Pháp thân bình đẳng y báo, chánh báo đan xen lẫn nhau.  Mười phương cõi Phật nhơ, sạch không có sai biệt.  Chỉ vì hạnh nghiệp của chúng sinh bất đồng nên các đức Phật hóa hiện có khác nhau , hoặc nói quyền, hoặc nói thật, hoặc nói thiên, hoặc nói viên, hoặc nói tạm, hoặc nói thường, hoặc nói tiệm, hoặc nói đốn, như vầng trăng tỏa chiếu lung linh xuống muôn ngàn dòng sông thì mỗi lượn sóng nhấp nhô cũng phản chiếu một bóng trăng, như một căn phòng có muôn ngọn đèn, ánh sáng của một ngọn đèn này đều soi chiếu tất cả những ngọn đèn kia.  Cũng vậy, chân lý thì chỉ có một nhưng sự tướng có đến vô vàn.  Nếu không dẫn nhiều kinh văn thì chúng sinh nắm bắt qui tắc ở đâu ?  Vì thế, đứng về phương diện các giáo, tôi trình bày đại khái mười môn:

– Tịnh độ khắp tất cả chỗ.
– Tịnh độ duy tâm.
– Tịnh độ hằng chân.
– Tịnh độ do biến hiện.
– Tịnh độ ở cõi trời Sắc Cứu Cánh.
– Tịnh độ do phân thân.
– Tịnh độ dựa vào thân tha thọ dụng.
– Tịnh độ ở các phương.
– Chỉ một tâm này có đủ bốn cõi tịnh độ.
– Tịnh độ tiếp nhận tất cả loài hữu tình khắp mười phương không thể nghĩ bàn.

1/ Tịnh độ khắp tất cả chỗ

Tịnh độ khắp tất cả chỗ tức là cõi nước bản báo của các đức Phật.  Tịnh độ này có mười thế giới Hoa Tạng.  Thế giới cuối cùng của Hoa Tạng nào cũng đều có mười cõi rộng lớn như số vi trần thế giới Phật thanh tịnh, trang nghiêm;  mỗi cõi rộng lớn này lại có các cõi nhỏ như số vi trần thế giới Phật bao quanh, mỗi lớp càng tăng lên gấp bội.  Mỗi thế giới Hoa Tạng đều đầy cả hư không, xen lẫn vào nhau, dung hợp nhơ sạch trùng trùng vô tận.  Nếu như pháp mà bàn luận thì một ngọn cỏ, một cội cây, một mảy lông, một mảy bụi, mỗi mỗi đều đầy đủ cả pháp giới vô tận này.  Phật và chúng sinh không hai, không khác.  Hoặc có người nói đây là Thật báo trang nghiêm của chúng sinh ở cõi Cực Lạc, là thật giáo không đồng với quyền giáo cầu sinh về tịnh độ ở phương khác.  Hoặc nói rằng, chúng sinh tuy đủ Thật báo này nhưng ngặt vì không thể tự chứng chân như vô tánh, nên mãi ở trong đêm dài không thấy được mặt trời, lăn lóc trong biển khổ mênh mông, không biết đến bao giờ mới đến bờ.  Tuy nói rằng ở địa ngục khởi tâm diệu giác thì quả Phật hiện bày ở cõi địa ngục, nhưng mà giường sắt, cột đồng ở trước mắt thì sao?  Như ngạ quỉ chết khát ở ven biển, như người nghèo đếm tiền ở hang vàng.  Chỉ thấy cảnh tượng hư ảo kia, vì lẽ gì cho là thật ?  Nếu không nhờ phương tiện từ quyền vào thật thì chúng sinh đâu có ngày chứng nhập Tỳ lô ?

Đáp: Nếu đứng về phương diện nghi thức giáo hóa của các đức Phật thì có thể được, nhưng trong cõi Thật tướng không có lời nói thừa thãi này.  Tỳ lô giá na dịch là khắp tất cả chỗ.  Khắp tất cả chỗ tức là biểu hiện nghĩa Vô Lượng Thọ.  Do đó, Tỳ lô giá na đâu có hơn kém.  Như Lai vì  một số phàm phu chấp chặt vào hình tướng nên nói có A Di Đà ở phương Tây cũng như trong kinh Đại Vân, Phật A Di Đà nói với một vị bồ tát rằng : “ Có Phật Thích Ca ở thế giới Ta Bà”.  Phật Thích Ca đang làm giáo chủ thì Phật Thích Ca khắp tất cả chỗ, còn Phật A Di Đà là một chỗ của tất cả chỗ.  Lại nữa, Phật A Di Đà  đang làm giáo chủ thì Phật A Di Đà khắp tất cả chỗ, còn Phật Thích Ca là một chỗ trong tất cả chỗ, như  một người lấy chính mình làm bản vị thì mọi người đều là người khác.  Nếu lấy người khác làm bản vị thì mình là kẻ nằm trong tất cả mọi người.  Vì nghĩa này cho nên tự, tha không đứng vững được.  Tự, tha không đứng vững tức là tự cũng khắp tất cả chỗ, tha cũng khắp tất cả chỗ, đâu có phương khác đáng chấp.  Cho nên, Tỳ lô giá na ở phương Tây không có tự, tha.  Tại sao vậy ?  vì Tỳ lô không thể không khắp tất cả.  Nếu nói quyền, nói phương tiện thì có cái không trùm khắp.  Có cái không trùm khắp thì nghĩa Tỳ lô không đứng vững được.

2/ Tịnh độ duy tâm

Ngay khi tự chứng thì bản thể vô tâm tức là tịnh độ.  Kinh Duy Ma Cật nói rằng : “Này Bảo Tích ! Tâm ngay thẳng là tịnh độ của bồ tát; khi bồ tát thành Phật, chúng sinh không có tâm dối trá được sinh về nước kia.  Tâm thâm sâu là tịnh độ của bồ tát; khi bồ tát thành Phật, chúng sinh công đức viên mãn được sinh về nước kia.  Tâm bồ đề là tịnh độ của bồ tát; khi bồ tát thành Phật, chúng sinh tu pháp đại thừa được sinh về nước kia”.  Kinh văn nói rất nhiều, ở đây không thể nào dẫn chứng hết được.  Đại loại nói rằng: “Chúng sinh muốn sinh về tịnh độ thì phải thanh tịnh tâm của mình.  Tùy theo tâm mình thanh tịnh thì cõi Phật thanh tịnh”.

Tâm tức là tâm của cõi nước (độ).  Cõi nước (độ) tức là cõi nước của tâm. Tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh, vì vốn tự nhiên như vậy. Lời nói này chẳng lẽ không phải là lời giải thích về Tây Phương sao? Có nhiều người chấp tâm cho rằng Tịnh Độ ở ngoài tâm khiến cho pháp môn này bị xem là thấp kém, chỉ tiếp dẫn căn cơ ngu độn.  Niệm tức là tâm thì niệm Phật chẳng lẽ không phải là tịnh tâm sao?  Tâm vốn bao hàm cõi nước thì Liên Bang nào phải ở ngoài tâm.  Thế nên, nếu đứng về phương diện sự tướng thì Tịnh Độ không trái nghịch với lý duy tâm.  Nói Tịnh Độ ở ngoài tâm thì làm trở ngại về việc độ khắp chúng sinh.

3/ Tịnh độ hằng chân

Tịnh độ hằng chân là chỉ tịnh độ trên hội Linh Sơn.  Đức Phật đã chỉ dẫn bồ tát quyền giáo trong tam thừa để khiến cho những người tin mà chưa thấy, biết được tịnh độ này tuy nhơ bẩn nhưng hằng trong sạch.  Tánh của nhơ bẩn vốn vắng lặng, tướng của phàm tục thường không.  Vì vốn vắng lặng nên bồ tát ở chỗ nhơ uế mà tâm thường lặng lẽ.  Vì thường không nên bồ tát bước vào cõi đời trần tục mà tâm thường rỗng không, chính là hiển bày nghĩa Tịnh.  Chỉ vì biển chấp của chúng sinh mênh mông khó lặng, dây thức dễ buộc, cho nên nghe nói đến nghiệp vốn không thì tâm tư phóng túng mà tạo nghiệp.  Nghe nói hạnh không có bản chất chân thật thì tâm ý buông thả, thực hiện những việc mờ ám.  Những người này phạm vào chỗ quở trách của Vĩnh Gia, rơi vào chỗ đọa lạc của Thiện Tinh (đọa địa ngục)  cho đến khi sống bị pháp luật thế gian trừng trị, đến khi chết làm quyến thuộc của ma, thường thường là như vậy.

Than ôi!  muốn cho tất cả mọi người trên quả đất này đều thành bồ tát thì lời nói phải thật sự có lợi ích.  Bồ tát trong thiên hạ thì ít, phàm phu thì nhiều.  Vì vậy, lời nói đem lại lợi lạc cho thiên hạ thì ít mà gieo rắc tai hại cho thiên hạ thì nhiều.

4/ Tịnh độ do biến hiện

Trong kinh Pháp hoa, Phật ba lần biến hiện cõi Ta Bà thành tịnh độ, di chuyển các trời, người ở phương khác.  Trong kinh Duy Ma, Thế Tôn sử dụng ngón chân ấn xuống mặt đất, lập tức ba ngàn đại thiên thế giới biến thành trăm ngàn trân bảo trang nghiêm.  Đây là Như Lai tạm thời biến hiện cũng là sự tự nhiên như vậy thôi.  Trí tuệ như Thu Tử (Xá Lợi Phất) đối với Tịnh Độ cũng giống như người đui mù.  Chúng sinh căn cơ kém cỏi không làm sao thấy được cõi ấy.  Hơn nữa, trời người bị đem để ở phương khác, vì họ hoàn toàn không có nhân duyên tiếp dẫn nên thần lực tạm hiện rồi mất, thì đâu phải là tịnh độ thường hằng; đâu bằng tịnh bang An Dưỡng thường trụ qua số kiếp nhiều như hạt bụi, và từ phụ A Di Đà không bỏ sót người gây tạo mười điều ác !  Rõ ràng có thể biết được cõi nước hơn kém.

5/ Tịnh độ ở cõi trời Sắc Cứu Cánh

Như Lai ở cõi trời Sắc Cứu Cánh thành chánh đẳng giác thì cõi trời này trở thành tịnh độ Thật báo.  Luận Khởi tín ghi: “Ở cõi trời Sắc Cứu Cánh, bồ tát thành tựu công đức viên mãn sẽ hiện thân cao lớn hơn hết thảy thế gian”.

Câu nói ấy có nghĩa là một niệm tương ứng với tuệ thì tức khắc quét sạch bóng tối vô minh, mệnh danh là nhất thiết chủng trí, tự nhiên có nghiệp dụng không thể nghĩ bàn, có thể hiện thân khắp cả mười phương để làm lợi ích cho chúng sinh.  Hòa thượng Pháp Tạng nói: “Tại sao báo thân thọ dụng của bồ tát lại trụ ở cõi trời này?  Vì mười địa thọ báo thân làm mười vua trời, địa thứ mười thọ thân vua cõi trời này, tức là ngay thân này thị hiện thành bồ đề”.  Vị trời này tuy nói là vô lậu nhưng vẫn chưa bằng người ở Liên Bang ra khỏi ba cõi.  Tại sao vậy?  Vì còn ở cõi trời Sắc Cứu Cánh.

6/ Tịnh độ do phân thân

Kinh Niết bàn ghi: “Phật bảo Cao Quý Đức Vương:  Thiện nam tử ! Về hướng Tây cách thế giới Ta Bà này khoảng ba mươi hai cõi Phật nhiều như số cát sông Hằng, có thế giới mệnh danh là Vô Thắng giống như thế giới Cực Lạc ở phương Tây.  Ta ở thế giới ấy xuất hiện ở đời để giáo hóa chúng sinh và Ta cũng đang ở thế giới này vận hành bánh xe pháp”.

Lại nữa, kinh Ương Quật ghi:“ Phật nói với Ương Quật rằng:

– Ta cư trú ở bờ mé vô sinh mà ông không biết.

Ương Quật hỏi:

– Nếu cư trú ở bờ mé vô sinh thì tại sao Thế Tôn hạ sinh ở cõi này?

Thế Tôn đáp:

– Có Phật ở phương Đông, ông hãy đến hỏi Phật kia.

Ương Quật đến hỏi, Phật kia đáp:

– Phật Thích Ca chính là thân ta”.

Đại ý lời trích dẫn trên nói rằng tịnh độ kia là cõi Thật báo của Phật, còn cõi này là cõi Phật phân thân.  Tuy làm sáng tỏ cảnh giới y báo của một Phật, nhưng chưa đủ nghĩa nhiếp phục để giáo hóa chúng sinh.  Bởi vì chỉ có phần của Phật mà chưa có phần của chúng sinh, cho nên tịnh độ ấy chưa thù thắng.

7/ Tịnh độ dựa vào thân tha thọ dụng

Kinh Phạm Võng ghi: “Hôm nay, ta là Lô xá na ngồi trên đài sen xung quanh có ngàn cánh hoa.  Trên ngàn cánh hoa hiện ngàn Phật Thích Ca.  Mỗi cánh hoa lại có trăm ức cõi nước, mỗi cõi nước có một Phật Thích Ca…” Vì các vị sơ địa có khả năng biến hiện trăm cõi Phật, nên hoa có trăm cánh.  Nhị địa có khả năng biến hiện ngàn cõi Phật, nên hoa có ngàn cánh.  Tam địa, hoa có vạn cánh.  Tứ địa, hoa có ức cánh.  Cứ thế tăng lên gấp bội.  Vì vậy, dựa vào thân tha thọ dụng mà hiện bày cảnh giới của y báo, chỉ có các bậc nhập vào những địa này  mới thấy, chứ không phải như trên hội Liên Trì, chúng sinh niệm Phật được mười niệm liền thấy cảnh giới Phật thanh tịnh trang nghiêm.

8/ Tịnh độ ở các phương

Tại phương Đông có Phật Dược Sư, tại phương Nam có Phật Nhật Nguyệt Đăng, tại phương Thượng có Phật Hương Tích, vị Phật nào cũng đều có tịnh độ.

Các kinh nói rất nhiều về tịnh độ của các đức Phật đều là Thật báo trang nghiêm.  Ở đây không thể nào ghi đầy đủ được.  Trong kinh, hoặc có khi Phật vận dụng thần lực tạm thời hiện ra, hoặc có khi các đại bồ tát đến cúng dường các đức Phật.  Vì các đức Phật kia chưa có thệ nguyện tiếp dẫn chúng sinh, cho nên chúng sinh không có nhân duyên sinh về các cõi ấy, chẳng hạn như thế giới Diệu Hỷ, Phật Thích Ca tuy có nói đến vãng sinh nhưng chưa nghe nói đến Phật Vô Động (ở thế giới Diệu Hỷ) tiếp dẫn tất cả chúng sinh.  Hơn nữa, thế giới Diệu Hỷ có các núi như núi Thiết Di, núi Tu Di và có quỉ thần, phụ nữ.  Vì thế, nên biết, thế giới Diệu Hỷ thanh tịnh trang nghiêm không bằng An Dưỡng.

Lại như Dược Sư Như Lai dùng mười hai lời đại nguyện để cứu vớt chúng sinh, trong kinh Phật cũng khuyên người có niềm tin nên sinh về nước kia.  Xét cho cùng, năng lực thệ nguyện của Dược Sư Như Lai phần nhiều là cởi mở tất cả nỗi khổ đau, buồn phiền để đưa chúng sinh đến chỗ an lạc tuyệt đối.  Nhưng, chưa bằng A Di Đà Như Lai chỉ dùng một pháp Niệm Phật để tiếp dẫn tất cả mọi người niệm Phật vãng sinh về tịnh độ của Ngài.

9/ Chỉ một tâm này có đủ bốn cõi tịnh độ

1. Cõi Phàm thánh đồng cư.
2. Cõi Phương tiện hữu dư.
3. Cõi Thật báo vô chướng ngại.
4. Cõi Thường tịch quang.

9.1- Cõi Phàm thánh đồng cư có Đồng cư uế độ và Đồng cư tịnh độ.

– Đồng cư uế độ có phàm, có thánh ở chung với nhau.  Phàm, thánh đều có hai hạng.

– Hai hạng của phàm là chúng sinh dữ, tức là chúng sinh trong bốn đường dữ (địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, a tu la ) và chúng sinh thiện tức là trời, người.

– Hai hạng của thánh là thật thánh và quyền thánh.  Thật thánh là các thánh nhân thuộc bốn đạo quả: bậc bích chi Phật, bậc thất địa trong thông giáo, bậc thập trụ trong biệt giáo, bậc thập tín hậu tâm trong viên giáo.  Những vị này tuy dứt phần kiến tư hoặc nhưng sắc thân, quả báo vẫn còn, nên đều gọi là thật. Quyền thánh là các vị pháp thân bồ tát và diệu giác Phật cư trú ở các cõi:  Phương tiện, Thật báo, Tịch quang.  Vì làm lợi ích cho kẻ hữu duyên nên ứng sinh vào cõi Đồng cư.  Vì tùy cơ thị hiện nên gọi là quyền.

Những bậc thánh ấy ở chung với chúng sinh trong bốn đường dữ, cho nên gọi là uế độ.  Lại nữa, Đồng cư tịnh độ như trong cõi nước Cực Lạc có chúng sinh, trong cõi nước Diệu Hỷ có núi Thiết Vi, nam nữ.  Vì những cõi nước này không có bốn đường dữ, nên mệnh danh là tịnh độ.

Tôi xét thấy,  cõi Đồng cư uế độ đã có các vị thánh cũng có thể coi là Đồng cư Tịnh độ, như thế giới Ta Bà ở tại lớp thứ mười ba của thế giới Hoa Tạng, cũng có thể gọi thế giới Ta Bà là thế giới Hoa Tạng.

9.2 – Cõi Phương tiện hữu dư  là chỗ cư trú của bậc nhị thừa và ba bậc bồ tát (thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng) phá kiến tư hoặc, chứng phương tiện đạo, nhưng trần sa biệt hoặc và vô minh chưa quét sạch.  Những vị này do xả bỏ thân phần đoạn mà sinh ở ngoài ba cõi nên mệnh danh là Hữu dư.  Thích luận nói rằng: “Ngoài ba cõi có tịnh độ, đây là chỗ sinh về của các vị thanh văn, bích chi Phật thọ thân pháp tánh, không còn phần đoạn sinh tử”.

9.3 – Cõi Thật báo vô chướng ngại là nơi không cò nhị thừa,. chỉ thuần là bậc pháp thân bồ tát cư trú. Những vị này đã dứt hết trần sa  hoặc, đang phá vỡ từng phần vô minh nên được quả báo chân thật.  Nhưng vì chưa quét sạch mây mù vô minh nên còn nhuận nghiệp vô lậu, thọ báo thân pháp tánh.  Tịnh độ này cũng mệnh danh là Quả báo độ.  Kinh Nhân vương nói rằng: “Tam hiền, thập thánh trụ quả báo”.

Sở dĩ mệnh danh Thật báo là vì những đại sĩ ấy do quán  thật tướng, phát sinh được vô lậu chân thật, thọ hưởng quả báo thù thắng, bảy chất liệu quí báu trang nghiêm, đủ cả ngũ trần tịnh diệu . Mệnh danh vô chướng ngại là vì sắc, tâm không hai; mảy lông, cõi nước dung thông không ngại.  Kinh Hoa nghiêm thuyết minh thế giới nhân đà la võng chính là cảnh giới này.

9.4 – Cõi Thường tịnh quang là lý pháp giới như như được trí giác ngộ cùng tột chiếu soi, mệnh danh là cõi nước, cũng mệnh danh là pháp tánh độ.  Thế nhưng, chỉ một Phật tánh chân như chứ không phải thân, không phải cõi nước (độ) mà nói là thân, là cõi nước.  Lìa thân không có cõi nước, lìa cõi nước không có thân.  Đây là cảnh giới mà các đức Như Lai du hóa.

Sách Diệu Tông ghi: “Kinh luận nói đến tịch quang vô tướng chính là tâm đã xóa sạch tướng nhiễm ô, chướng ngại chứ không phải như thái hư rỗng rang, không có một vật.  Bởi vì ba hoặc (Kiến, tư, vô  minh) thanh tịnh tuyệt đối nên y báo, chánh báo, sắc, tâm tỏ rạng vô cùng”.  Đại kinh nói rằng: “Do diệt sắc ấy  nên được thường sắc, thọ , tưởng, hành, thức cũng theo đây suy ra mà biết”.  Kinh Nhân vương mệnh danh là ngũ ấm của pháp tánh.  Đây là quả tột cùng.

SƠ ĐỒ TÓM TẮT BỐN CÕI TỊNH ĐỘ

I. Phàm Thánh đồng cư

1/ Đồng cư uế độ:

a/ Phàm cư
a1-Chúng sinh dữ: chúng sinh bốn đường dữ
a2- Chúng sinh thiện: trời, người

b/Thánh cư
b1-Thật thánh:
-Bậc Bích chi Phật
-Bậc thất địa
-Bậc thập trụ
-Bậc thập tín hậu tâm

b2- Quyền thánh: các vị pháp thân Bồ tát, diu giác Phật thị hiện vào cõi Đồng Cư.

2/ Đồng cư tịnh độ: cõi Cực Lạc

II. Cõi Phương tiện hữu dư: chỗ cư trú của bậc nhị thừa và ba bậc Bồ tát (Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng) chứng phương tiện đạo.

III. Cõi Thật báo vô chướng ngại: chỗ cư trú của bậc pháp thân Bồ tát.

IV. Cõi Thường tịch quang: cảnh giới mà các đức Như Lai du hóa.

Tuy nhiên , mười phương cõi nước tùy theo tâm tư mỗi vị mà thấy khác nhau; thất bảo, cát đá ngay đấy thấy có sai biệt.  Tráp Xuyên nói rằng: “Cực Lạc có bốn cõi bất đồng.  Tại sao vậy?  Vì đứng về phương diện trời, người tức là hai cõi trước (cõi Phàm thánh đồng cư, cõi Phương tiện hữu dư).  Đứng về phương diện Bồ tát, Phật tức là hai cõi sau (Cõi Thật báo vô chướng ngại, cõi Thường tịch quang)”.  Nên biết, thân Phật cao sáu mươi vạn ức trăm triệu hằng sa do tuần cũng không ngại gì có thân một trượng sáu.  Hoa Tạng hải hội vô biên cõi Phật cũng không ngại gì cõi nước có sông Ni Liên Thiền.  Tại sao vậy?  Vì tự nhiên như vậy, chứ không phải do thần lực biến hiện.

10/ Tịnh độ tiếp nhận tất cả hữu tình khắp cả mười phương không thể nghĩ bàn.

Tịnh độ phương Tây của Phật A Di Đà có công đức rộng lớn như biển cả, có bi trí rộng lớn như biển cả, có nguyện lực rộng lớn như biển cả.  Nếu nói đầy đủ thì giả sử trên từ các đức Phật, bồ tát, thanh văn, bích chi Phật, trời, người, ngạ quỉ, súc sinh khắp cả mười phương thế giới, dưới đến loài sâu bọ và tất cả vật vô tri như cỏ cây, ngói đá, mảy bụi cực nhỏ, mỗi  mỗi đều có đầy đủ vô lượng miệng, trong mỗi miệng đều có đầy đủ vô lượng lưỡi, trong mỗi lưỡi đều có phát ra vô lượng âm thanh, nói mãi, nói nhiều, nói hăng.  Nói như vậy trải qua trăm ức vạn thời kỳ vô số như cát bụi cũng không thể nào nói hết được.  Bây giờ xin giải thích sơ lược qua năm nghĩa sau đây:

  1. Thân, cõi nước không thể nghĩ bàn.
  2. Tánh, tướng không thể nghĩ bàn.
  3. Nhân, quả không thể nghĩ bàn.
  4. Đến, đi không thể nghĩ bàn.
  5. Cứu cánh không thể nghĩ bàn.

1- Thân, cõi nước không thể nghĩ bàn

Trong thân A Di Đà có vô lượng chúng sinh, trong thân chúng sinh có vô lượng A Di Đà.  Cõi nước cũng đại loại như vậy.  Cho nên, một chúng sinh niệm A Di Đà thì  một A Di Đà hiển hiện.  Nhiều chúng sinh niệm A Di Đà thì nhiều A Di Đà hiển hiện.  Chúng sinh niệm A Di Đà trong mỗi niệm thì mỗi niệm A Di Đà hiển hiện.  Nếu trong thân của chúng sinh không có A Di Đà thì A Di Đà không thể hiển hiện, như trong cái kính lúp dùng lấy lửa từ mặt trời không thể nào tìm được nước, vì sẵn không có.  Nếu trong thân A Di Đà không có chúng sinh thì A Di Đà cũng không thể nào hiển hiện, như người đàn bà không sinh đẻ được (thạch nữ) mà mong cầu sinh con thì không bao giờ được, vì không thích hợp .  Do đó, trong một thân bao hàm một thân, trong một thân bao hàm tất cả thân.  Trong  một cõi nước bao hàm một cõi nước, trong một cõi nước bao hàm tất cả cõi nước.  Thân, cõi nước đan xen lẫn nhau trùng trùng vô tận.

2- Tánh, tướng không thể nghĩ bàn

Nếu lìa tánh mà nói tịnh độ thì tịnh độ ở ngoài tâm.  Đó là huyễn hóa.  Huyễn hóa là tướng đoạn diệt cho nên chúng sinh không sinh.  Nếu ngay nơi tánh mà nói tịnh độ thì tánh có hình tướng.  Đó là cố định.  Cố định tức là không biến đổi gì hết.  Vì không biến đổi, chúng sinh dù sinh mà cũng là không sinh.  Vì ngay nơi tánh tức là tướng, nên không có tánh thì không có tướng; hễ còn tồn tại tức là và không phải  thì đều hỏng.

3- Nhân, quả không thể nghĩ bàn

Nhân quả không thể nghĩ bàn có hai nghĩa:

a/ Nhân trước quả sau: Như niệm Phật là nhân, thấy Phật là quả.  Thấy Phật là nhân, thành Phật là quả.  Thành Phật là nhân, độ chúng sinh là quả.

b/ Nhân quả không có trước sau: ngay khi niệm liền đầy đủ cả thấy Phật, thành Phật, độ chúng sinh như con người tuổi từ ba mươi đến bốn mươi thì ba mươi là nhân, bốn mươi là quả.  Nhưng, từ ba mươi đến bốn mươi không có tướng gián đoạn.  Nếu không có bốn mươi thì không có ba mươi. Nếu không có ba mươi thì không có bốn mươi. Vì thế, nên biết, không thể nào lìa bỏ ba mươi đến bốn mươi được.  Nếu lìa bỏ ba mươi đến bốn mươi thì khoảng giữa có tướng gián đoạn, mà thân này của ta không có tướng gián đoạn.  Nếu từ ba mươi đến bốn mươi thì khoảng giữa có tướng tương tục, mà thân này của ta cho đến tướng tương tục cũng không tìm được.  Nhân quả niệm Phật cũng theo đây suy ra mà biết.

4-  Đến, đi không thể nghĩ bàn

Nếu Phật A Di Đà do thệ nguyện mà đến cõi Ta Bà để tiếp dẫn chúng sinh, thì chúng sinh do nhớ nghĩ đến Phật  mà sinh về cõi Cực Lạc.  Vì vậy có đến, đi; có đến, đi tức là có con đường đi; có con đường đi tức là có khó , dễ như người gần kinh đô yết kiến vua dễ dàng, người ở xa xôi yết kiến vua khó khăn.  Nếu giống như vậy thì niệm Phật cầu sinh về Tây Phương lẽ ra cũng có khó, dễ; nhưng thật ra con đưòng về Tịnh Độ đâu phải xa xôi.  Kinh Bát chu tam muội ghi: “Chẳng phải đợi đến khi lâm chung mới sinh về cõi Phật, vì Phật không đến, tôi cũng không đi”. Lại nữa, tiên đức có câu: “Sinh thì quyết định sinh, đi thì thật không đi”, như dóng trống Trời, mọi người xa gần đều nghe; như bóng trăng trong nước, đi về hướng Đông thì thấy nó hiện ở hướng Đông, đi về hướng Tây thì thấy nó hiện ở hướng Tây, nhưng thật ra thì nó không có đi đâu cả.

5- Cứu cánh không thể nghĩ bàn:

Như núi non soi bóng dưới đầm nước trong, như trăm hoa nở rộ dưới nắng xuân, như nghiệp lực của chúng sinh, như ánh sáng của vầng nhật nguyệt, như các căn trong thai mẹ, như ngã trong thân, như răng cứng lưỡi mềm, như mày ngang mũi dọc.

Sỡ dĩ mười phương các đức Phật hết lòng hết dạ đối với chúng sinh là vì muốn nói về cái pháp hiếm có khó tin này mà thôi.  Tuy có hiện tướng lưỡi rộng dài trùm khắp ba ngàn đại thiên thế giới để tuyên dương, nhưng cũng chưa thể nói được trong  muôn một.  Khổng Tử có nói: “Đạo lý thông thường thì kẻ ngu dốt có thể biết được, nhưng nói đến chỗ vi diệu thì thánh nhân cũng không biết nổi”.  Đúng thay lời này!  Cho nên, vô lượng pháp môn chỉ cần lấy một pháp môn Tịnh Độ này là xâu suốt hết.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
thập hồi hướng
(十回向) Cũng gọi Thập hồi hướng tâm. Gọi tắt: Thập hướng. Chỉ cho 10 giai vị, từ giai vị thứ 31 đến 40 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát: 1. Cứu hộ nhất thiết chúng sinh li chúng sinh tướng hồi hướng: Tức giai vị thực hành Lục độ, Tứ nhiếp, cứu hộ tất cả chúng sinh, kẻ oán, người thân đều bình đẳng. 2. Bất hoại hồi hướng: Giai vị đã có được niềm tin bất hoại đối với Tam bảo,hồi hướng căn lành này, khiến chúng sinh được lợi ích tốt đẹp. 3. Đẳng nhất thiết Phật hồi hướng: Giống như sự hồi hướng của chư Phật 3 đời, tu hành không đắm trước sinh tử, không lìa bỏ bồ đề. 4. Chí nhất thiết xứ hồi hướng: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng đến khắp tất cả các nơi từ Tam bảo cho đến chúng sinh để làm lợi ích cúng dường. 5. Vô tận công đức tạng hồi hướng: Tùy hỉ tất cả thiện căn vô tận, hồi hướng làm Phật sự để được vô tận công đức thiện căn.6. Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng: Hồi hướng các thiện căn đã tu, được Phật che chở, thành tựu tất cả căn lành bền vững. 7. Tùy thuận đẳng quán nhất thiết chúng sinh hồi hướng: Tức nuôi lớn tất cả gốc lành để hồi hướng làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 8. Như tướng hồi hướng: Thuận theo tướng chân như mà hồi hướng các thiện căn đã thành tựu. 9. Vô phược vô trước giải thoát hồi hướng: Tức đối với tất cả pháp không để bị vướng mắc, trói buộc, được tâm giải thoát, đem thiện pháp hồi hướng, thực hànhhạnhPhổ hiền, đầy đủ mọi đức. 10. Pháp giới vô lượng hồi hướng: Tức tu tập tất cả thiện căn vô tận, đem hồi hướng các thiện căn này để nguyện cầu vô lượng công đức trong pháp giới sai biệt.Hồi hướng hàm ý là dùng tâm đại bi cứu hộ tất cả chúng sinh. Thập hồi hướng thuộc về Giải hành trụ trong 13 Trụ, Tư lương vị trong 5 vị, 10 giai vị sau trong Tam hiền và Đạo chủng tính trong 6 Chủng tính. [X. kinh Hoa nghiêm Q.15-22 (bản dịch cũ); phẩm Thánh hiền danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5, thượng].
thập hạnh
(十行) I. Thập Hạnh. Cũng gọi Thập hạnh tâm. Chỉ cho 10 hạnh tu lợi người từ giai vị 21 đến giai vị 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Hoan hỉ hạnh: Bồ tát dùng vô lượng diệu đức của Như lai để tùy thuận 10 phương. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát khéo làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 3. Vô sân hận hạnh: Bồ tát tu hạnh nhịn nhục, không tức giận, khiêm nhường cung kính, không hại mình hại người, đối với oán địch thường nín nhịn. 4. Vô tận hạnh(cũng gọi Vô khuất nhiễu hạnh): Bồ tát tu hạnh tinh tiến, phát tâm độ tất cả chúng sinh, đến đại Niết bàn, không biếng nhác, xao lãng. 5. Li si loạn hạnh: Bồ tát thường trụ trong chính niệm không tán loạn, đối với tất cả pháp không si loạn. 6. Thiện hiện hạnh: Bồ tát biết rõ pháp không, 3 nghiệp vắng lặng, không trói buộc, không tham đắm, nhưng cũng không bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 7. Vô trước hạnh: Trải qua vô lượng kiếp cúng Phật cầu pháp, tâm không chán đủ, nhưng cũng dùng tâm vắng lặng quán xét các pháp, cho nên không đắm trước tất cả pháp. 8. Tôn trọng hạnh: Bồ tát tôn trọng thiện căn trí tuệ... thảy đều thành tựu, nhờ đó lại càng tiến tu hạnh lợi mình lợi người. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ tát chứng được 4 môn Đà la ni vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hóa người khác để hộ trì chính pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt mất.10. Chân thực hạnh: Bồ tát thành tựu lời nói Đệ nhất nghĩa đế, nói đúng như việc làm, làm đúng như lời nói, nói và làm phù hợp nhau, sắc tâm đều thuận. Tu thập hạnh có 4 mục đích: 1. Nhàm chán các pháp hữu vi. 2. Cầu đạo Bồ đề, đầy đủ Phật đức. 3. Muốn cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và ở đời vị lai. 4. Cầu thực tế, chứng pháp như. Ngoài ra, về việc Bồ tát tu 10 hạnh này ở giai vị nào, thì trong các kinh luận có thuyết cho rằng 1 trong 3 Hiền vị, có thuyết cho là Tính chủng tính trong 6 chủng tính, lại có thuyết cho là Tư lương vị trong 5 vị... [X. phẩm Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản dịch cũ); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Đại thừa nghĩa chương quyển Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. II. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh tu của Bồ tát đó là: 1. Tín: Kính tin Phật, Pháp. 2. Bi: Trừ diệt khổ đau cho chúng sinh. 3. Từ: Ban vui cho chúng sinh, đối với các chúng sinh khởi chúng sinh duyên, biết chúng sinh không có thực thể, không tự tính mà khởi pháp duyên, quán xét 5 uẩn là không mà khởi vô duyên. 4. Xả: Bên trong xả bỏ thân mệnh, bên ngoài xả bỏ tài vật để bố thí, giúp chúng sinh an tâm. 5. Bất bì quyện: Bồ tát tu hành các hạnh thế gian, xuất thế không biết mỏi mệt. 6. Tri kinh thư: Bồ tát biết rõ 5 môn học (Ngũ minh). 7. Tri thế trí: Bồ tát hiểu biết ý nghĩa của các việc thực tế ở thế gian. 8. Tàm quí: Đối với tội lỗi sinh tâm thẹn hổ. 9. Kiên cố lực: Bồ tát có năng lực bền vững, giữ gìn Phật đạo, khôngđể lui sụt. 10. Cúng dường: Bồ tát cúng dường chư Phật và tu hành đúng theo lời dạy của Phật.[X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát địa trì Q.3,7; Thập địa kinh luận Q.3]. III. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh bao nhiếp các thiện pháp. Đó là: 1. Từ bi hạnh(không giết hại). 2. Thiểu dục hạnh(không trộm cướp). 3. Tịnh phạm hạnh(không tà dâm). 4. Đế ngữ hạnh(không nói dối). 5. Minh tuệ hạnh(không uống rượu). 6. Hộ pháp hạnh(không nói lỗi của người khác). 7. Tức ác suy thiện hạnh (không khen mình chê người). 8. Tài pháp câu thí hạnh(không bỏn xẻn chính pháp và tài vật). 9. Nhẫn nhục hạnh(không tức giận). 10. Tán thán Tam bảo hạnh(khen ngợi Tam bảo). [X. Thiền giới thiên]. IV. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra, gọi là Thập ác. (xt. Thập Thiện Thập Ác).
Linh Sơn
(靈山): tiếng gọi tắt của Linh Thứu Sơn (靈鷲山), hay còn gọi là Thứu Phong (鷲峰), Thứu Lãnh (鷲嶺), tiếng phiên âm của nguyên ngữ Sanskrit là Kỳ Xà Quật Sơn (s: Gṛdhrakūṭa, p: Gijjhakūṭa, 耆闍崛山), tên ngọn núi nằm ở phía Đông Bắc Thành Vương Xá thuộc nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀), hiện tại nằm ở phía Đông Rajgir của Ấn Độ. Đây là một trong những thánh địa của Phật Giáo, là nơi đức Phật đã từng thuyết pháp; cho nên người ta cho rằng phần lớn các kinh điển Đại Thừa như Pháp Hoa, Bát Nhã, Đại Bảo Tích, Vô Lượng Thọ, v.v., và cũng như câu chuyện Niêm Hoa Vi Tiếu của Thiền Tông đều phát xuất từ đây. Trong bộ Long Hưng Phật Giáo Biên Niên Thông Luận (隆興佛敎編年通論) quyển 12 do Thạch Thất Sa Môn Tổ Tú (石室沙門祖琇) ở Phủ Long Hưng (隆興府) soạn, có đoạn: “Huyền Trang … sưu dương Tam Tạng tận Long Cung chi sở trữ, nghiên cứu Nhất Thừa cùng Thứu Lãnh chi di chỉ, tinh dĩ tải ư Bạch Mã hoàn hiến Tử Thần, tầm mông hạ chiếu sắc sứ phiên dịch (玄奘…搜揚三藏盡龍宮之所儲、研究一乘窮鷲嶺之遺旨、並已載於白馬還獻紫宸、尋蒙下詔敕使翻譯, Huyền Trang … tìm tòi Tam Tạng kinh điển tận chốn Long Cung tàng trữ, nghiên cứu giáo lý Nhất Thừa soi rõ yếu chỉ của Thứu Lãnh, cùng bỏ lên Bạch Mã mang về dâng Hoàng triều, mong trên hạ chiếu cho người phiên dịch).” Trong bài thơ Linh Ẩn Tự (靈隱寺) của thi sĩ Tống Chi Vấn (宋之問, khoảng 656-712) đầu thời nhà Đường có câu trứ danh là: “Thứu Lãnh uất thiều nghiêu, Long Cung tỏa tịch liêu, lâu quán thương hải nhật, môn đối Triết Giang triều, quế tử nguyệt trung lạc, thiên hương vân ngoại phiêu (鷲嶺鬱岧嶢、龍宮鎖寂寥、樓觀滄海日、門對浙江潮、桂子月中落、天香雲外飄, Thứu Lãnh rậm vút cao, Long Cung mờ tịch liêu, trên lầu biển xanh ngắm, cửa tựa Triết Giang triều, hàng quế trăng thầm rụng, hương trời mây trắng bay).” Hoặc trong bài Hòa Vương Ký Thất Tùng Triệu Vương Xuân Nhật Du Đà Sơn Tự (和王記室從趙王春日遊陀山寺) của Lạc Tân Vương (駱賓王, khoảng 619-687) nhà Đường cũng có câu: “Điểu dư bồi phỏng đạo, Thứu Lãnh hiệp thê chơn, Tứ Thiền minh tĩnh nghiệp, Tam Không quảng thắng nhân, tường hà sơ điệp giản, huệ nhật kiểu trùng luân, diệp ám Long Cung mật, hoa minh Lộc Uyển xuân (鳥旟陪訪道、鷲嶺狎棲眞、四禪明靜業、三空廣勝因、祥河疏疊澗、慧日皎重輪、葉暗龍宮密、花明鹿苑春, cờ xí lên vấn đạo, Thứu Lãnh dưỡng nuôi chơn, Bốn Thiền sáng nghiệp lắng, Ba Không rõ duyên nhân, sông từ trong khe mát, trời tuệ tỏ thế nhân, lá che Long Cung thẳm, hoa tươi Lộc Uyển xuân).”
tam thừa
(三乘) Phạm:Trìịi yànàni. Chỉ cho 3 loại xe, ví dụ 3 pháp môn vận chuyển chúng sinh vượt qua sinh tử đến bờ Niết bàn. I. Tam Thừa. Để thích ứng với 3 loại căn cơ của chúng sinh là độn căn, trung căn và lợi căn, đức Phật nói 3 thứ giáo pháp là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa và Bồ tát thừa, gọi là Tam thừa.1. Thanh văn thừa (Phạm: Zràvakayàna): Nhờ nghe tiếng nói pháp của đức Phật mà được ngộ đạo nên gọi là Thanh văn. Hàng Thanh văn biết khổ, đoạn tập, ưa diệt, tu đạo, dùng 4 đế ấy làm thừa. 2. Duyên giác thừa (Phạm:Pratyekabuddha-yàna), cũng gọi Bích chi phật thừa, Độc giác thừa. Nhờ quán xét 12 nhân duyên mà giác ngộ lí chân đế, cho nên gọi là Duyên giác. Bắt đầu quán xét vô minh cho đến lão tử, kế quán vô minh diệt cho đến lão tử diệt, do nhân duyên sinh diệt này mà ngộ chẳng sinh chẳng diệt, cho nên lấy 12 nhân duyên này làm thừa. 3. Bồ tát thừa (Phạm: Boddhisattvayàna), cũng gọi Đại thừa (Phạm: Mahàyàna), Phật thừa, Như lai thừa: Cầu bồ đề vô thượng, nguyện độ tất cả chúng sinh, tu 6 độ muôn hạnh, lấy 6 độ này làm thừa. Hai thừa trước chỉ tự lợi, không lợi tha nên gọi chung là Tiểuthừa, còn Bồ tát thừa thì đủ cả tự lợi và lợi tha, cho nên gọi Đại thừa. Tát bà đa tì ni tì bà sa quyển 1 và luận Cứu cánh nhất thừa bảo tính đều cho rằng chỗ chứng đắc của Tiểu thừa thì Tam thừa đều biết, chỗ chứng đắc của Trung thừa thì Nhị thừa đều biết và chỗ chứng đắc của Phật thì chỉ một mình Phật biết chứ Nhị thừa không biết, đó là lí do để gọi Tam thừa là Tiểu thừa, Trung thừa, Đại thừa; kinh Tịch điều âm sở vấn, luận Đại tì bà sa quyển 127 và luận Đại trí độ quyển 11 thì lấy việc trong pháp nhất vị không phân biệt mà nói thượng trung hạ để hiển bày sự sai khác giữa Tam thừa làm lí do gọi Tam thừa là Hạ thừa, Trung thừa và Thượng thừa; Đại thừa trang nghiêm kinh luận quyển 4 và Nhiếp đại thừa luận thích quyển 1 (bản dịch đời Lương) thì gọi chung Thanh văn thừa và Duyên giác thừa là Hạ thừa, còn gọi Bồ tát thừa là Thượng thừa. Tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai cho Tam thừa là pháp môn phương tiện, cuối cùng qui về Nhất Phật thừa, đó là Nhất thừa giáo, tức ngoài Tam thừa còn lập riêng Nhất Phật thừa; tông Pháp tướng thì cho rằng Nhất thừa chỉ vì một cơ mà tạm thời đặt ra, thuộc Quyền giáo, còn Tam thừa mới là Thực giáo. Tức tông Hoa nghiêm và tông Thiên thai chủ trương Tam thừa phương tiện, Nhất thừa chân thực, còn tông Pháp tướng thì, trái lại, chủ trương Tam thừa chân thực, Nhất thừa phương tiện. [X. kinh Đại bảo tích Q.94; kinh Giải thâm mật Q.2; luận Hiển dương thánh giáo Q.3; luận Phật tính Q.1; Phật địa kinh luận Q.2; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Pháp hoa huyền tán Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q.thượng]. (xt. Nhất Thừa, Nhị Thừa, Tứ Thừa). II. Tam Thừa. Chỉ cho Thiên thừa, Phạm thừa và Thánh thừa mà Bồ tát tu tập. 1. Thiên thừa: Tức Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền và Tứ thiền. 2. Phạm thừa: Tức từ, bi, hỉ, xả. 3. Thánh thừa: Tức chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến và chính định. [X. kinh Đại bảo tích Q.94].
thập trụ
(十住) Cũng gọi Thập địa trụ, Thập pháp trụ, Thập giải. Quá trình tu hành của Bồ tát được chia làm 52 giai vị, trong đó, từ giai vị 11 đến 20 thuộc Trụ vị, gọi là Thập trụ. Đó là: 1. Sơ phát tâm trụ(cũng gọi Ba lam kì đâu ba bồ tát pháp trụ, Phát ý trụ): Hàng Thượng tiến phần thiện căn dùng phương tiện chân chính phát khởi tâm Thập tín, tin thờ Tam bảo, thường trụ trong 8 vạn 4 nghìn Bát nhã ba la mật, thụ trì tu tập tất cả hạnh, tất cả pháp môn, thường khởi tín tâm, không sinh tà kiến, không phạm Thập trọng, Ngũ nghịch, Bát đảo, không sinh vào nơi có tai nạn, thường được gặp Phật pháp, học rộng, nhiều trí tuệ, cầu nhiều phương tiện, mới nhập không giới, trụ nơi giai vị không tính, đồng thời, dùng không lí trí tâm tu tập giáo pháp của cổ Phật, trong tâm sinh ra tất cả công đức. 2. Trị địa trụ(cũng gọi A xà phù bồ tát pháp trụ, Trì địa trụ): Thường theo tâm không, làm thanh tịnh 8 vạn 4 nghìn pháp môn, tâm Bồ tát trong sáng, giống như trong lưu li hiện vàng ròng; vì lấy diệu tâm mới phát làm Địa để tu tập nên gọi là Trì địa trụ. 3. Tu hành trụ(cũng gọi Du a xàbồ tát pháp trụ, Ứng hành trụ): Trí tuệ của Phát tâm trụ và Trị địa trụ ở trước đều đã sáng tỏ, cho nên dạo khắp 10 phương mà không bị ngăn ngại. 4. Sinh quí trụ(cũng gọi Xà ma kì bồ tát pháp trụ): Nhờ diệu hạnh ở trước thầm hợp với diệu lí, đã sinh vào nhà Phật làm con bậc Pháp vương; tức hạnh đồng với Phật, chịu ảnh hưởng khí phần của Phật, như thân trung ấm tự tìm cha mẹ, cả hai thầm hợp, nhập vào chủng tính Như lai. 5. Phương tiện cụ túc trụ(cũng gọi Ba du tambát bồ tát pháp trụ, Tuthành trụ): Tu tập vô lượng thiện căn, lợi mình lợi người, đầy đủ phương tiện, tướng mạo vẹn toàn. 6. Chính tâm trụ(cũng gọi A kì tam bát bồ tát pháp trụ, Hành đăng trụ): Nghĩa là thành tựu Bát nhã thứ 6, cho nên chẳng những chỉ có tướng mạo mà cả tâm cũng đồng với Phật. 7. Bất thoái trụ(cũng gọi A duy việt trí bồ tát pháp trụ, Bất thoái chuyển trụ): Nghĩa là đã vào cảnh giới vô sinh rốt ráo không, tâm thường tu hạnh không, vô tướng, vô nguyện, thân tâm hòa hợp, mỗi ngày một tăng trưởng. 8. Đồng chân trụ(cũng gọi Cưu ma la phù đồng nambồ tát pháp trụ): Nghĩa là từ khi phát tâm trở đi, trước sau không sụt lùi, không khởi tà ma phá hoại tâmbồ đề, đến đây thì 10 thân linh tướng của Phật cùng lúc đầy đủ. 9. Pháp vương tử trụ(cũnggọiDu la xà bồ tát pháp trụ, Liễu sinh trụ): Từ Sơ phát tâm trụ đến Sinh quí trụ gọi là Nhập thánh thai; từ Phương tiện cụ túc trụ đến Đồng chân trụ gọi là Trưởng dưỡng thánh thai; đến Pháp vương tử trụ này thì hình tướng đã đầy đủ, liền ra khỏi thai, giống như từ trong giáo pháp của Phật vương sinh ra hiểu biết mới tiếp nối được ngôi vị của Phật. 10. Quán đính trụ(cũng gọi A duy nhan bồ tát pháp trụ, Bổ xứ trụ): Bồ tát đã là con của Phật, có khả năng gánh vác việc Phật, cho nên Phật đem nước trí tuệ rưới lên đầu (quán đính) Bồ tát, giống như việc quán đính lên ngôi của vị Vương tử dòng Sát đế lợi.VịBồ tát đã đến Quán đính trụ thì có 3 tướng đặc biệt là: a. Độ chúng sinh: Nghĩa là có khả năng tu hành thành tựu 10 thứ trí, độ được các chúng sinh. b. Vào được cảnh giới rất sâu xa mà tất cả chúng sinh cho đến hàng Bồ tát Pháp vương tử trụ cũng không thể tính lường được. c. Học rộng 10 thứ trí, rõ biết tất cả pháp. [X. phẩm Bồ tát thập trụ trong kinh Hoa nghiêm Q.8 (bản dịch cũ); phẩm Thập địa trong kinh Bồ tát bản nghiệp; phẩm Thích nghĩa trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.hạ; kinh Thập trụ đoạn kết Q.1- 4; Đại thừa nghĩa chương Q.14].
thập tín
(十信) Gọi đủ: Thập tín tâm. Gọi tắt: Thập tâm. Chỉ cho 10 tâm mà Bồ tát của 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị tu hành. Mười tâm này thuộc Tín vị, có khả năng giúp cho hành giả thành tựu hạnh tín. Về tên gọi và thứ tự thì các kinh điển ghi có hơi khác nhau. Cứ theo phẩm Hiền thánh danh tự trong kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp quyển thượng thì 10 tâm là: 1. Tín tâm: Nhất tâm quyết định, mong muốn thành tựu. 2. Niệm tâm: Thường tu 6 niệm: Phật, Pháp, Tăng,giới,thí vàthiên. 3. Tinh tiến tâm: Nghe Bồ tát tạng, siêng năng tu tập thiện nghiệp không gián đoạn. 4. Định tâm: Tâm an trụ nơi sự và nghĩa, xa lìa tất cả hư ngụy, vọng tưởng phân biệt. 5. Tuệ tâm: Nghe Bồ tát tạng, tư duy quán sát, biết tất cả pháp vô ngã, vô nhân, tự tínhrỗng lặng. 6. Giới tâm: Thụ trì luật nghi thanh tịnh của Bồ tát, thân, khẩu, ý thanh tịnh, không phạm các lỗi, nếu có phạm thì sám hối trừ diệt. 7. Hồi hướng tâm: Đem các thiện căn đã tu được hồi hướng về bồ đề, không nguyện sinh vào các cõi hữu lậu, hồi thí cho chúng sinh,không vì riêng mình; hồi hướng cầu chứng được thực tế, không chấp danh tướng. 8. Hộ pháp tâm: Phòng ngừa tâm mình, không khởi phiền não, lại tu 5 hạnh: Mặc hộ, niệm hộ, trí hộ, tức tâm hộ và tha hộ. 9. Xả tâm: Không tiếc thân mệnh, tài vật, tất cả những gì có được đều buông bỏ.10. Nguyện tâm:Thường tu các nguyện thanh tịnh. Mười tâm được liệt kê trong phẩm Bồ tát giáo hóa kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch là: Tín tâm, Tinh tiến tâm, Niệm tâm, Tuệ tâm, Định tâm, Thí tâm, Giới tâm, Hộ tâm, Nguyện tâm và Hồi hướng tâm, cho đó là 10 tâm của Tập chủng tính. Kinh Phạm võng quyển thượng thì nêu 10 tâm là: Xả tâm, Giới tâm, Nhẫn tâm, Tiến tâm, Định tâm, Tuệ tâm, Nguyện tâm, Hộ tâm, Hỉ tâm, Đính tâm và cho đó là 10 tâm Phát thú trong Kiên tín nhẫn. Còn kinh Lăng nghiêm quyển 8 thì gọi đó là Thập tâm trụ, tức Tín tâm trụ, Niệm tâm trụ, Tinh tiến tâm trụ, Tuệ tâm trụ, Định tâm trụ, Bất thoái tâm trụ, Hộ pháp tâm trụ, Hồi hướng tâm trụ, Giới tâm trụ và Nguyện tâm trụ. Về việc phối hợp Thập tínvớinày các vị thứ của Bồ tát thì xưa nay cũng cócác thuyết khác nhau. Tứ giáo nghĩa quyển 5 phối Thập tín với 10 giai vị đầu tiên trong 52 giai vị của Biệt giáo; Viên giáo lại lập riêng Lục tức, phối Thập tín với Tương tự tức, là giai vị Nhu thuận nhẫn 6 căn thanh tịnh. Hoa nghiêm ngũ giáo chương dẫn dụngluậnNhiếp đại thừa (bản dịch đời Lương) cho rằng như trước Tu đà hoàn đạo có 4 giai vị là Noãn, Đính, Nhẫn, Thế đệ nhất pháp, đối với hàng Nguyện lạc hành thì có 4 loại là Thập tín, Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng; Thủy giáo thì cho rằng 4 giai vị Thập tín, Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng là Tư lương vị. Trong Chung giáo thì trước Sơ địa chỉ có Tam hiền (Thập giải, Thập hành, Thập hồi hướng), là vì Thập tín chưa đạt đến giai vị Bất thoái. Các nhà Duy thức cũng cho rằng trước Thập địa chỉ có 30 tâm, chứ không lập giai vị Thập tín. [X. Nhiếp đại thừa luận thích Q.11 (bản dịch đời Lương); Nhân vương kinh hợp sớ Q.trung; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1 hạ; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối]. (xt. Bồ Tát Giai Vị).
thất địa
(七地) Chỉ cho 7 giai đoạn tu hành từ Bồ tát địa đến Phật địa. Đó là: 1. Chủng tính địa: Hạt giống Phật đạo thành tựu bất hoại. 2. Giải hành địa: Theo thứ tự tiến tu hạnh phương tiện, đối với đạo xuất thế được hành giải. 3. Tịnh tâm địa: Tức Sơ địa. Người đến địa vị này, trên thực tế, đã chứng được một phần chân như, xa lìa hoặc Vô minh trụ địa, từ đó khởi tâm tin thanh tịnh mong cầu bồ đề. 4. Hành tích địa: Tức từ Nhị địa trở lên cho đến Thất địa, trong thời gian này bắt đầu tu chính đạo. 5. Quyết định địa: Tức Đệ bát địa. Người đến địa vị này, quyết định hướng tới Vô thượng bồ đề. 6. Quyết định hành địa: Tức Đệ cửu địa.Từ địa trước lại tiến lên hơn nữa. 7. Tất cánh địa: Tức Thập địa và Như lai địa. Thập địa nhân hạnh viên mãn, Như lai địa quả đức cùng tột, cho nên gọi là Tất cánh địa. Trong Thất địa nói trên thì Chủng tính địa và Giải hành địa, theo Đại thừa nghĩa chương, là các giai vị Bồ tát Địa tiền; Hoa nghiêm khổng mục chương quyển 2 thì cho rằng Chủng tính địa là Thập giải trở xuống, còn Giải hành địa thì là Thập hạnh, Thập hồi hướng. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.10; Đại thừa nghĩa chương Q.12].
niệm
(念) I. Niệm. Phạm: Smfti, Smriti. Pàli: Sati. Ghi nhớ, tên của 1 tâm sở(tác dụng của tâm). Tâm sở này ghi nhớ những đối tượng mà nó duyên theo 1 cách rõ ràng không để quên mất. Trong tông Câu xá, Niệm được kể làm 1 trong 10 Đại địa pháp; còn trong tông Duy thức thì nó được xếp vào 1 trong 5 Biệt cảnh. [X. luận Phẩm loại túc Q.1; luận Câu xá Q.4; luận Thành duy thức Q.5; luận Đại tì bà sa Q.42; luận Du già sư địa Q.55]. II. Niệm. Chỉ cho quán niệm, khẩu niệm, tâm niệm. Quán niệm là quán tưởng Phật thân, Phật pháp; khẩu niệm là dùng miệng xưng danh hiệu của Phật; tâm niệm là dùng tâm tưởng nhớ Phật và Bồ tát. [X. luận Câu xá Q.4; luận Đại thừa quảng ngũ uẩn]. (xt. Thập Niệm). III. Niệm. Một trong Hành ngũ pháp. Nhớ nghĩ thế gian là hư dối không thực, không nên quyến luyến, mà nên xem việc tu hành thiền định và trí tuệ là quí báu. (xt. Hành Ngũ Pháp). IV. Niệm. Tên giai vị tu hành của Bồ tát, tức là giai vị thứ 2 trong Thập tín vị. (xt. Thập Tín). V. Niệm. Chỉ cho khoảng thời gian rất ngắn. Theo các kinh luận thì 1 niệm bằng 1 sát na, 60 sát na hay 90 sát na. [X. luận Đại trí độ Q.15, 60; Ma ha chỉ quán Q.3, phần 3]. (xt. Nhất Niệm, Sát Na).
Thường tịch quang
(常寂光): từ gọi tắt của Thường Tịch Quang Độ (常寂光土), là cõi Tịnh Độ nơi pháp thân của chư Phật Như Lai an trú, một trong 4 quốc độ của giáo thuyết Thiên Thai Tông, còn gọi là Tịch Quang Tịnh Độ (寂光淨土), Tịch Quang Quốc (寂光國), Tịch Quang Độ (寂光土), Tịch Quang (寂光). Thế giới an trú của chư Phật là bản tánh chân như, không biến hóa, sanh diệt (tức thường [常]), không bị phiền não nhiễu loạn (tức tịch [寂]) và có ánh sáng trí tuệ (tức quang [光]), cho nên có tên gọi là Thường Tịch Quang Độ. Đây là quốc độ chư Phật tự chứng bí tạng tối cùng cực, lấy pháp thân, giải thoát và bát nhã làm thể, đầy đủ 4 đức Thường (常), Lạc (樂), Ngã (我) và Tịnh (淨). Trong Quán Phổ Hiền Bồ Tát Hành Pháp Kinh (觀普賢菩薩行法經, Taishō 9, 393) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật danh Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ, kỳ Phật trú xứ danh Thường Tịch Quang, Thường Ba La Mật sở nhiếp thành xứ, Ngã Ba La Mật sở an lập xứ, Tịch Ba La Mật diệt hữu tướng xứ, Lạc Ba La Mật bất trú thân tâm tướng xứ (釋迦牟尼佛名毘盧遮那遍一切處、其佛住處名常寂光、常波羅蜜所攝成處、我波羅蜜所安立處、淨波羅蜜滅有相處、樂波羅蜜不住身心相處, đức Phật Thích Ca Mâu Ni Phật có tên là Tỳ Lô Giá Na Biến Nhất Thiết Xứ [Tỳ Lô Giá Na Biến Hết Thảy Các Nơi], trú xứ của Phật ấy tên là Thường Tịch Quang, nghĩa là nơi được nhiếp thành của Thường Ba La Mật, nơi được an lập của Ngã Ba La Mật, nơi diệt hết các tướng có của Tịch Ba La Mật và nơi không trú vào tướng thân tâm của Lạc Ba La Mật)”. Hơn nữa, quốc độ này được phân thành Phần Chứng (分證) và Cứu Cánh (究竟) với 3 phẩm thượng, trung, hạ. Theo lời dạy trong quyển 1 của Duy Ma Kinh Lược Sớ (維摩經略疏) cho biết rằng cõi của Diệu Giác Pháp Thân (妙覺法身) cư trú là Thượng Phẩm Tịch Quang Độ (上品寂光土), cõi của Nhất Sanh Đẳng Giác (一生等覺) là Trung Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土), cõi của Viên Giáo (圓敎) từ sơ trú trở lên là Hạ Phẩm Tịch Quang Độ (寂光土). Ngoài ra, vị tăng nhà Bắc Tống là Tứ Minh Tri Lễ (四明知禮) lấy hai cõi Thật Báo (實報) và Tịch Quang (寂光) phối hợp thành Thỉ Giác (始覺) và Bản Giác (本覺), để xướng ra thuyết “Tịch Quang Hữu Tướng (寂光有相, Tịch Quang Có Tướng)”; ngược lại vị tăng Tịnh Giác (淨覺) lại tuyên xướng thuyết “Tịch Quang Vô Tướng (寂光無相, Tịch Quang Không Tướng).” Trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh Yếu Giải (佛說阿彌陀經要解) của Đại Sư Ngẫu Ích Trí Húc (蕅益智旭, 1599-1655) nhà Thanh có đoạn rằng: “Phục thứ, chỉ thử nguyện trang nghiêm nhất thanh A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược vi Thanh Tịnh Hải Hội, chuyển Kiến Trược vi Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược vi Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược vi Liên Hoa hóa sanh, chuyển Mạng Trược vi Vô Lượng Thọ; cố nhất thanh A Di Đà Phật, tức Thích Ca Bổn Sư ư Ngũ Trược ác thế, sở đắc chi A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề pháp (復次、只此信願莊嚴一聲阿彌陀佛、轉劫濁爲清淨海會、轉見濁爲無量光、轉煩惱濁爲常寂光、轉眾生濁爲蓮華化生、轉命濁爲無量壽、故一聲阿彌陀佛、卽釋迦本師於五濁惡世、所得之阿耨多羅三藐三菩提法, lại nữa, chỉ lấy nguyện này trang nghiêm một tiếng niệm A Di Đà Phật, chuyển Kiếp Trược thành Hải Hội Thanh Tịnh, chuyển Kiến Trược thành Vô Lượng Quang, chuyển Phiền Não Trược thành Thường Tịch Quang, chuyển Chúng Sanh Trược thành hoa sen hóa sanh, chuyển Mạng Trược thành Vô Lượng Thọ; cho nên một tiếng niệm A Di Đà Phật là pháp A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề do đức Bổn Sư Thích Ca chứng đắc ở đời ác có Năm Trược).” Hay như trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tông Luận (靈峰蕅益大師宗論) quyển 6, phần Cảnh Tâm Cư Sĩ Trì Địa Tạng Bổn Nguyện Kinh Kiêm Khuyến Nhân Tự (警心居士持地藏本願經兼勸人序) có câu: “Nhất niệm mê Thường Tịch Quang Độ tiện thành A Tỳ Địa Ngục, nhất niệm ngộ A Tỳ Địa Ngục tiện thị Thường Tịch Quang Độ (一念迷常寂光土便成阿鼻地獄、一念悟阿鼻地獄便是常寂光土, một niệm mê bèn thành Địa Ngục A Tỳ, một niệm ngộ tức là Thường Tịch Quang Độ).”
bồ tát
(菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…...

Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…...

Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...

Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).
Tứ Độ
(四土): còn gọi là Tứ Phật Độ (四佛土), Tứ Chủng Phật Độ (四種佛土), Tứ Chủng Tịnh Độ (四種淨土), Tứ Chủng Quốc Độ (四種國土); nghĩa là 4 loại quốc độ Phật. Có nhiều thuyết khác nhau về quan niệm này. Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), Tổ sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, lập ra 4 loại Phật Độ là Phàm Thánh Đồng Cư Độ (凡聖同居土), Phương Tiện Hữu Dư Độ (方便有餘土), Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ (實報莊嚴土), Thường Tịch Quang Độ (常寂光土).

(1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ, còn gọi là Nhiễm Tịnh Đồng Cư Độ (染淨同居土), Nhiễm Tịnh Quốc (染淨國); chỉ quốc độ cùng tồn tại chung của hạng phàm phu thuộc hai cõi Trời người và chư vị Thánh như Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺). Trong đó, cõi này được chia thành 2 loại là tịnh và uế, như thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆) là Đồng Cư Uế Độ (同居穢土), Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) là Đồng Cư Tịnh Độ (同居淨土).

(2) Phương Tiện Hữu Dư Độ, còn gọi là Phương Tiện Độ (方便土), Hữu Dư Độ (有餘土); chỉ cho quốc độ của những bậc Thánh tu đạo phương tiện, đã đoạn tận Kiến, Tư, Hoặc như Bích Chi Phật (辟支佛), A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), v.v.; nên được gọi là phương tiện (s, p: upāya, 方便), nhưng chưa đoạn tận sự mê mờ về vô minh trần sa, mới có tên là hữu dư (有餘, vẫn còn dư, còn sót). Cõi này còn được gọi là Biến Dịch Độ (變易土).

(3) Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, còn gọi là Thật Báo Độ (實報土), Quả Báo Độ (果報土), là quốc độ của chư vị Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) đã đoạn trừ một phần của Vô Minh (s: avidyā, p: avijjā, 無明), không có hàng phàm phu của Hai Thừa. Đây là quốc độ tự tại vô ngại của đạo chân thật, nên có tên gọi như vậy.

(4) Thường Tịch Quang Độ, còn gọi là Lý Tánh Độ (理性土); là trú xứ của chư Phật đã đoạn tận căn bản Vô Minh, tức là quốc độ của chư Phật chứng quả Diệu Giác Cứu Cánh. Thường nghĩa là thường có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), vốn có thể thường trú; Tịch ở đây là giải thoát, tức hết thảy các tướng vĩnh viễn vắng lặng; Quang là Bát Nhã (s: prajñā, p: paññā, 般若), tức là trí tuệ chiếu soi các tướng; nên cõi này cũng là quốc độ của ba đức Thường Trú (Pháp Thân), Tịch Diệt (Giải Thoát) và Quang Minh (Bát Nhã). Ba đức này có tên là Bí Mật Tạng (秘密藏), là nơi nương tựa của chư Phật Như Lai; vì vậy mới được gọi là Thường Tịch Quang Độ.

Bên cạnh đó, Pháp Thường (法常, 567-645), Trí Nghiễm (智儼, 602-668), Đạo Tuyên (道宣, 596-667) và Huyền Uẩn (玄惲, ?-?, tức Đạo Thế [道世], người soạn bộ Pháp Uyển Châu Lâm [法苑珠林]) có lập ra Tứ Độ khác do chư Phật cư trú, gồm:

(1) Hóa Tịnh Độ (化淨土), do chư Phật biến hiện ra 7 loại báu, 5 Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc); nhờ thần lực của Phật mà mặt đất mềm mại, không có gò trũng, cát đá, v.v., giống như cõi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc, tùy theo tâm chúng sanh muốn thấy mà hóa hiện ra; và đây cũng là quốc độ của Hóa Thân (s: nirmāṇa-kāya, 化身).

(2) Sự Tịnh Độ (事淨土), lấy 7 loại báu, 5 Trần làm hình tướng của quốc độ. Trong cõi này, có đầy đủ các loại trân bảo trang nghiêm vi diệu; giả như thế giới bị bốc lửa cháy rực, đức Như Lai trú trong đó vẫn đi kinh hành, vẫn an nhiên đi đứng nằm ngồi, cõi ấy tự nhiên từ trong đất hiện ra nước có Tám Công Đức, làm cho mát mẻ. Đây là quốc độ của Tha Thọ Dụng Thân (他受用身, tức Ứng Thân [s: nirmāṇa-kāya, 應身]).

(3) Thật Báo Tịnh Độ (實報淨土), quốc độ lấy Hai Không là cửa, Ba Tuệ làm con đường ra vào; Xa Ma Tha (s: samatha, 奢摩他, Thiền Định), Tỳ Bát Xá Na (p: vipassanā, 毘鉢舍那, Quán) làm cỗ xe; Căn Bản Vô Phân Biệt Trí (根本無分別智) làm dụng. Đây là quốc độ của Tự Thọ Dụng Thân (自受用身, tức Báo Thân [s: sambhoga-kāya, 報身]).

(4) Pháp Tánh Tịnh Độ (法性淨土), quốc độ lấy chân như làm thể, là cõi của Pháp Thân.
Ngoài ra, Duy Thức Tông lại lập ra 4 loại quốc độ khác là:
(1) Pháp Tánh Độ (法性土), còn gọi là Tự Tánh Thân Y Pháp Tánh Độ (自性法身依法性土). Tự Tánh Thân tức là Pháp Thân, lấy tự tánh chân như làm thân, thể không sai biệt, không bị sắc tướng thâu nhiếp, giống như hư không, biến khắp tất cả nơi.
(2) Tự Thọ Dụng Độ (自受用土), còn gọi là Tự Thọ Dụng Thân Y Tự Thọ Dụng Độ (自受用身依自受用土), tức là Thật Báo Độ (實報土), là do đức Phật lấy Tương Ứng Tịnh Thức (相應淨識) tu mà thành tựu nên; từ khi mới thành Phật cho đến tận cùng tương lai, liên tục biến thành quốc độ Phật thuần tịnh, chu vi không giới hạn, các loại báu trang nghiêm. Tự Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú.
(3) Tha Thọ Dụng Độ (他受用土), còn gọi là Tha Thọ Dụng Thân Y Tha Thọ Dụng Độ (他受用身依他受用土), cũng là Thật Báo Độ. Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của các Bồ Tát trong Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地) mà biến thành cõi Tịnh Độ. Tha Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú.
(4) Biến Hóa Độ (變化土), còn gọi là Biến Hóa Thân Y Biến Hóa Độ (變化身依變化土). Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của chúng sanh có duyên mà biến hóa thành.

Trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 có đoạn: “Tứ Độ Liên Hoa Tứ Độ hương, độ trung các các kiến Từ Vương, Quan Âm thường hoán si nhân tỉnh, Đại Thế tần thôi liên ngạc phương, tự tại nhàn vân Tam Muội đắc, thanh u Cam Lộ nhất tâm lương (四土蓮花四土香、土中各各見慈王、觀音常喚癡人醒、大勢頻催蓮萼芳、自在閒雲三昧得、清幽甘露一心涼, Bốn Cõi Hoa Sen Bốn Cõi thơm, cõi ấy mỗi mỗi thấy Từ Vương, Quan Âm thường gọi người mê tỉnh, Thế Chí luôn bày sen ngát hương, tự tại mây nhàn Tam Muội chứng, an lành Cam Lộ tâm mát trong).” Hay trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (靈峰蕅益大師選定淨土十要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 9 có câu: “Nhất chân pháp giới tánh, bất biến năng tùy duyên, Tam Thân cập Tứ Độ, tất do tâm biến khởi (一眞法界性、不變能隨緣、三身及四土、悉由心變起, tánh pháp giới nhất chân, chẳng biến thường tùy duyên, Ba Thân và Bốn Cõi, tất do tâm biến hóa).”
bích chi phật
(辟支佛) Phạm: Pratyeka-buddha. Dịch ý là Duyên giác, Độc giác. Cũng gọi Bối chi ca, Bích chi. Là một trong hai thừa, một trong ba thừa. Chỉ cho bậc Thánh không có thầy mà tự giác tự ngộ. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 18 và Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu, thì Bích chi phật có hai nghĩa: 1. Sinh vào thời đại không có Phật, lúc ấy Phật pháp đã diệt, nhưng nhờ nhân duyên tu hành đời trước, nương vào trí tuệ của chính mình mà được đạo. 2. Tự mình giác ngộ chứ không nghe theo người khác, nhờ quán xét và giác ngộ lí 12 nhân duyên mà được đạo. [X. luận Du già sư địa Q.34; Tuệ uyển âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Duyên Giác).
tịnh độ
(淨土) Gọi đủ: Thanh tịnh độ, Thanh tịnh quốc độ, Thanh tịnh Phật sát. Cũng gọi: Tịnh sát, Tịnh giới, Tịnh phương, Tịnh vực, Tịnh thế giới,Tịnh diệu độ, Diệu độ, Phật sát, Phật quốc. Đối lại: Uế độ, Uế quốc. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh, là nơi an trụ của Phật. Trái lại, những nơi mà chúng sinh cư trú có các phiền não ô uế nên gọi là Uế độ, Uế quốc. Tịnh độ là giáo thuyết nói trong các kinh Đại thừa, còn Tiểu thừa thì lấy Niết bàn vô dư thântro trí bặt làm lí tưởng nên không có thuyết này. Vì Phật giáo Đại thừa cho rằng Niết bàn có tác dụng tích cực, chư Phật đã được Niết bàn, mỗi vị đều ở Tịnh độ của mình giáo hóa chúng sinh, cho nên hễ nơi nào có Phật an trụ thì đó là Tịnh độ.

Kinh A súc Phật quốc quyển thượng, kinh Phóng quang bát nhã quyển 19, kinh Vô lượng thọ quyển thượng,... đều cho rằng Tịnh độ là thế giới thanh tịnh trang nghiêm do chư Phật kiến lập bằng những công đức đã được tích lũy trong vô lượng vĩnh kiếp khi các Ngài hành đạo Bồ tát ở địa vị tu nhân, đã khởi thệ nguyện tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng thì cho rằng hễ tâm tịnh thì độ tịnh, thế giới Sa bà tức là tịnh độ Thường tịch quang. Nếu tâm chúng sinh bất tịnh thì cõi này chính là cõi uế ác bất tịnh, còn chỗ Phật thấy thanh tịnh thì trở thành vô lượng công đức trang nghiêm. Tịnh độ Linh sơn của kinh Pháp hoa, thế giới liên hoa tạng của kinh Hoa nghiêm, Tịnh độ Mật nghiêm của kinh Đại thừa mật nghiêm... đều lấy thuyết Tâm tịnh độ tịnh làm gốc. Còn kinh Vô lượng thọ thì nói rằng ngoài thế giới Sa bà ra còn có các Tịnh độ khác, cũng có Tịnh độ ở vị lai được thành tựu mỗi khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật, 2 loại Tịnh độ này đều là các cõi nước được hoàn thành sau khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật qua giai đoạn tu nhân theo bản nguyện của mình, là nơi chúng sinh nguyện sinh về. Còn các Tịnh độ ở các phương khác thì có thế giới Cực lạc ở phương Tây của đức Phật A di đà, thế giới Diệu hỉ ở phương Đông của đức Phật A súc, thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông của đức Phật Dược sư,...

Vì các Tịnh độ của chư Phật nói trên cách thế giới Sa bà với một phương vị nhất định nên gọi là Thập phương tịnh độ.Thế giới Cực lạc (Phạm: Sukhàvatì) cũng gọi Diệu lạc, An lạc, An dưỡng, Lạc bang, là Tịnh độ ở phương Tây rất được tông Tịnh độ xem trọng. Tịnh độ này là chỉ cho Báo độ do Bồ tát tu nhân hạnh mà cảm được quả báo; hoặc chỉ cho Ứng hóa độ mà đức Phật giả hiện ra để cứu độ chúng sinh; hoặc chỉ cho Tịnh độ có thật ở phương Tây cách thế giới Sa bà hơn 10 vạn ức Phật độ; hoặc lại chỉ cho Tịnh độ hiện ra trong tâm chúng sinh. Ngoài ra, Tịnh độ còn có Biên địa, Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới,... là Hóa độ dành cho các người còn hoài nghi Phật trí sinh đến. Tông Tịnh độ cho rằng Báo độ thực tại ở phương Tây, những người sinh về cõi này sẽ được hưởng 10 điều lợi lạc sau đây: 1. Thánh chúng đến đón: Lúc lâm chung được đức Phật A di đà và 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đến đón về Tịnh độ. 2. Hoa sen vừa mới nở: Gá sinh trong hoa sen sinh về Tịnh độ, cho nên lúc hoa sen vừa mới nở thì liền được thấy cõi Tịnh độ rất trang nghiêm thanh tịnh. 3. Thân tướng có thần thông: Thân được 32 tướng tốt đẹp và 5 thứ thần thông như Thiên nhãn,... 4. Năm cảnh giới vi diệu: Được 5 cảnh thù thắng sắc, thanh, hương, vị, xúc. 5. Vui sướng vô lượng: Được hưởng các niềm vui vô tận. 6. Tiếp dẫn kết duyên: Được những ân nhân kết duyên từ trước thân đến Tịnh độ đón tiếp. 7. Thánh chúng cùng hội họp:Các chúng Bồ tát đều đến nhóm họp ở một chỗ.8. Thấy Phật nghe pháp: Sinh về Tịnh độ được thấy đức Phật và nghe Ngài nói pháp. 9. Tùy tâm cúng dường Phật: Tùy tâm cúng dường chư Phật ở 10 phương. 10.

Tăng tiến Phật đạo: Tu hành tinh tiến, cuối cùng chứng được quả Phật. Về vị trí Tịnh độ, sự trang nghiêm, chủng loại dân cư,... các kinh nói không giống nhau, vì khi còn ở địa vị tu nhân, các vị Bồ tát phát nguyện không đồng. Nếu đứng trên lập trường sử học mà nhận xét sự miêu tả khác nhau giữa Tịnh độ của Phật A súc và Tịnh độ của Phật A di đà thì có thể thấy được sự biến thiên của một loại phát triển, như cõi Phật A súc có người nữ, nhân dân đều mặc y phục được lấy ra từ cây, có 3 đường thềm báu đi suốt đến cõi trời Đao lợi, có thể xem đây là tư tưởng tương đối sớm. Tịnh độ của đức Phật A di đà thì không có người nữ, đều là hóa sinh, được thân thể hư vô tự nhiên. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ thì cho Tịnh độ là xứ sở vi diệu ở ngoài 3 cõi. So sánh sự hơn, kém khác nhau giữa các Tịnh độ của chư Phật, trong các kinh đều có ghi chép.

Về chủng loại Tịnh độ, ở thời đại ngài Vô trước (khoảng thế kỷ IV, V) có thuyết 3 thân là Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân. Thân biến hóa của Phật thị hiện 8 tướng ở Uế độ,thân Thụ dụng trụ trong thế giới Liên hoa tạng có 18 thứ viên mãn thanh tịnh, tức tùy theo Báo thân, Hóa thân của Phật mà có thanh tịnh, ô uế khác nhau. Luận Duy thức quyển 10 có thuyết Tứ thân tứ độ(4 thân 4 cõi); Đại thừa nghĩa chương quyển 19 chia Tịnh độ làm 3 loại là Sự tịnh độ, Tướng tịnh độ và Chân tịnh độ; Duy ma kinh lược sớ quyển 1 thì lập 4 loại Tịnh độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và Thường tịch quang độ. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, y cứ vào sự bất đồng giữa Tam thừa và Nhất thừa mà nói các Tịnh độ khác nhau. (xt. Phật Độ, Cực Lạc Thế Giới).
nhị thừa
(二乘) Hai cỗ xe. Ví dụ giáo pháp của đức Phật có công năng vận chuyển chúng sinh đến quả vị giác ngộ giải thoát. Giáo pháp có 2 loại nên gọi là Nhị thừa. I. Đại thừa và Tiểu thừa. Giáo pháp đức Phật nói trong 1 đời được chia thành Đại thừa và Tiểu thừa khác nhau. Tiểu thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Thanh văn, Duyên giác, còn Đại thừa là giáo pháp Phật nói cho hàng Bồ tát. [X. phẩm Thánh hạnh trong kinh Đại bát niết bàn Q.14 (bản Bắc); luận Nhiếp đại thừa Q.thượng (bản dịch đời Lương)]. II. Thanh văn thừa và Duyên giác thừa. 1. Thanh văn thừa: Trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, nương vào lí Tứ đế mà giác ngộ.2. Duyên giác thừa: Không trực tiếp nghe đức Phật nói pháp, chỉ tự mình quán xét lí 12 nhân duyên mà được giác ngộ. [X. kinh Đại bảo tích Q.28; kinh Đại bát niết bàn Q.12 (bản Bắc); Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1]. III. Nhất thừa và Tam thừa. 1. Tam thừa: Trước thời Pháp hoa, sự chứng ngộ của Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát có khác nhau. 2. Nhất thừa: Trong thời Pháp hoa, đức Phật tuyên dương pháp Nhất Phật thừa để qui cả 3 thừa về 1 thừa.
bồ đề tâm
(菩提心) Phạm: bodhi-citta. Gọi đủ: A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm. Cũng gọi là Vô thượng chính chân đạo ý, Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo tâm, Vô thượng đạo ý, Vô thượng tâm, Đạo tâm, Đạo ý, Đạo niệm, Giác ý. Tức là tâm cầu Bồ đề vô thượng (cầu thành Phật). Tâm bồ đề là hạt giống sinh ra hết thẩy chư Phật, là ruộng tốt nuôi lớn các pháp trong sạch. Nếu phát khởi tâm này mà tu hành tinh tiến, thì sẽ mau chóng được bồ đề vô thượng. Cho nên biết tâm Bồ đề là chỗ bắt đầu của tất cả thệ nguyện chân chính, là gốc của Bồ đề, là chỗ dựa của đại bi và Bồ tát học. Bồ tát Đại thừa trước hết cần phải phát tâm rộng lớn, gọi là phát tâm Bồ đề, phát tâm, phát ý; mới bắt đầu phát tâm, gọi là sơ phát tâm, tân phát ý. Người cầu sinh về Tịnh độ, cũng phải phát tâm Bồ đề. Kinh Vô lượng thọ quyển hạ nói, ba bậc người cầu vãng sinh đều phải phát tâm Vô thượng bồ đề. Về thể tính của tâm Bồ đề, kinh Đại nhật quyển 1 phẩm Trụ tâm nói, biết tâm mình một cách như thực, đó là Bồ đề. Tức tâm tự tính trong sạch sẵn có là tâm Bồ đề. Tâm Bồ đề nhờ vào nhiều duyên mà phát khởi. Theo kinh Bồ tát địa trì quyển 1, thì có bốn thứ: 1.Thấy nghe thần thông biến hóa không thể nghĩ bàn của chư Phật và Bồ tát mà phát tâm. 2. Tuy chưa thấy thần biến, nhưng được nghe nói về Bồ đề và Bồ tát tạng mà phát tâm. 3. Tuy chưa nghe pháp, nhưng tự thấy tướng pháp diệt, vì muốn giữ gìn pháp mà phát tâm. 4. Tuy không thấy tướng pháp diệt, nhưng thấy chúng sinh đời ô trọc bị phiền não quấy phá khó phát được nên mình phát tâm. Lại Phát bồ đề tâm kinh luận quyển thượng phẩm Phát tâm cũng nói có bốn duyên: 1. Tư duy về chư Phật. 2. Quán xét lỗi lầm của thân. 3. Thương xót chúng sinh. 4. Cầu quả tối thắng. Vô lượng thọ kinh tông yếu lấy bốn thệ nguyện rộng lớn làm tâm Bồ đề và chia làm hai loại là Tùy sự phát tâm (do những việc cụ thể mà phát) và Thuận lí phát tâm (do chân lí phổ thông mà phát). Đại thừa nghĩa chương quyển 9 thì lập ba loại phát tâm: 1. Tướng phát tâm, thấy tướng sinh tử và Niết bàn, nhàm chán sinh tử mà phát tâm cầu Niết bàn. 2. Tức tướng phát tâm, biết bản tính của sinh tử vắng lặng không khác gì Niết bàn; lìa tướng sai biệt mới khởi tâm bình đẳng. 3. Chân phát tâm, biết bản tính Bồ đề là tự tâm mình, bồ đề tức là tâm, tâm tức là bồ đề, mà quay về tâm gốc của chính mình. Ma ha chỉ quán quyển 1 thượng nói, các Bồ tát Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo, cho đến Viên giáo đều do suy lường về cái lí của Sinh diệt tứ đế, Vô sinh tứ đế, Vô lượng tứ đế, Vô tác tứ đế mà phát tâm, cho nên gọi là suy lí phát tâm. Luận Đại thừa khởi tín thì nói ba loại phát tâm: Tín thành tựu phát tâm, Giải hành phát tâm, và Chứng phát tâm. Trong tín thành tựu phát tâm mà sinh khởi Trực tâm, Thâm tâm, Đại bi tâm thì cũng gọi là ba loại phát tâm. Mật giáo chủ trương phát tâm là một trong năm lần chuyển biến của chữ A, và dựa vào ba thứ tâm bồ đề: Hạnh nguyện, Thắng nghĩa, Tam ma địa trong luận Bồ đề tâm mà lập bốn loại phát tâm: 1. Tín tâm, chỉ cho tâm đối với việc cầu Vô thượng bồ đề không một mảy may ngờ vực. Vì tâm này là nền tảng của muôn hạnh nên cũng gọi là Bạch tịnh tín tâm (lòng tin trắng sạch). 2. Đại bi tâm, sau khi phát Bạch tịnh tín tâm, lại lập bốn thệ nguyện rộng lớn, tâm này cũng gọi là Hạnh nguyện tâm, Hạnh nguyện bồ đề tâm. 3. Thắng nghĩa tâm, trong các giáo pháp, chọn lựa giáo pháp chân thực. Tâm này cũng gọi là Thâm bát nhã tâm, Thắng nghĩa bồ đề tâm. 4. Đại Bồ đề tâm, ngay lúc quyết định bỏ phần kém, chọn phần hơn, thì chư Phật mười phương liền hiện ở trước mặt để chứng minh, các ma thấy thế sợ mà rút lui. Đại Bồ đề tâm này cũng gọi Tam ma địa bồ đề tâm. Tuy chia ra bốn tâm như trên, nhưng vốn là một thể, cho đến lúc thành quả Phật cũng không giây phút nào rời nhau. Được như thế là nhờ tự hành hóa tha, thế gian xuất thế gian tu tam mật của chư tôn mà ra, nên gọi là Hữu tướng bồ đề tâm. Nhưng vì xưa nay vốn có tướng tức không tướng, cũng như hư không lìa tất cả tướng, nên khế hợp với Vô tướng bồ đề tâm. Trong tông Tịnh độ Nhật bản, ngài Nguyên không có soạn Tuyển trạch bản nguyện niệm Phật tập, cho Bồ đề tâm là tạp hành, nên loại bỏ. Căn cứ vào lí này, phái Trấn tây thuộc tông Tịnh độ mới chia tâm Bồ đề thành Bồ đề tâm Thánh đạo môn và Bồ đề tâm Tịnh độ môn, và cho rằng Bồ đề tâm là Tổng an tâm, Tam tâm (Chí thành tâm, Thâm tâm, Hồi hướng phát nguyện tâm) là Biệt an tâm, vì thế chủ trương cần phải phát tâm Bồ đề. Lại nữa, phái Tây sơn thuộc tông Tịnh độ chia Bồ đề tâm làm Bồ đề tâm hành môn và Bồ đề tâm quán môn, chủ trương không cần Bồ đề tâm hành môn là vì trong Bồ đề tâm quán môn đã đầy đủ tam tâm rồi. Còn Tịnh độ chân tông thì chia Bồ đề tâm thành Tự lực bồ đề tâm và Tha lực bồ đề tâm. Trong hai tâm này, Phật dùng thệ nguyện gốc cho chúng sinh tâm tin ưa, tức là tín tâm chân thực vì tâm nguyện làm Phật (tâm tự lợi nguyện thành Phật), tâm độ chúng sinh (tâm lợi tha cứu độ hết thảy chúng sinh), cho nên gọi là Tha lực bồ đề tâm, Tịnh độ đại bồ đề tâm. [X. kinh Đại phẩm bát nhã Q.9; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.9; kinh Ưu bà tắc giới Q.1; Kim cương đính liên hoa bộ tâm niệm tụng nghi quĩ; Đại nhật kinh sớ Q.1, Q.14; Ma ha chỉ quán Q.1 hạ].

Cực Lạc Và Ta Bà
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ

Cực Lạc Thế Giới
Hòa Thượng Thích Trí Tịnh

Phạm Vi Cõi Cực Lạc
Hòa Thượng Thích Trí Thủ

Nước An Lạc Thuộc Cõi Nào Trong Ba Cõi...?
Nguyên Ngụy Huyền Trung Tự sa-môn Đàm Loan

Bốn Loại Tịnh Độ Tùy Bạn Thích
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm