vị thần của quốc gia hay của dân tộc và dần dần được thánh hóa là Bồ Tát. Trường hợp Bát Phan Đại Bồ Tát (八幡大菩薩) là một thí dụ điển hình. Bên cạnh đó, những con người thực tế như Bồ Tát Hành Cơ (行基), v.v., cũng được Bồ Tát hóa để tôn xưng vị tu hành có đạo cao đức trọng. Ở Việt Nam, trường hợp Bồ Tát Thích Quảng Đức cũng như vậy.
huyễn
(幻) Phạm:Màyà. Giả tướng. Tất cả các hiện tượng trong thế gian đều không có thể thật, mà chỉ là giả tướng huyễn hiện như trò ảo thuật. [X. phẩm Vấn huyễn trong kinh phóng quang bát nhã Q.3; luận Đại trí độ Q.55].
phương tiện
(方便) Phạm,Pàli: Upàya. Hán âm: Âu ba da. Cũng gọi Thiện quyền, Biến mưu. Phương pháp khéo léo để tiến triển hướng thượng, 1 trong 10 Ba la mật. Danh từ Phương tiện được các kinh luận sử dụng với ý nghĩa rất rộng, nay qui nạp lại làm 3 ý nghĩa như sau: 1. Đối với pháp chân thực thì phương tiện là pháp môn tạm thời được đặt ra để dắt dẫn chúng sinh vào pháp chân thực. Tức là Phật, Bồ tát tùy theo căn cơ, trình độ của các chúng sinh mà sử dụng những phương pháp khéo léo, thích hợp để làm lợi ích cho họ. 2. Đối với thực trí bát nhã, cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì Bát nhã là tuệ đạt như, Phương tiện là trí thông quyền.

Dùng Quyền trí quán chiếu sự sai biệt hiển hiện trong Thực trí bình đẳng. 3. Phương tiện là gia hạnh tu tập để chứng ngộ chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 của ngài Tuệ viễn và Pháp hoa huyền tán quyển 3 của ngài Khuy cơ, nêu ra 4 thứ phương tiện:1. Tiến thú phương tiện: Chuẩn bị (gia hạnh) tiến tới bồ đề, như 7 phương tiện trước giai vị Kiến đạo. 2. Quyền xảo phương tiện: Trí phương tiện trong 2 trí. Vì thực ra không có pháp môn Tam thừa, nhưng tùy cơ phương tiện mà đặt ra thôi. Thi tạo phương tiện (Thi vi phương tiện): Phương tiện ba la mật trong 10 Ba la mật, tức những việc được thực hiện một cách khéo léo để đạt thành mục đích lí tưởng. 4. Tập thành phương tiện: Thuyết Lục tướng trong Thập địa kinh luận. Các pháp đồng thể tập thành với nhau một cách khéo léo, tức bản chất của các pháp đều giống nhau, trong 1 có tất cả, trong tất cả cũng thành 1, đây kia tập thành và kiến lập lẫn nhau một cách khéo léo. Quyền xảo phương tiện có nghĩa là đức Phật dùng Trí phương tiện tạm thời bày đặt ra pháp môn Tam thừa... Trí phương tiện này cũng gọi là Quyền trí, tức là trí vì dẫn dắt chúng sinh mà đức Phật tạm thời giả lập ra. Quyền xảo phương tiện và Thi tạo phương tiện đều là những phương tiện khéo léo của Phật. Thiện xảo phương tiện lấy trí Thành sở tác trong 4 trí làm thể, cũng gọi là Phương tiện thiện xảo, Thiện quyền phương tiện, Thiện phương tiện, Xảo phương tiện, Quyền phương tiện, Thắng phương tiện, Thiện xảo, Thiện quyền, Xảo tiện... Tất cả giáo thuyết, nói theo quan điểm tuyên giảng, thì hết thảy chỉ là phương tiện thi thiết, nhưng trong đó, giáo thuyết trực tiếp giải thích rõ bản chất của bồ đề, biểu hiện ý nghĩa chân thực của nó thì gọi là Chân thực giáo; còn giáo thuyết vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà tạm thời nói ra để dẫn dắt họ vào chân thực, thì gọi là Phương tiện giáo (Phương tiện giả môn, Quyền môn), phương tiện này gọi là Hóa tiền phương tiện, Quyền giả phương tiện...

Trái lại, loại phương tiện khác thì gọi là Dị phương tiện. Phương tiện sau khi giác ngộ Phật quả, gọi là Quả hậu phương tiện. Ngoài ra, đối lại với Pháp Báo gọi là Quả cực pháp thân thì có Ứng Hóa gọi là Phương tiện pháp thân; đối lại với cõi chân thực do tu nhân mà được, gọi là Thực báo độ, thì có cõi do tu đạo Phương tiện mà chiêu cảm, gọi là Phương tiện hữu dư độ; đối lại với Bát nhã gọi là Thực trí, thì có hóa dụng lợi tha, gọi là Phương tiện trí; đối lại với Nhất thừa gọi là Chính thừa, thì có Tam thừa, gọi là Phương tiện thừa. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 chia Thi tạo phương tiện làm 3 loại: 1. Giáo đạo phương tiện: Tất cả việc làm ở thế gian đều có thể tu tập một cách khéo léo. 2. Chứng đạo phương tiện:Xả bỏ tình tướng chứng vào thực tế. 3. Bất trụ phương tiện: Không chấp trước các kiến giải sai biệt tương đối như không hữu, nhiễm tịnh, tự tha... Kinh Địa tạng thập luân quyển 10 thì chia Phương tiện làm 2 thứ là Phương tiện thiện xảo chấp trước hữu sở đắc và Phương tiện thiện xảo xa lìa chấp trước vô sở đắc; hoặc Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. Kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Phương tiện của bồ tát Thập địa là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, đại từ, đại bi, giác ngộ và chuyển bất thoái chuyển pháp luân.

Luận Đại thừa khởi tín thì nêu ra 4 thứ Phương tiện là: Căn bản phương tiện, Năng chỉ phương tiện, Phát khởi thiện căn(tăng trưởng)phương tiện và Đại nguyện phương tiện.Pháp hoa văn cú quyển 7 của ngài Trí khải tông Thiên thai thì nêu 3 thứ Phương tiện: Pháp dụng phương tiện, Năng thông phương tiện và Bí diệu phương tiện. Trong đó, tùy theo các đối tượng Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo mà thi thiết, là Pháp dụng phương tiện; Phương tiện thông suốt được pháp môn chân thực, là Năng thông phương tiện; Pháp hoa dùng nhân sâu kín của Quyền giáo trước mà hiển bày Viên giáo Pháp hoa, nhân sâu kín tức diệu(mầu nhiệm), là Bí diệu phương tiện. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 4, phần đầu, căn cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để phân biệt tính chất xa gần của Phương tiện. Tức là Tạng giáo lấy Tam hiền làm phương tiện xa, lấy Tứ thiện căn làm phương tiện gần, Thông giáo lấy Thập tín làm phương tiện xa, lấy Tam hiền làm phương tiện gần. Viên giáo lấy 25 phương tiện danh tự và 5 phẩm Hành quán làm phương tiện xa, lấy 6 căn thanh tịnh tương tự làm phương tiện gần. Tịnh danh kinh sớ quyển 3 nêu ra 3 thứ phương tiện: Tự hành, Hóa tha và Tự tha. Trong đó, chư Phật và 41 vị Bồ tát biết rõ lí Nhị đế chẳng thể nghĩ bàn, là Tự hành phương tiện. Đối với các Bồ tát Tạng, Thông, Biệt và Viên giáo hữu môn, không đoạn trừ phiền não mà cùng tuyên dương các giáo pháp trong giới nội và giới ngoại một cách bình đẳng, là Hóa tha phương tiện; hợp chung 2 loại trên lại thì gọi là Tự tha phương tiện. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.328; kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); luận Du già sư địa Q.45; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.7; Pháp hoa kinh văn cú Q.3, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
thiện tri thức
(善知識) Phạm: Kalyàịamitra. Pàli:Kalyàịa-mitta. Hán âm: Ca la mật, Ca lí dã nẵng mật đát la. Cũng gọi Tri thức, Thiện hữu, Thân hữu, Thắng hữu, Thiện thân hữu. Bạn lành, tức chỉ cho người chính trực, có đức hạnh, có năng lực dẫn dắt người khác hướng về chính đạo. Trái lại, người bạn dắt dẫn ta đi vào tà đạo thì gọi là Ác hữu.Cứ theo phẩm Thường đề trong kinh Đại phẩm bát nhã quyển 27 thì người có khả năng nói các pháp không, vô tướng, vô tác, vô sinh, vô diệt và Nhất thiết chủng trí, khiến người nghe vui vẻ tin ưa, gọi là Thiện tri thức. Phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm ghi rằng trong quá trình cầu đạo, đồng tử Thiện tài đã tham phỏng 55 vị Thiện tri thức(thông thường nói chỉ có 53 vị Thiện tri thức), tức trên từ chư Phật, Bồ tát, dưới đến người, trời... bất luận xuất hiện dưới hình thức nào, hễ có năng lực dắt dẫn chúng sinh đi theo con đường bỏ ác, tu thiện để bước vào đạo Phật, thì đều có thể được gọi là Thiện tri thức. Còn Thích thị yếu lãm quyển thượng thì trích dẫn luận Du già sư địa nêu lên 10 thứ công đức của Thiện tri thức là: Điều phục, tịch tĩnh, trừ hoặc, tăng đức, dũng mãnh, kinh phú, giác chân, thiện thuyết, bi thâm và li thoái. Lại theo Luật Tứ phần quyển 41 thì Thiện thân hữu phải có đủ 7 điều kiện là: Cho được cái khó cho, làm được việc khó làm, nhẫn được điều khó nhẫn, đem việc kín bảo cho nhau biết, khuyên nhau không che giấu điều lỗi, gặp khổ nạn không bỏ nhau và nghèo hèn không khinh nhau, gọi là Thiện hữu thất sự(bảy việc của người bạn lành). Trong kinh luận có nêu các loại Thiện tri thức khác nhau, cứ theo Ma ha chỉ quán quyển 4 hạ của ngài Trí khải thì có 3 loại Thiện tri thức dưới đây: 1. Ngoại hộ: Giúp đỡ ở bên ngoài để bạn được an ổn tu đạo. 2. Đồng hành: Cùng nhau hành động, khích lệ lẫn nhau. 3. Giáo thụ: Nói pháp khéo léo. Theo Câu xá luận tụng sớ quyển 29 của ngài Viên huy thì người bạn cho pháp là Thượng thân hữu, người cho của và pháp là Trung thân hữu, còn người chỉ cho của không thôi thì là Hạ thân hữu; trên đây gọi là Tam hữu. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 cũng nêu ra 3 loại Thiện tri thức là Nhận, Pháp và Nhân pháp hợp biện.Cứ theo phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 36 (bản dịch cũ) thì có 10 loại Thiện tri thức đó là: 1. Thiện tri thức thường giúp đỡ bạn an trụ nơi tâm bồ đề. 2. Thiện tri thức có năng lực khiến bạn tu tập các căn lành. 3. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu cácBa la mật một cách rốt ráo. 4. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn phân biệt giảng nói tất cả pháp. 5. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ và thành thục tất cả chúng sinh. 6. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn có đủ biện tài giải đáp được các nghi vấn. 7. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn không bám níu tất cả sinh tử. 8. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tu hạnh Bồ tát trong tất cả kiếp mà tâm không chán mỏi. 9. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn an trụ nơi hạnh Phổ hiền. 10. Thiện tri thức có năng lực giúp bạn tiến sâu vào tất cả trí của Phật. [X.kinh Tạp a hàm Q.27, 36, 45; kinh Tức vị tỉ khưu thuyết trong Trung a hàm Q.10; kinh Xà ni sa trong Trường a hàm Q.5; phẩm Thiện tri thức trong kinh Tăng nhất a hàm Q.11; kinh Thi a la việt lục phương lễ; kinh Đại bát niết bàn Q.23 (bản Nam); phẩm Diệu trang nghiêm vương bản sự trong kinh Pháp hoa Q.7; luận Đại trí độ Q.71, 96]. (xt. TriThức).