Home > Khai Thị Phật Học > Doc-Thien-Ki-Than
Độc Thiện Kì Thân
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ


Mô Phật bạch Sư Ông,

Nếu một người chỉ mong tu cho ba nghiệp thân khẩu ý của mình không nghĩ đến chúng sanh nào khác, cũng đem lại sự thanh tịnh ấy cho mọi loài được không bạch Sư Ông?

Con thật hoan hỷ chúc Sư Ông luôn khỏe, luôn an, luôn lạc và mọi sự luôn cát tường như ý.

Nam Mô Hoan Hỷ Tạng Bồ tát Ma ha tát.

Đức Phật thị hiện nơi đời để chỉ dạy con đường giác ngộ cho tất cả chúng sinh mà không riêng cho một chúng sinh, hay một loài nào. Khi quy y tam bảo tất nhiên đã nguyện cho ta và chúng sinh nương theo Phật phát tâm vô thượng, nương theo Pháp tu vô thượng huệ, nương theo Tăng tập vô thượng hành, nguyện độ nhất thiết chúng sinh. Nói chung do quy y tam bảo nên phát tâm hiểu và hành theo hướng vô thượng, nhờ vào các yếu tố vô thượng đó mà Phật Pháp Tăng mới là tam bảo, bởi lẽ trên trời dưới đất không một đạo sư, không một giáo pháp, không một hành nào có thể sánh bằng được nên nói là vô thượng.

Do vậy chúng ta mới nhận ra giác ngộ là vô thượng bảo. Tam bảo bao gồm đức Phật là bậc giác ngộ có tâm vô thượng, sở dĩ nói vô thượng nhờ vào trí tuệ tư duy biết rõ căn tính si mê của mọi chúng sinh để hành động thích ứng với việc độ sinh, nên Phật là bảo. Pháp là sự hiểu biết mọi pháp nhân quả, rõ mọi nhân si mê và quả đối trị là trí tuệ giác ngộ của chư Phật nên Pháp là bảo. Tăng là thực hành từ bi không bỏ sót bất kì chúng sinh nào, giác ngộ cho muôn loài nhờ vào sự hiểu biết nhân quả mê ngộ của từng chúng sinh là đôi tay của chư Phật nên Tăng là bảo. Nếu Phật không là vô thượng tâm, pháp không là nhất thiết trí, tăng không thể độ nhất thiết chúng sinh, thì Phật pháp tăng không xứng là bảo, bởi lẽ cũng giống như các Thánh Thần và giáo pháp cùng sự cứu đời của họ chỉ giới hạn trong phạm vi một số những người thiện lương trong một thời gian nào đó, qua giai đoạn này khi mọi việc sinh thiên hay đọa địa ngục sẽ được quyết định, kẻ nào chưa chuyển ác thành thiện sẽ không còn cơ hội được cứu, vì vậy họ không được gọi là bảo.

Đạo Phật gọi pháp giác ngộ là xuất thế gian pháp và các pháp không chú trọng đến giác ngộ là thế gian pháp. Đa phần tín chúng hiểu theo thức nên ngỡ là cứ học nội điển là giáo lý nhà Phật thì đều là tu học giác ngộ vì các pháp này là Phật pháp và là pháp xuất thế, nếu hiểu theo trí thì xuất thế hay thế đều do tâm, nếu phát tâm xuất thế thì pháp nào cũng là pháp xuất thế, và khi ấy sẽ nhận ra pháp nào cũng là Phật pháp, ngược lại nếu phát tâm cầu mọi sự thế gian thì pháp nào cũng là thế pháp và sẽ khiến ngay cả Phật pháp như kinh điển, Phật sự như xây chùa tạo tượng cũng đều thành pháp thế tục. Thực thể của các pháp vốn không, nên chẳng có pháp nào thật sự là thế gian hay xuất thế pháp mà tùy duyên ứng hiện, tâm dụng duyên nào thì các pháp tương ưng với duyên sẽ hiện hành. Không nên hiểu lầm nội điển là pháp xuất thế và ngoại điển là pháp thế tục, các pháp bình đẳng chỉ do tâm mà sinh khác biệt, tâm giác ngộ thì mọi pháp đều giác không hề có pháp mê, và do tâm mê thì mọi pháp đều mê không hề có pháp giác. Thế nên khi nói "giáo ngoại biệt truyền" Thiền tông ám chỉ phải nhận ra tính giác ngay trong cả pháp mê có vậy mới là toàn giác, và bậc toàn giác được tôn xưng là đấng Pháp vương.

Pháp giác ngộ là pháp bảo nên bậc giác ngộ và người hành giác ngộ cùng với pháp bảo được gọi là tam bảo xuất thế gian và cũng là vô thượng bảo. Các thế pháp do không thoát ra khỏi thế gian sinh diệt này nên không được coi là bảo. Ngay đến pháp giác ngộ cũng được phân thành hai gồm đại và tiểu. Nếu chỉ tu pháp giác ngộ xuất thế gian cho riêng mình mà không độ chúng sinh thì cũng là bảo nhưng là tiểu bảo, pháp giác này cũng là tiểu pháp bảo, và vắng mặt món bảo độ sinh, tựu chung tâm họ chỉ có nhị bảo, nên không hề là tâm vô thượng bao gồm tam bảo, do đó những vị này không được gọi là Phật mà chỉ gọi là A La Hán.

Về phần thế gian pháp cũng được chia làm hai gồm riêng mình và vì người. Những kẻ riêng mình chỉ chú trọng không làm ác, không hại ai và cho như thế đủ là thiện rồi, tuy nhiên họ chỉ được coi là thiện nhân, còn những ai vì tha nhân thì thường làm điều lợi ích như bố thí, giúp đỡ cho mọi người được coi là Thánh nhân. Mạnh tử nói nếu đời vô đạo thì giữ thiện đạo cho riêng mình, nếu đời hữu đạo thì dạy thiện đạo cho mọi người, nếu như tự mình thiện cũng khiến thiên hạ thiện theo thì Mạnh tử không nói lời trên và đức Phật cũng chỉ dạy "đừng làm các điều ác" mà không cần dạy "hãy làm các điều thiện", không làm ác là thiện tiêu cực, hãy làm thiện là mặt thiện tích cực. Thậm chí để tránh tinh thần thiện bất tịnh là đoạn ác hành thiện vì lợi ích riêng cho mình, đức Phật đã dạy điều thứ ba là "hãy lợi lạc nhất thiết chúng sinh" để thân tâm được thanh tịnh. Đoạn ác hành thiện vì lợi ích chúng sinh là sự hiểu biết và hành động thanh tịnh phát sinh từ tâm thanh tịnh và do vậy tâm này được gọi là vô thượng tâm.

Người tiểu căn tu học pháp giác ngộ chỉ đoạn ác là hàng hạ phẩm bảo, người trung căn vừa đoạn ác vừa hành thiện là hàng trung phẩm bảo, người hành cả ba pháp, đoạn ác hành thiện và nhiêu ích hữu tình là hàng thượng phẩm bảo. Người tiểu căn không coi nặng lợi tha nên xem thường các thiện pháp lợi sinh như bố thí phóng sinh, người trung căn tuy có hành thiện nhưng không cầu độ chúng sinh mà chỉ cầu phúc báo, vì vậy cả hai hạng này đều khó phát tâm vô thượng, chỉ có hàng thượng căn nương vào tâm vô thượng nên tự tịnh và tịnh hóa tha nhân bằng đoạn ác hành thiện và lợi lạc hữu tình.

Đức Phật dạy "chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành, tự tịnh kì tâm, thị chư Phật giáo", có nghĩa đừng làm mọi ác, hãy làm mọi thiện, tự tịnh tâm mình, là lời Phật dạy. Tu tập qua lời dạy này của chư Phật xem ra thực đơn giản, chỉ cần thanh tịnh tự tâm bằng cách đoạn ác hành thiện, hoặc giả diệt ác tu thiện để tự tâm thanh tịnh, nhưng nếu không phát tâm vô thượng tất sẽ không có năng lực đoạn ác hành thiện, hơn nữa đối tượng để trừ ác tu thiện tất nhiên là chúng hữu tình, nếu lìa chúng sinh thì không thể đoạn ác hành thiện, và không trừ ác tu thiện thì làm thế nào để thanh tịnh tự tâm, như vậy đừng làm ác tức không gây tổn hại cho chúng sinh, hãy làm các việc thiện tức lợi lạc hữu tình, hãy thanh tịnh tự tâm theo cách thức này thì đó chính là sự độ sinh. Mọi lời dạy của chư Phật đều không thiếu cũng không dư, cần phải chiêm nghiệm cẩn thận, trong ba sự đoạn ác hành thiện và tự tịnh tâm không thể bỏ qua thứ nào, nếu chỉ hành thiện đoạn ác mà không tự tịnh tâm thì sẽ được hưởng phúc báo trong kiếp lai sinh, để rồi phải trả khổ quả cho sự hưởng phúc bằng tâm bất tịnh ngay trong kiếp sau đó, như lời khuyến cáo của ngài Huệ Viễn. Phải hiểu tự tịnh tâm chính là hành thiện đoạn ác vì độ sinh, không để tâm bị thế tục hóa do các pháp thiện ác làm ô nhiễm, vượt qua các thiện ác tâm vẫn thanh tịnh hướng đến quả vô thượng bồ đề.

Do vậy những ai đoạn ác hành thiện vì người là bậc Thánh thế gian, nếu vì muôn loài thì là bậc Thánh xuất thế gian, nếu chỉ vì mình thì đơn thuần là người lương thiện. Hành thiện đoạn ác vì chúng sinh là độ sinh, độ sinh là pháp tự tịnh tâm mình, và tự tịnh tâm là pháp tu tập trưởng dưỡng vô thượng tâm tức bồ đề tâm để thành quả bồ đề, cho nên không độ sinh thì không thể có Phật quả.

Đức Phật nếu chỉ giác ngộ cho riêng mình hẳn là chúng ta không biết đến ngài, dĩ nhiên ngài không cần chúng ta biết đến ngài, ngài chỉ cầu mong chúng sinh biết đến pháp bảo giác ngộ nên mới phát tâm độ nhất thiết chúng sinh và luôn tán thán việc độ sinh coi đó là một thứ bảo gọi là Tăng bảo, mà không chỉ thuần ca ngợi việc hành thiện đoạn ác.

Tóm lại chỉ riêng tu thiện cho bản thân thì không thể lợi ích muôn loài được nói gì đến khiến chúng sinh thanh tịnh, ấy vậy vẫn có kẻ cho rằng không làm ác vượt trội việc làm thiện và đủ để thiện rồi, họ cần hiểu không trộm cắp chỉ là người không xấu, cần phải bố thí mới là người thiện.

BA 19.4.23