Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Phat-Phap-Chi-Day-Mot-Ca-Nhan-Toi-Chu-Chang-Day-Ai-Khac

Phật Pháp Chỉ Dạy Một Cá Nhân Tôi Chứ Chẳng Dạy Ai Khác
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Dịch Giả :Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt

Điểm thù thắng nhất trong Phật pháp làm cho chúng ta khâm phục đến năm vóc sát đất là Phật pháp chỉ dạy một cá nhân tôi chứ chẳng dạy ai khác, đây là điều tôi hiểu rất rõ ràng. Phần đông các đồng tu học Phật cả đời chẳng đạt được lợi ích, vẫn phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi y như cũ vì họ nghĩ rằng Phật pháp là nhằm dạy người khác. Học Phật pháp rồi mà cứ luôn xét nét người khác, họ quên quay lại nhìn bản thân mình, đó là hoàn toàn trái ngược với tinh thần của Phật pháp. Tinh thần của Phật pháp là nhằm xét đoán chính mình, chứ không xét đoán người khác, người khác đều là người tốt, đều là Phật, Bồ Tát, những gì người khác làm đều đúng đắn, đều chính xác. Người khác tạo ác nghiệp là tạo cho ta coi; họ đọa địa ngục cũng là đọa để răn nhắc ta, làm cho ta cảnh giác. Bất luận duyên bên ngoài là ác duyên hay thiện duyên, là thuận cảnh hay nghịch cảnh, hết thảy đều là chư Phật, Bồ Tát từ bi thị hiện cho ta thấy, độ chính ta, [nếu hiểu như vậy] ta sẽ  thành công!

Do vậy học Phật nhất định phải học Thiện Tài đồng tử, trong năm mươi ba lần tham vấn của Thiện Tài đồng tử, chỉ có một người [là học trò], chẳng có đồng tham đạo hữu. Nếu có đồng tham đạo hữu thì đó là phàm phu, kẻ ấy chẳng thể thành tựu, vì sao?  “Vì quý vị chẳng khác gì tôi!”, ngày ngày đều nhìn thấy lỗi lầm của kẻ khác, chẳng thấy lỗi lầm của chính mình. Trên đường Bồ Đề chỉ có mình tôi là phàm phu, hết thảy người khác đều là chư Phật Như Lai, tánh đức trong Thập Đại Nguyện Vương “lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai” tự nhiên sẽ hiện ra, vì sao?  Hết thảy bên ngoài đều là chư Phật Như Lai, chỉ có mình ta là phàm phu.  Mười pháp giới đều là Chư Phật Như Lai đại từ đại bi biến hiện ra cho ta xem, để cảnh tỉnh ta, để khuyến cáo ta. Trong Đàn Kinh, Lục Tổ dạy “Nếu thật sự là người tu đạo chẳng nhìn thấy lỗi lầm của kẻ khác”, thế gian chẳng có lỗi lầm, chỉ thấy lỗi của mình, như vậy mình mới có thể thành tựu. Sợ nhất là [ý niệm] “chính mình chẳng có lỗi lầm, đều là lỗi của người khác”, người đó là chúng sanh trong địa ngục, đó chẳng phải là người thường. Chúng ta nhất định phải biết “tôi có phải là chúng sanh trong địa ngục hay không?”, học Phật như vậy thì quý vị mới có tiến bộ, mới có tiến triển, mới không đến nỗi đọa lạc, trên đường Bồ Đề quý vị mới có thể thật sự đạt được pháp hỷ, mới đạt được lợi ích chân thật.

 
Trích từ: Nhìn Thấu Là Trí Huệ Chân Thật

Từ Ngữ Phật Học
bồ đề
(菩提) I. Bồ đề. Phạm, Pàli: bodhi. Dịch ý là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đã đạt được ở quả vị của các ngài. Trong ba loại bồ đề này, bồ đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dịch là vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng bồ đề. Về bồ đề của Phật, theo luận Đại trí độ quyển 53, có năm loại sau: 1. Phát tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín phát tâm bồ đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả bồ đề. 2. Phục tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng v.v... tu các hạnh ba la mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình. 3. Minh tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Đăng địa biết rõ thực tướng các pháp rốt ráo trong sạch, là tướng bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, ở trong bát nhã ba la mật, diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến nhất thiết trí, nên gọi là xuất đáo bồ đề. 5. Vô thượng bồ đề, nghĩa là bậc Đẳng giác, Diệu giác chứng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là giác trí của quả Phật.Trên đây gọi chung là năm loại bồ đề. Còn Pháp hoa kinh luận quyển hạ ở nơi ba thân pháp, báo, hóa của Phật, lập ba loại bồ đề là Pháp Phật Bồ đề (Pháp thân Bồ đề), Báo Phật Bồ đề (Báo thân Bồ đề), và Ứng Phật Bồ đề (Ứng thân Bồ đề), gọi là tam chủng Bồ đề. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 thì chia Vô lượng bồ đề làm hai thứ là Phương tiện bồ đề và Tính tịnh bồ đề. Ngoài ra, trong mười thứ Ba Pháp của tông Thiên thai cũng có ba bồ đề, đó là: 1. Thực tướng bồ đề, cũng gọi Vô thượng bồ đề: chân tướng bồ đề ngộ lí thực tướng, tương đương với đức pháp thân. 2. Thực trí bồ đề, cũng gọi Thanh tịnh bồ đề: trí tuệ ngộ lí khế hợp, tương đương với đức bát nhã. 3. Phương tiện bồ đề, cũng gọi Cứu kính bồ đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với đức giải thoát. Lại cứ theo luận Vãng sinh tịnh độ nói, thì: 1. Chấp trước tự ngã. 2. Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn. 3. Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình. Ba điều trên đây trái với cửa bồ đề, gọi là ba tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa bồ đề. Cùng sách đã dẫn lại nêu ra ba thứ tâm thanh tịnh: 1. Không cầu yên vui cho bản thân mình (Vô nhiễm thanh tịnh tâm) 2. Trừ khổ cho chúng sinh khiến họ được yên vui (An thanh tịnh tâm) 3. Khiến chúng sinh đến bồ đề và cho họ yên vui vĩnh viễn (Lạc thanh tịnh tâm). Đây là ba thứ tâm thuận theo cửa bồ đề. Người tu Đại thừa cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Bồ đề tát đỏa, gọi tắt là Bồ tát. Tâm cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo ý hoặc Bồ đề tâm. Hướng tới 73 đạo phẩm bồ đề, gọi là Bồ đề phần pháp. Nơi đức Phật thành đạo, gọi là Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng, cây ở đạo tràng ấy gọi là Bồ đề thụ. Tu phúc cầu nguyện cho tổ tông thành Phật, gọi là Tăng thượng bồ đề. Kết khóa niệm Phật, nguyện cầu chúng sinh tăng tiến Phật đạo, gọi là Bồ đề giảng. Các chùa viện thuộc về đàn na (thí chủ), gọi là Bồ đề tự, Bồ đề sở. [X. kinh Bồ tát địa trí Q.3 phẩm Vô thượng bồ đề; kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; kinh Bồ đề tâm Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.38, Q.52; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.70; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.1, Q.27; luận Đại trí độ Q.44; luận Thành duy thức Q.1]. II. Bồ đề. Tức là ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc vào đời nhà Đường. (xt. Bồ Đề Tiên Na).
thiện tài đồng tử
(善財童子) Phạm: Sudhana-Zrewỉhi-dàraka. Vị Bồ tát cầu đạo nói trong phẩm Nhập pháp giới kinh Hoa nghiêm, từng đi về phương nam tham vấn 55 vị thiện tri thức, gặp bồ tát Phổ hiền thì thành tựu Phật đạo. Phật giáo Đại thừa dùng trường hợp này làm ví dụ để chứng minh nghĩa Tức thân thành Phật, còn quá trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài thì biểu trưng cho các giai đoạn đi vào pháp giới của Hoa nghiêm. Cứ theo phẩm Nhập pháp giới trong kinh Hoa nghiêm quyển 45 (bản dịch cũ), đồng tử Thiện tài là con của 1 vị trưởng giả ở Phúc thành, từ khi đầu thai đến lúc sinh ra, có rất nhiều thứ trân bảo tự nhiên xuất hiện, vì thế đặt tênlàThiện tài(của cải tốt lành). Về sau, được sự dạy bảo của bồ tát Văn thù, đồng tử Thiện tài đi khắp các nước ở phương nam. Đầu tiên, Thiện tài đến nước Khả lạc tham vấn tỉ khưu Công đức vân, học được môn tam muội Niệm Phật. Sau đó, lần lượt tham vấn các vị Bồ tát, Tỉ khưu, Tỉ khưu ni, Ưu bà tắc, Ưu bà di, Đồng tử, Đồng nữ,Dạ thiên, Thiên nữ, Bà la môn, Trưởng giả, Y sư, Thuyền sư, Quốc vương, Tiên nhân, Phật mẫu, Vương phi, Địa thần, Thụ thần... lắng nghe và lãnh thụ các loại pháp môn, cuối cùng đến đạo tràng Bồ tát Phổ hiền thì Thiện tài chứng nhập pháp giới Vô sinh. Cứ theo Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 18 thì việc đồngtửThiện tài tham vấn các thiện tri thức có 8 ý nghĩa, đó là: Thiện tri thức là khuôn phép, là duyên thắng hạnh, phá kiến chấp kiêu mạn, xa lìa ma vi tế, nương thành hạnh, nương hiển vị, hiển bày sự sâu rộng và nêu rõ duyên khởi. Sách đã dẫn cũng cho rằng hành chứng của đồng tử Thiện tài suốt cả 3 đời: Kiến văn(đời trước), Giải hành(đời này) và Chứng nhập(đời sau) và lấy đời này của đồng tử Thiện tài làm Giải hành sinh, biểu thị Thiện tài trong 1 đời này tu đủ hành pháp của 5 giai vị: Thập tín, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng và Thập địa, đây chính là nghĩa Tam sinh thành Phật (ba đời thành Phật), là y cứ vào quả báo cách đời mà nói 3 đời. Nhưng tông Hoa nghiêm còn có thuyết Nhất sinh thành Phật (thành Phật trong 1 đời), cho rằng ba đời (tam sinh) chỉ là từ ngữ biểu thị phần vị pháp môn, chứ thực ra trong một đời 1 niệm cũng có 3 đời, cho nên tông Hoa nghiêm chủ trương 3 đời kiến văn, giải hành, chứng nhập có thể mỗi đời đều tự trong1đời ấy mà thành Phật. Theo đây, việc thành Phật của đồng tử Thiện tài có 2 thuyết: Ba đời thành Phật và một đời thành Phật.Ngoài ra, việc đồng tử Thiện tài tham vấn các thiện tri thức là biểu thị thứ tự trước sau về nhân quả chứng ngộ tiệm tiến. Trong đó, từ lần đầu tiên gặp ngài Văn thù về sau đến vị thiện tri thức thứ 41, là biểu thị nương vào tướng tu hành của các giai vị Tam hiền, Thập thánh. Mười một vị tiếp sau là biểu thị cho tướng hội duyên nhập thực, tức tổng hợp các duyên sai biệt của các giai vị nói ở trước mà cùng vào lí thực tướng, chỉ cho thân chứng Diệu giác. Kế đó, gặp vị thứ 53 là bồ tát Di lặc, là biểu thị tướng nhiếp đức thành nhân, tức là thu nhiếp đức hội duyên nhập thực này để làm chính nhân cho Nhất sinh bổ xứ. Kế nữa là gặp lại bồ tát Văn thù là biểu thị tướng trí chiếu vô nhị, tức gặp bồ tát Văn thù lần đầu là tượng trưng cho Tín trí, sau khi đã tham vấn lần thứ 54, lại gặp bồ tát Văn thù lần thứ 2 là tượng trưng cho Chứng trí. Đến đây, tức biểu thị kết quả sự tầm cầu khắp các pháp môn của đồng tử Thiện tài đã tương ứng với bản trí, thầm hợp không hai, đã lìa tướng phân biệt năng và sở, được chiếu thể và độc lập. Sau cùng, đồng tử Thiện tài gặp bồ tát Phổ hiền là biểu thị tướng hiển bày nhân rộng lớn, tức đã đạt đến Trí, Chứng không hai, cho nên dứt ý quên lời, tất cả đều là Đạo, pháp pháp toàn chân, y chính dung hợp, lớp lớp vô tận, nêu 1 pháp tức viên nhân, hết thảy các pháp đều như thế, đó chính là cảnh giới Phổ hiền rộng lớn. Có rất nhiều kệ tán tụng và tranh vẽ về lịch trình cầu đạo của đồng tử Thiện tài, như Đại phương quảng Hoa nghiêm nhập pháp giới phẩm tán của cư sĩ Dương kiệt đời Bắc Tống, Ngũ tướng tri thức tụng của ngài Trung sư, Văn thù chỉ nam đồ tán của ngài Duy bạch... Những tác phẩm này cũng thường được dùng làm đề tài văn học Phật giáo. Còn trong các chùa viện thuộc Thiền tông thì tượng của đồng tử Thiện tài thường được đặtởbên trái tượng bồ tát Quán thế âm, tức lấy đề tài từ việc đồng tử Thiện tài được bồ tát Quán thế âm giáo hóa khi đồng tử đến bái yết Ngài trong quá trình tham vấn các bậc danh sư. [X. Hoa nghiêm kinh sớ Q.55; Hoa nghiêm kinh tùy sớ diễn nghĩa sao Q.3, 85; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2; môn Linh tượng trong Thiền lâm tượng khí tiên].
lục đạo
(六道) cũng gọi lục thú. sáu đường mà chúng sinh đi tới để thụ sinh tùy theo nghiệp đã tạo. sáu đường ấy là: 1. địa ngục đạo (phạm: narakagati). 2. ngã quỉ đạo (phạm:preta-gati). 3. súc sinh đạo (phạm:tiryagyoni-gati). 4. tu la đạo (phạm:asura-gati). 5. nhân gian đạo (phạm:manuwya-gati). 6. thiên đạo (phạm: deva-gati). trong 6 đường này, 3 đường trước gọi là tam ác đạo, 3 đường sau gọi là tam thiện đạo. sự thêm bớt đối với lục đạo tùy theo bộ phái mà có khác. theo luận đại tì bà sa quyển 172 và luận đại trí độ quyển 10, thì thuyết nhất thiết hữu bộ bỏ bớt a tu la đạo, chỉ nói ngũ đạo, độc tử bộ và các bộ khác thì lập lục đạo. trung quốc và nhật bản cũng theo thuyết lục đạo. ngoài ra, theo ma ha chỉ quán quyển 5 phần trên, thêm thanh văn, duyên giác, bồ tát và phật vào lục đạo thì gọi là thập giới [x. kinh pháp hoa q.1; kinh đại bát niết bàn q.35 (bản bắc); luận đại trí độ q.30; câu xá luận quang kí q.8; vãng sinh yếu tập q.thượng]. (xt. ngũ thú a tu la).
phàm phu
(凡夫) Phạm: Pfthag-jana. Hán âm: Tất lật thác ngật na. Hán dịch: Dị sinh. Gọi tắt: Phàm. Chỉ cho người tầm thường. Nói theo giai vị tu hành thì những người có kiến thức nông cạn, chưa thấy lí Tứ đế, đều gọi phàm phu. Theo Đại nhật kinh sớ quyển 1, phàm phu vì vô minh nên tùy theo nghiệp mà chịu quả báo, không được tự tại, rơi vào các ngả và sinh làm các loài khác nhau, bởi thế, đúng ra từ ngữ Pfthag-jana phải được dịch là Dị sinh (sinh làm các loài khác nhau). Nhưng các ngài Bồ đề Lưu chi, Chân đế, Cấp đa... thì đều dịch là Mao đạo phàm phu, Anh nhi phàm phu, Tiểu nhi phàm phu. Anh nhi phàm phu và Tiểu nhi phàm phu đều bắt nguồn từ tiếng PhạmBàla-pfthag-jana (Hán âm: Bà la tất lật thác ngật na),Bàla có nghĩa là ngu. Ngoài ra, đối với các bậc thánh Tứ hướng, Tứ quả mà nói thì những người chưa kiến đạo(tức chưa thấy được lí Tứ đế)đều gọi là phàm phu. Trong đó, tông Câu xá cho Tứ thiện căn là Nội phàm, Tam hiền là Ngoại phàm. Tam hiền trở xuống là Để hạ phàm phu(phàm phu dưới giai vị Thập tín, là hàng phàm phu thấp nhất). Đại thừa thì cho trước Sơ địa là phàm phu, Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng (Tam hiền) là Nội phàm. Thập tín là Ngoại phàm. Ngoại phàm trở xuống gọi là phàm phu. Còn đối với Thanh văn, Duyên giác, Bồ tát, Phật(Tứ thánh)mà nói thì những người sống chết trôi lăn trong 6 đường đều gọi là Lục phàm, tức bao gồm hữu tình ở địa ngục cho đến chúng sinh các cõi trời. Ý nghĩa nội hàm của danh từ Phàm phu, gọi là Phàm phu tính, Dị sinh tính, gọi tắt là Phàm tính. Độc tử bộ cho rằng thể của Phàm phu là Kiến hoặc ở cõi Dục; Kinh bộ không lập thể của Phàm phu nhưng cho rằng phàm phu là phần vị sai biệt tương tục của Thánh pháp; tông Duy thức thì cho rằng phàm phu là 1 trong 24 pháp Bất tương ứng hành, là tác dụng giả lập của chủng tử do phân biệt mà sinh khởi Phiền não chướng và Sở tri chướng. [X. phẩm Thí dụ kinh Pháp hoa Q.2; kinh Đại bát niết bàn Q.17 (bản Bắc); kinh Phạm võng Q.thượng; luận Phật tính Q.3]. (xt. Dị Sinh).
bồ tát
(菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…...

Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…...

Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...

Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).

Mười Điều Trọng Yếu Của Sự Tu Hành
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Ba Giai Đoạn Của Sự Tu Hành
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Phương Pháp Tu Hành
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Làm Thế Nào Tu Hành
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không