Như thị:

Chữ “như thị” ngụ ý việc gì đúng đắn, đáng tin tưởng được. Việc gì đáng tin thì gọi là Như Thị, chẳng đáng tin gọi là Bất Như Thị.

Chẳng khác là Như, chẳng sai là Thị. Nghĩa là sau khi Ðức Phật diệt độ, khi kết tập kinh điển, Phật dạy sao, Ngài A Nan cứ trùng tuyên đúng như thế, chẳng sai khác mảy may. Ðó là Như. Lời Phật dạy sao, Ngài lập lại không thiếu sót mảy may nên gọi là Thị.

Hơn nữa, khi kết tập Kinh Tạng, đại chúng cung thỉnh: “Tôn giả nghe như thế nào xin hãy nói đúng như thế ấy”; Ngài A Nan đáp: “Tôi sẽ nói đúng như thế, đúng như tôi đã được nghe”. Vì thế đầu kinh dùng chữ Như Thị để tiêu biểu ý tín thuận.

Chữ Như Thị còn có thể hiểu theo hai nghĩa Thông và Biệt như sau:

a. Về Thông nghĩa, chữ Như Thị chỉ về Thật Tướng. Xét về Lý, Thật Tướng xưa nay chẳng biến đổi là Như. Xét về Thể, Thật Tướng lìa hết thảy hư vọng, hý luận. Ðó là Thị. 

b. Nếu ước theo Biệt nghĩa, mỗi kinh lại hàm nghĩa Như Thị khác nhau. Trong kinh này Nhất Tâm Bất Loạn là Như, Quyết Ðịnh Vãng Sanh là Thị.

Hơn nữa, tâm chẳng khác Phật, Phật chẳng khác tâm nên gọi là Như. Tâm này chính là Phật, Phật ấy chính là tâm này nên gọi là Thị. Tâm và Phật tuy có tên gọi sai khác nhưng đồng nhất thể, duy tâm Tịnh Ðộ, tự tánh Di Ðà nên gọi là Như Thị.

Nếu ước theo chúng sanh niệm Phật thì đạt được nhất tâm bất loạn là Như, lâm chung quyết định vãng sanh Cực Lạc là Thị.

Nếu ước theo cảnh giới Cực Lạc thì cõi Cực Lạc chẳng có bốn tướng biến đổi “thành, trụ, hoại, không” nên là Như; cảnh giới Cực Lạc thù thắng trang nghiêm, chân thật chẳng hư huyễn nên gọi là Thị.

Hơn nữa, xét theo chánh báo, chúng sanh cõi Cực Lạc liên hoa hóa thân, thọ mạng vô lượng, chẳng giống với huyễn thân của chúng sanh cõi Sa Bà có sanh tử; cho nên gọi là Như. Hoa nở gặp Phật, chứng ngộ tự tánh nên gọi là Thị.

Nếu ước theo đức Di Ðà Như Lai mà nói thì bốn mươi tám nguyện độ khắp chúng sanh, trải bao nhiêu kiếp tu hành đúng như thệ nguyện, trước sau trọn chẳng đổi dời nên gọi là Như. Nay đã thành tựu, thỏa mãn sở nguyện, tạo thành cõi Cực Lạc để độ khắp chúng sanh niệm Phật, từ khi thành Phật đến nay đã là mười kiếp, thật chẳng phải là chuyện hư vọng nên gọi là Thị.

Hơn nữa, y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều là chơn thường bất biến nên gọi là Như, những sự thù thắng trang nghiêm trong cõi Cực Lạc, không điều gì chẳng phải do công đức nguyện lực chẳng thể nghĩ bàn của Phật A Di Ðà tạo thành và do tâm niệm của chúng sanh niệm Phật trong mười phương chiêu cảm nên gọi là Thị.

Hơn nữa, pháp môn Niệm Phật thù thắng bậc nhất, không có pháp nào hơn được nổi nên gọi là Như. Tuân lời Phật dạy, niệm Phật cầu sanh, quyết định không sai nên gọi là Thị.
 
“Ngã văn”
        
“Ngã văn” là Văn Thành Tựu, ngụ ý: pháp như thế ấy, đích thân A Nan tôi được nghe đức Phật nói.

Phàm những lời Ðức Phật đã giảng, Ngài A Nan đều lãnh hội, chẳng quên một câu nào, nên Ðức Phật từng tán thán: “Phật pháp như biển cả dốc trọn vào trong tâm của A Nan”.

Chữ Ngã ở đây là Ngài A Nan tự xưng, thuận theo thế tục mà nói. Nếu có kẻ bắt bẻ: “Phật pháp coi Ngã Chấp là căn bịnh chấp trước lớn và là căn bản của mọi sự ác. Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả sao còn chấp ngã tướng như vậy?” Xin trả lời: Ngã có nhiều thứ bất đồng:

- Vọng ngã: Phàm phu trong tam giới, đối với sắc thân tứ đại chẳng phải là Ngã mà vọng chấp là Ngã.

- Thần ngã: ngoại đạo tà kiến vọng chấp năm ấm là Thần Ngã.

- Giả ngã: Nhị Thừa hiểu rõ Ngũ Ấm chẳng phải là Ngã, nhưng giả nói có Ngã.

- Chân ngã: chư Phật, Bồ Tát thân chứng Pháp Thân, gọi là Chân Ngã.

- Tự tại ngã: Từ quả khởi dụng, hoằng pháp lợi sanh, gọi là Tự Tại Ngã.

Ngài A Nan đã chứng Tứ Quả, đã đoạn sạch phiền não trong tam giới, đã trừ khử được ngã chấp lầm lạc của phàm phu, không còn dính mắc nơi tà kiến chấp ngã của ngoại đạo, nên chỉ giả xưng Ngã giống như các hàng Bồ Tát. Kinh Pháp Hoa chép: “Ta cùng A Nan ở chỗ Phật Không Vương đồng thời phát Bồ Ðề tâm”, cho thấy Ngài A Nan chỉ quyền hiện làm bậc Tiểu Thừa, chứ công hạnh của Ngài thật cao thâm khôn lường. Trong kinh này, Ngài thuận theo thế tục giả xưng là Ngã. Ðấy là phương tiện quyền biến độ sanh của bậc Pháp Thân đại sĩ đó thôi.

Hơn nữa, Ngài A Nan xưng Ngã, chẳng nói là Vô Ngã là vì các nguyên nhân sau:

- Vì dễ nói: Nếu nói là Vô Ngã thì trong ba thứ Uẩn, Xứ, Giới, thứ nào là đối tượng lãnh thọ kinh này?

- Thuận theo thế gian mà nói Ngã.

- Tránh cho đại chúng sơ cơ khỏi hoảng hốt khi nghe nói Vô Ngã. Ðại chúng nghe nói Vô Ngã sẽ chấp: Ai sẽ là người tu học?

Nếu vậy, tại sao không nói rõ là “A Nan tôi nghe” mà lại chỉ chép là “ngã văn?”

Vì các lý do sau đây:

- Chẳng trái với thế tục: Tuy kinh đề cao Chân Ðế, nhưng trong Tự Phần chẳng dùng văn tự trái nghịch với Tục Ðế. Về lý tuy phô bày diệu nghĩa, nhưng lời lẽ chẳng tách rời lời lẽ thông tục. Nói chung là: Tuy hiển thị Chân Ðế nhưng chẳng rời Tục Ðế vậy. 

- Chữ Ngã có nghĩa là “tự tại”. Tập Tạng Truyện ghi: “Có ba A Nan: Một là A Nan Ðà (Khánh Hỷ) trì Thanh Văn Tạng; hai là A Nan Bạt Ðà (Hỷ Hiền) trì Ðộc Giác Tạng; ba là A Nan Già La (Hỷ Hải) trì Bồ Tát Tạng”. Thật ra chỉ có một vị A Nan, tùy theo đức mà lập ra ba tên như thế. Ngài A Nan đa văn, tích tập tam huệ (Văn, Tư, Tu), văn nghĩa đều trọn đủ, lại tổng trì Tam Tạng một cách tự tại. Nếu xưng danh thì đối với các pháp sẽ chẳng được tự tại (vì còn hạn cuộc vào một pháp nhất định). Vì thế, Ngài phải xưng là Ngã để trọn đủ nghĩa “tự tại”.

- Chữ “Ngã” ngụ ý là đích thân. Thế gian hay nói “đích thân tôi nghe thấy” sự như thế đó. Nếu viết là “A Nan nghe” ắt sẽ có kẻ nghi là Ngài A Nan chỉ nghe nói lại, chứ không phải đích thân Ngài được nghe từ nơi Thế Tôn.

Nhĩ căn nhận lãnh âm thanh gọi là Văn (nghe). Tai nghe nhưng lại bảo là “ngã văn” vì Ngã là chủ thể, Nghe là công dụng của nhĩ căn, mà thân lại chính là tổng thể của sáu căn. Vì thế, dựa theo tổng thể mà nói nên chép là “ngã văn”.

Hơn nữa, chữ Văn nhấn mạnh tầm quan trọng của Văn Huệ: Muốn chứng đạt thâm lý, trước hết phải nghe pháp. Cõi Sa Bà này dùng âm thanh làm Phật sự nên phải dùng Văn Huệ để huân tập. Do Văn Huệ huân tập nên Tư Huệ, Tu Huệ mới phát khởi được công dụng để thành tựu đạo xuất thế.

Hiểu ở mức độ sâu hơn, Ngã ở đây là Chân Ngã nơi tự tánh. Dùng cái chân ngã nơi tự tánh để lắng nghe diệu pháp Tịnh Ðộ chẳng thể nghĩ bàn. Phải biết rằng: nhĩ căn có công dụng thô phù, chỉ lãnh nạp được những thanh trần thô phù, đó chưa phải là “nghe” một cách chân thật. Ở đây, ta dùng tánh nghe chân thật nơi chân tâm để lắng nghe nên gọi là “ngã văn”. 
Trích từ: A Di Đà Kinh Hợp Giải

Từ Ngữ Phật Học
a nan
(阿難) Pāli, Phạm: Ànanda. Là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Nói đủ là A nan đà. Dịch ý là hoan hỉ, khánh hỉ, vô nhiễm. Em họ của Phật, sau khi xuất gia, thường ở bên cạnh Phật hơn hai mươi năm, kí ức rất tốt, đối với lời Phật nói pháp, có thể ghi nhớ rõ ràng, cho nên được gọi à Đa văn đệ nhất. Ngài A nan dung mạo đẹp đẽ, mặt như trăng tròn, mắt như hoa sen xanh, thân hình sáng rỡ như gương, vì thế, tuy đã xuất gia, nhưng thường bị phụ nữ cám dỗ, tuy nhiên, nhờ chí khí kiên cố, cuối cùng, A nan đã bảo toàn được Phạm hạnh. Khi đức Phật còn sinh tiền, ngài A nan vẫn chưa khai ngộ, khi Phật nhập diệt, buồn rầu mà khóc; sau nhờ tôn giả Ma ha ca diếp dạy bảo, cố sức dụng công mới khai ngộ. Trong đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên, ngài A nan được chọn là người thuật lại kinh, đối với sự nghiệp truyền trì kinh pháp, tôn giả A nan đã có công lao rất lớn. Lúc đầu, di mẫu của Phật là bà Ma ha ba xà ba đề muốn xuất gia, A nan liền sắp đặt lo liệu, cuối cùng được đức Phật cho phép, đối với sự thành lập giáo đoàn tỉ khưu ni, ngài A nan cũng có công tích rất lớn. Lại cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2 chép, thì đức Phật truyền pháp cho tôn giả Ma ha ca diếp, Ma ha ca diếp truyền pháp cho ngài A nan, như vậy, A nan là tổ thứ hai trong Phó pháp tạng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng từ hai mươi đến hai mươi lăm năm, ngài A nan thị tịch tại miền trung du sông Hằng, trước khi nhập tịch, ngài đem pháp phó chúc cho ngài Thương na hòa tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Trung a hàm Q.33 kinh Thị giả; kinh Tăng nhất a hàm Q.4 phẩm Đệ tử; kinh A nan đồng học; kinh Phật bản hạnh tập Q.11; luật Ngũ phần Q.3, Q.29; luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.6, Q.7].
pháp thân
(法身) Phạm: Dharma-kàya. Pàli: Dhamma-kàya. Cũng gọi Pháp Phật, Lí Phật, Pháp thân Phật, Tự tính thân, Pháp tính thân, Như như Phật, Thực Phật, Đệ nhất thân. Chỉ cho chính pháp do Phật nói, pháp vô lậu Phật đã chứng và tự tính chân như Như lai tạng của Phật. Là 1 trong 2 thân, 1 trong 3 thân. Cứ theo Đại thừa nghĩa chương quyển thượng và Phật địa kinh luận quyển 7, thì các bộ phái Tiểu thừa cho rằng giáo pháp đức Phật đã nói, pháp bồ đề phần Ngài đã giảng và pháp vô lượng công đức Ngài đã chứng được đều là Pháp thân. Đại thừa thì ngoài những pháp trên ra, còn cho rằng Tự tính chân như tịnh pháp giới, vô lậu vô vi, vô sinh vô diệt... đều là Pháp thân. Trong Đại thừa cũng có nhiều thuyết về Pháp thân. 1. Nhà Duy thức chia Pháp thân làm 2 loại: Tổng tướng và Biệt tướng. Tổng tướng pháp thân là gọi chung cho 3 thân, tức là Nhất đại công đức pháp thân, lấy Ngũ pháp sự lí làm thể. Còn Biệt tướng pháp thân thì chỉ cho Tự tính thân trong 3 thân, lấy chân như pháp giới thanh tịnh làm thể. 2. Nhà Tam luận thì lấy chân không của chân như thực tướng bất khả đắc làm Pháp thân. 3. Luận Đại thừa khởi tín thì lấy Dụng đại của chân như làm ý nghĩa Pháp thân. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 579 trung) nói: Dứt hết vô minh, thấy được Pháp thân thì tự nhiên có cái dụng bất khả tư nghị của các nghiệp, tức cùng với chân như ở khắp các nơi, nhưng mà không có cái tướng dụng có thể nắm bắt được. Vì sao? Vì thân của chư Phật Như lai chỉ là cái tướng trí của Pháp thân, là Đệ nhất nghĩa đế, không có cảnh giới thế đế, lìa mọi sự tạo tác, chỉ tùy theo cơ duyên thấy nghe của chúng sinh mà làm cho được lợi ích, cho nên gọi là Dụng. Đây tức là lập Pháp thân lí trí bất nhị.

Thân của chư Phật Như lai là Pháp thân trí tướng, vì Dụng đại của Pháp thân là bất khả tư nghị, cho nên tùy theo cơ duyên thấy nghe của chúng sinh khác nhau mà khiến cho được lợi ích của sự giáo hóa. Bởi thế, Dụng đại của chân như là dụng tức vô dụng, nhưng cái công dụng vi diệu của nó lại vô biên. Thuyết Pháp thân này chính là cơ sở lập thuyết của các nhà Nhất thừa Hoa nghiêm, Thiên thai... 4. Nhà Thiên thai chủ trương quan điểm Phật thân là 3 thân tương tức, vì thế cho rằng Pháp thân chẳng những chỉ là thân Như lai ở khắp mọi nơi, mà còn tức là Báo thân, Ứng thân và ngược lại. 5. Nhà Hoa nghiêm lấy Phân thân Phật Tì lô giá na đầy đủ 10 thân làm Giáo chủ, cho rằng 10 thân(thân Bồ đề, thân Nguyện, thân Hóa, thân Lực trì, thân Ý sinh, thân Tướng hảo, thân Uy thế, thân Phúc đức, thân Pháp và thân Trí) tương tức dung nhập với Pháp thân, Báo thân và Hóa thân. 6. Nhà Chân ngôn lấy 6 đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, thức làm Pháp thân của Đại nhật Như lai, cũng gọi Pháp giới thân, Lục đại pháp thân. Pháp thân lục đại này là sắc tướng sẵn có, có thể dùng ngôn ngữ thuyết pháp. Ngoài ra, 4 thân: Tự tính, Thụ dụng, Biến hóa và Đẳng lưu đều gọi là Pháp thân, nếu thêm Lục đại pháp thân vào nữa, thì gọi là Ngũ chủng pháp thân. [X. kinh Vô thượng y Q.thượng; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng, hạ; luận Phật tính Q.4; luận Kim cương bát nhã Q.thượng; luận Thành duy thức Q.10; Chú duy ma kinh Q.3; Thắng man kinh bảo quật Q.3, phần cuối, Thanh lương huyền đàm Q.3; Biện hoặc chỉ nam Q.3; Pháp hoa huyền luận Q.9; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.7, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.3]. (xt. Tự Tính Thân, Phật Thân, Tượng Trưng Chủ Nghĩa).
như thị
(如是) I. Như Thị. Như vầy. Chỉ cho Tín thành tựu trong 6 thành tựu. Thông thường từ ngữ này được đặt ở đầu mỗi bộ kinh, là để biểu thị niềm tin sâu xa rằng những điều ghi chép trong kinh này đều là giáo pháp do chính đức Phật nói ra. (xt. Lục Thành Tựu). II. Như Thị. Như thế. Từ ngữ biểu thị thực tướng các pháp. (xt. Thập Như Thị). III. Như Thị. Đúng vậy! Đúng vậy! Đây là lời công nhận và tán thành những điều mà một người nào đó hiểu biết và trình bày.
ngã
(我) Phạm: Àtman. Hán âm: A đặc man, A thản ma. Nghĩa gốc là hô hấp, chuyển thành nghĩa sinh mệnh, tự kỉ, thân thể, tự ngã, bản chất, tự tính, hoặc chỉ chung cho chủ thể độc lập vĩnh viễn, tiềm ẩn trong nguồn gốc của mọi vật và chi phối cá thể thống nhất. Đây là 1 trong các chủ đề trọng yếu của giới tư tưởng Ấn độ. Phật giáo chủ trương thuyết vô ngã, chỉ rõ mối quan hệ giữa sự tồn tại và tính duyên khởi, phủ định các tính chất thường (sự tồn tại liên tục vĩnh viễn), nhất (sự tồn tại độc lập tự chủ), chủ (sở hữu chủ trung tâm), tể (chi phối hết thảy) mà chủ trương ngã không tồn tại, không chân thực. Danh từ Ngã đã được sử dụng từ thời đại Lê câu phệ đà (Phạm: Fg-veda, 1500 trước Tây lịch) trở đi, đến thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa, 1000-800 trước Tây lịch) thì hơi thở (Phạm: Pràịa, tức là khí tức) trong chủ thể sinh mệnh con người dần dần diễn biến thành hiện tượng sinh mệnh mang ý vị cá thể, còn ngã thì lại là bản chất. Như trong Bách đạo phạm thư (Phạm: Zatapatha), những hiện tượng sinh mệnh như lời nói, sức nhìn, sức nghe v.v... là lấy ngã làm nền tảng để biểu hiện, hơn nữa, do ngã thống ngự, cho nên ngã được xem là đồng nhất với Tạo vật chủ (Phạm: Prajàpati).

Thời đại Áo nghĩa thư (Phạm:Upaniwad, 800-600 trước Tây lịch), chủ trương ngã sáng tạo ra vũ trụ, hoặc cho rằng ngã là cá nhân(tiểu ngã) nhưng đồng thời cũng là đại ngã, nguyên lí trung tâm của vũ trụ (Phạm: Brahman) và xem Phạm (Brahman) và Ngã (Àtman) là đồng thể, đồng nhất. Lại tiến thêm bước nữa mà chủ trương chỉ có Ngã mới là sự tồn tại chân thực, còn ngoài ra đều là huyễn (Phạm: Màyà). Trong các kinh A hàm của Phật giáo đã phủ định 4 quan niệm sau đây về ngã. 1. Toàn thể của các cá thể loài người là Ngã, tức 5 uẩn là Ngã. 2. Sinh mệnh trung tâm trong các cá thể là Ngã, tức Ngã có 5 uẩn. 3. Nguyên lí vũ trụ là Ngã, tức trong Ngã có 5 uẩn. 4. Mỗi một yếu tố tồn tại đều có tính chất (tự tính) cố hữu, tức trong 5 uẩn có Ngã. Bốn quan niệm trên đây là cái mà đời sau gọi là Hữu thân kiến, có thể chia làm 2 loại: Một là Ngã kiến, tức 5 uẩn của quan niệm thứ nhất là Ngã; hai là Ngã sở kiến, tức 3 quan niệm còn lại. Ngã sở chỉ cho sở hữu, sở thuộc của Ngã và những vật không lìa Ngã. Về mối quan hệ giữa chủ thể cấu thành sinh tử luân hồi và thuyết Vô Ngã, Phật giáo bộ phái có các giải thích sau: - Thuyết nhất thiết hữu bộ lập Nhân ngã kiến và Pháp ngã kiến, tuy phủ định Ngã (tức Nhân ngã) của sinh mệnh cá thể, nhưng thừa nhận Ngã thực thể (tức Pháp ngã,và tất cả yếu tố cấu thành sự tồn tại) là hằng hữu. - Độc tử bộ và Chính lượng bộ chủ trương Ngã chẳng tức uẩn, chẳng li uẩn, sinh mệnh cá thể chẳng những không do 5 uẩn giả hợp tạo thành (tức uẩn) mà cũng chẳng phải ngoài 5 uẩn có Ngã riêng (li uẩn), tức là chủ trương giữa Ngã và 5 uẩn có mối quan hệ bất tức bất li.

- Kinh lượng bộ có thuyết Bổ đặc già la thắng nghĩa. Luận Thành duy thức quyển 1 chia Ngã do ngoại đạo và các phái trong Phật giáo bộ phái chủ trương làm 3 loại để phê phán, đó là: 1.Tức uẩn ngã: Ngã do thế gian phổ thông chủ trương. 2. Li uẩn ngã: Ngã do Số luận, Thắng luận và Kinh lượng bộ chủ trương. 3. Phi tức phi li uẩn ngã: Ngã do Độc tử bộ, Chính lượng bộ chủ trương. Phật giáo Đại thừa không những phủ định Ngã cá thể (nhân ngã) mà còn phủ định luôn cả pháp ngã tồn tại mà Phật giáo bộ phái thừa nhận và chủ trương thuyết Nhân vô ngã, Pháp vô ngã (Nhân pháp nhị vô ngã), cho rằng tất cả đều không tự tính(không tính). Đồng thời, Phật giáo bộ phái cho rằng, tất cả sự tồn tại đều là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, nhưng nếu diệt trừ hết phiền não thì đạt đến cảnh giới Niết bàn cứu cánh. Trái lại Phật giáo Đại thừa chủ trương tất cả sự tồn tại vốn là không, cảnh giới Niết bàn sau khi khai ngộ chắc chắn là cảnh giới tuyệt đối tự do, bởi thế có thuyết 4 đức: Thường, lạc, ngã, tịnh. Vì ngã ở đây khác xa với cái tiểu ngã mà phàm phu chấp trước, nên gọi là Đại ngã, Chân ngã. Nói một cách khái quát, Ngã có thể được chia làm 4 loại: 1. Phàm ngã: Ngã do phàm phu mê chấp. 2. Thần ngã (Phạm:Puruwa, Hán dịch: Trượng phu, nhân (nguyên nhân)): Ngã do Lục sư ngoại đạo chủ trương. 3.Giả ngã:Không có thực thể mà giả gọi là Ngã, như gọi thân thể do 5 uẩn giả hợp là Ngã. 4. Chân ngã: Chỉ cho Pháp thân Như lai, đặc tính của Pháp thân này được thuyết minh do căn cứ vào Bát đại tự tại ngã. Ngoài ra, về thuyết Ngã, các học phái (ngoại đạo) Ấn độ có 16 thứ phân loại thông thường gọi là 16 tri kiến, hoặc 16 thần ngã. Tri kiến có hàm ý là người biết, người thấy, tức chủ trương Ngã có năng lực biết và thấy. Mười sáu loại tri kiến hoặc thần ngã là: Ngã, chúng sinh, thọ giả, mệnh giả, sinh giả, dưỡng giả, chúng số, nhân (giả), tác giả, sử tác giả, khởi giả, sử khởi giả, thụ giả, sử thụ giả, tri giả và kiến giả. [X. luận Đại trí độ Q.35].

Kinh Sách Liên Quan

    
1 A Di Đà Kinh Yếu Giải Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận Đọc Tiếp Tải Về
2 Kinh A Di Đà Sớ Sao Hòa Thượng Thích Hành Trụ Tải Về
3 A Di Đà Kinh Sớ Sao Diễn Nghĩa Quyển 1 Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa Tải Về
4 A Di Đà Kinh Yếu Giải Giảng Ký Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa Tải Về
5 A Di Đà Kinh Hợp Giải Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa Tải Về
6 Kinh A Di Đà Hòa Thượng Thích Trí Tịnh Tải Về
7 Phật Thuyết A Di Đà Yếu Giải Giảng Ký Cư Sĩ Bửu Quang Tự đệ tử Như Hòa Tải Về

Cực Lạc Và Ta Bà
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ

Di đà bổn tánh Tịnh độ duy tâm...?
Đời Dao Tần, Duy Tắc Thiền sư Thiên Như

Phạm Vi Cõi Cực Lạc
Hòa Thượng Thích Trí Thủ