Tác Giả

Đại Lão Hòa Thượng Thích Mộng Tham


Phật Học Vấn Đáp Liên Quan Tới Tác Giả
1. Con đọc “Kinh Kim Cang” đã hơn mười năm, nhưng vẫn không hiểu gì, có cần đổi kinh khác không? | Xem: 50
2. Con rất muốn thọ mười giới? | Xem: 36
3. Đệ tử rất muốn tu pháp môn Địa Tạng, nên làm thời khóa công phu như thế nào? | Xem: 34
4. Đối với những người không có tín ngưỡng, làm thế nào để họ hoàn toàn tin tưởng Phật pháp? | Xem: 35
5. Làm thế nào để được giải thoát? | Xem: 32
6. Một ngày phải lạy bao nhiêu lần Chiêm Sát Sám mới đươc thanh tịnh? | Xem: 30
7. Tại sao trên thế giới này lại có nhiều chuyện không công bằng như thế? | Xem: 40
8. Tâm người ác như vậy, làm sao giúp họ phát được tâm Bồ Đề? | Xem: 39
9. Thưa lão Hòa Thượng, thời gian nào thích hợp nhất để niệm Phật? | Xem: 34
10. Trong đời sống hằng ngày, làm thế nào để tu hành sám hối? | Xem: 30
11. Xin hỏi lão Hòa Thượng, thế nào là Mật Tông? | Xem: 35

Lão pháp sư Mộng Tham (1915-2017), tục danh là Lưu Thụy Đình, pháp danh Giác Tỉnh, tự hiệu là Mộng Tham, hàm ý “chẳng giác mà cũng chẳng tỉnh”. Lại do một giấc mộng mà xuất gia, nên Sư tự xưng như thế. Sư sanh năm 1915 tại huyện Khai Thông, tỉnh Hắc Long Giang, là con cả trong gia đình. Năm 1928, Sư xin vào làm cảnh sát đường sắt tại cục đường sắt Trường Xuân. Năm 1930, Sư vào học trường quân sự Phụng Thiên, trở thành sĩ quan trong lữ đoàn Phụng Thiên. Khi thủ lãnh quân phiệt Phụng Thiên là Trương Tác Lâm thua trận, phải rút quân về Bắc Kinh, Sư theo quân đoàn về Bắc Kinh. Khi được giao nhiệm vụ tuần phòng tại Thạch Gia Trang vào cuối năm ấy, trong khi nghỉ đêm tại một cơ xưởng bỏ hoang, Sư mộng thấy chính mình xuất gia. Tỉnh giấc, Sư bèn tìm đến xin xuất gia với lão hòa thượng Tu Lâm ở chùa Đâu Suất núi Thượng Phương thuộc huyện Phòng Sơn, thành phố Bắc Kinh. Sư xuống tóc tại miếu Dược Vương thuộc hậu sơn Di

Hòa Viên, được đặt pháp danh là Giác Tỉnh. Do tự khiêm “chẳng giác, chẳng tỉnh”, lại do mộng mà xuất gia, nên Sư lấy hiệu là Mộng Tham.
Sau khi xuất gia, Sư lại mộng thấy một vị Tăng bảo hãy sang núi Cửu Hoa. Tỉnh giấc, Sư bỗng phát hiện vị Tăng trong mộng giống hệt chân dung của hòa thượng Biến Dung (tổ Liên Trì cũng do vị này mà đắc ngộ), Phật giáo Trung Hoa thường coi ngài Biến Dung là một hóa thân của Địa Tạng Bồ Tát. Ngài đến Cửu Hoa Sơn, đúng dịp mở tháp thờ nhục thân Kim Địa Tạng (ngài Kim Kiều Giác), cho nên càng đặc biệt tín ngưỡng, tôn phụng Địa Tạng Bồ Tát. Khi ở tại Cửu Hoa, Sư lại mộng thấy có người bảo hãy sang chùa Dũng Tuyền tại Cổ Sơn. Do vậy, Sư xin vào Cổ Sơn Phật Học Viện để học kinh Hoa Nghiêm với lão pháp sư Từ Châu. Do trình độ văn hóa quá thấp, Sư nghe giảng chẳng hiểu gì, tính rời Cổ Sơn, thì trong mộng lại thấy có một vị Tăng dạy hãy học tập phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện trước để khai trí huệ. Sư vâng theo, quả nhiên, trí huệ tăng tấn. Sư lại tìm đến chùa Trạm Sơn ở Thanh Đảo để học Thiên Thai Tứ Giáo và thư pháp với pháp sư Đàm Hư.

Năm 1937, Sư vâng lệnh thầy, sang Hạ Môn, cung thỉnh pháp sư Hoằng Nhất đến chùa Trạm Sơn. Sư làm thị giả cho ngài Hoằng Nhất suốt nửa năm, bèn cầu thỉnh pháp sư Hoằng Nhất chế tác một bộ Luân Tướng theo đúng cách thức như kinh Chiêm Sát Thiện Ác Nghiệp Báo đã dạy. Pháp sư Hoằng Nhất không chỉ tạo Luân Tướng, còn dạy rất nhiều yếu nghĩa của kinh ấy, lại còn đích thân chép phẩm Tịnh Hạnh của kinh Hoa Nghiêm trao tặng. Bản thư pháp trân quý này được trân trọng cất giữ tại chùa Pháp Nguyên ở Bắc Kinh, nhưng đã bị Hồng Vệ Binh phá hủy tan nát trong thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa.

Năm 1940, do ủng hộ quân Kháng Nhật, Sư bị truy bắt, phải ẩn náu, đổi trang phục thành thị giả của một vị lạt-ma tại Ung Hòa Cung. Muốn hiểu thêm về Mật Tông, Sư bèn từ Bắc Kinh xuống Thượng Hải, sang Hương Cảng, rồi đáp thuyền sang Ấn Độ qua Tây Tạng cầu pháp. Tại Tây Tạng, Sư y chỉ Rinphoche Hạ Ba của phái Cách Lỗ (Gelugpa) chùa Sắc Lạp (Sera), học Bồ Tát Đạo Tu Pháp Thứ Đệ với pháp danh là Cổn Khước Đồ Đăng.

Khi Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa thành lập, chánh quyền Mao Trạch Đông tìm mọi cách hủy diệt Phật giáo Tây Tạng nói riêng, và Phật giáo Trung Hoa nói chung. Đa số các tăng lữ đều lâm vào cảnh tù đày, hay bị hạn chế mọi tự do hoạt động, rất nhiều chùa chiền bị sung công, biến thành hợp tác xã hay kho chứa lương thực, tăng sĩ bị đưa về nông thôn “đi sâu sát với quần chúng”, thực chất đi lao động cưỡng bức. Năm 1950, Sư đang ở huyện Cam Đốn tỉnh Tứ Xuyên, do kiên quyết từ chối hoàn tục, chẳng muốn theo các cán bộ nhà nước vào Tây Tạng để thực hiện công tác đồng hóa dân bản xứ nhằm xóa bỏ nền văn hóa Tây Tạng, Sư bị tống vào trại “học tập cải tạo”. Trong trại, do Sư vẫn khăng khăng không chịu hoàn tục, không chịu chối bỏ Phật giáo, nên đã bị giam vào trại tù hình sự. Trong tù, Sư vẫn tuyên truyền Phật giáo, giúp nhiều người hướng về Phật pháp, nên bị chánh quyền Trung Cộng gán cho tội danh phản cách mạng và bị giam cầm suốt mười lăm năm. Sau đó, chánh quyền Trung Cộng kết thêm án lao động khổ sai mười tám năm, tức là Sư bị tù suốt ba mươi ba năm. Nhiều lúc hoàn cảnh cơ cực, chèn ép, bế tắc khiến Sư phẫn chí, toan tự tử, luôn mộng thấy có người đẩy lên đài giảng, cung thỉnh giảng kinh. Sư tự biết mình còn có trọng trách hoằng dương Phật pháp nên ráng ẩn nhẫn. Sư thường niệm bài kệ “giả sử nhiệt thiết luân, tại nhữ đảnh thượng toàn, chung bất dĩ thử khổ, thoái thất Bồ Đề tâm” (giả sử vòng sắt nóng, xoay trên đỉnh đầu ngươi, trọn chẳng vì khổ ấy, lui sụt tâm Bồ Đề) để tự khích lệ, nhẫn nại trong hoàn cảnh ngặt nghèo.
Mãi cho tới năm 1982, khi Trung Ương Đảng Trung Cộng và Quốc Vụ Viện (phủ thủ tướng) Hoa Lục quyết định nới lỏng chánh sách tôn giáo, ngài Mộng Tham mới được trả tự do. Từ Tứ Xuyên trở về Bắc Kinh, Sư được mời dạy học tại Trung Quốc Phật Học Viện, chuyên giảng dạy Tứ Phần Luật. Năm 1984, Sư được các vị pháp sư Diệu Trạm và Viên Chuyết thỉnh sang chùa Nam Phổ Đà tại Hạ Môn để giúp khôi phục Mân Nam Phật Học Viện, giữ chức Giáo Vụ Trưởng. Năm 1987, Sư được hòa thượng Tuyên Hóa mời sang Vạn Phật Thánh Thành chủ trì pháp hội Thủy Lục, tạo thành nhân duyên hoằng pháp tại hải ngoại sau này. Năm 1988, nhận lời thỉnh của Mỹ Quốc Bồ Đề Tâm Cơ Kim Hội, Sư cùng thị giả là pháp sư Hoằng Giác định cư tại Nữu Ước, bắt đầu giảng kinh Chiêm Sát và pháp môn Địa Tạng suốt năm năm tại Mỹ.

Từ đó, Sư lần lượt chống tích trượng sang Gia Nã Đại, Tân Tây Lan, Tân Gia Ba, Hương Cảng, và Đài Loan hoằng pháp. Năm 1995, trong khi trụ tích tại chùa Hoằng Pháp ở Vancouver, sau khi phát hiện bị ung thư trực tràng, Sư tính bỏ vạn duyên, nhất tâm niệm Phật vãng sanh. Chấp thuận lời tha thiết cầu thỉnh trụ thế của các đệ tử, Sư chấp thuận phẫu thuật vào năm 1996 tại bệnh viện Chương Hóa, Đài Bắc. Năm 2004, chấp thuận lời thỉnh của tứ chúng chùa Phổ Thọ, Sư bắt đầu giảng kinh Hoa Nghiêm từ ngày mồng Hai tháng Hai và các kinh luận Đại Thừa. Năm 2006, nhận lời thỉnh của tổ chức Phương Quảng Văn Hóa, giảng kinh Thập Luân tại chùa Phổ Thọ. Năm 2007, Sư đến các chùa Thông Giáo Tự và Cư Sĩ Lâm tại Bắc Kinh hoằng pháp. Năm 2009, Sư tham dự hoạt động hoằng pháp do Đài Bắc Quốc Tế Hội Nghị tổ chức, mỗi buổi giảng có mấy ngàn người nghe. Cuối năm đó, Sư trở về Ngũ Đài Sơn, giảng kinh Lăng Nghiêm. Năm 2014, do lời thỉnh cầu của các đệ tử xuất gia, Sư từ Mộng Tham Tinh Xá ở Thâm Quyến (Quảng Đông) về an dưỡng tại chùa Chân Dung núi Ngũ Đài. Ngày 27 tháng Mười Một, Sư thị hiện viên tịch tại chùa Chân Dung, thọ 103 tuổi.

Suốt đời, Sư luôn tự coi mình chưa xứng là một vị tỳ-kheo, chỉ là người xuất gia vân du, không truyền pháp (chẳng lập môn hộ), mà cũng chẳng kiến lập đạo tràng nào (ngay cả Mộng Tham Tinh Xá tại Thâm Quyến chỉ là do các đệ tử kiến lập rồi nhiều lượt tha thiết thỉnh cầu, Sư mới chấp thuận cho đặt tên như thế). Sư suốt đời chỉ mang ý niệm hoằng pháp, cốt sao giảng giải những ý nghĩa thâm viễn trong kinh cho mọi người đều hiểu. Những lời giảng của Sư chất phác, bình dị. Những người hâm mộ Sư, phát tâm tu học, hoặc xuất gia rất đông. Chính nhờ ảnh hưởng của Sư mà các chùa Phổ Thọ tại Ngũ Đài, Năng Nhân tại núi Nhạn Đãng, và Chân Dung tại Ngũ Đài đều được khôi phục, đỉnh thịnh. Tuy giảng nhiều pháp khác nhau, nhưng pháp môn được Sư đặc biệt chú trọng là pháp môn Địa Tạng, nhất là kinh Chiêm Sát.
 

Cố Giáo Sư Minh Chi
Cố Giáo Sư Trương Đình Nguyên
Cư Sĩ Bành Tế Thanh
Cư Sĩ Bích Ngọc
Cư Sĩ Cao Hữu Đính
Cư Sĩ Chân Hiền Tâm
Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Cư Sĩ Đạo Quang
Cư Sĩ Diệu Âm
Cư Sĩ Diệu Hà
Cư Sĩ Định Huệ
Cư Sĩ Đoàn Trung Còn
Cư Sĩ Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Cư Sĩ Dương Đình Hỷ
Cư Sĩ Đường Tương Thanh
Cư Sĩ Giang Đô Trịnh Vĩ Am
Cư Sĩ Giang Vị Nông
Cư Sĩ Hạnh Cơ
Cư Sĩ Hồ U Trinh Ở Núi Tứ Minh
Cư Sĩ Hoàng Phước Đại
Cư Sĩ Hồng Như
Cư Sĩ Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Cư Sĩ Huệ Thiện
Cư Sĩ Huỳnh Lão
Cư Sĩ Khánh Vân
Cư Sĩ Lâm Cự Tinh
Cư Sĩ Lâm Khán Trị
Cư Sĩ Lê Huy Trứ MSEE
Cư Sĩ Lê Sỹ Minh Tùng
Cư Sĩ Liêu Nguyên
Cư Sĩ Liêu Địch Liên
Cư Sĩ Lưu Minh Chánh
Cư Sĩ Lưu Thừa Phù Ghi Chép
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh
Cư Sĩ Lý Nhất Quang
Cư Sĩ Mao Lăng Vân cung kính kết tập
Cư Sĩ Minh Chánh
Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt
Cư Sĩ Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyên Giác
Cư Sĩ Nguyên Hồng
Cư Sĩ Nguyễn Lang
Cư Sĩ Nguyên Phong
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sâm , Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sinh
Cư Sĩ Nguyễn Hữu Kiệt
Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến
Cư Sĩ Nguyễn Xuân Chiến
Cư Sĩ Như Hòa
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Cư Sĩ Phúc Trung
Cư Sĩ Phương Luân
Cư Sĩ Quách Huệ Trân
Cư Sĩ Quảng Minh
Cư Sĩ Tâm Phước
Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Cư Sĩ Thiên Nhơn
Cư Sĩ Thôi Chú Bình
Cư Sĩ Thuần Bạch
Cư Sĩ Tiểu Bình Thật
Cư Sĩ Tịnh Mặc
Cư Sĩ Tịnh Nghiệp
Cư Sĩ Tịnh Thọ
Cư Sĩ Tô Khắc Minh
Cư Sĩ Tôn A Tử
Cư Sĩ Trần Anh Kiệt
Cư Sĩ Uông Trí Biểu
Cư Sĩ Viên Đạt
Cư Sĩ Võ Đình Cường
Cư Sĩ Vọng Tây
Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Diễn Bồi
Đại Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Mộng Tham
Đại Lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tinh Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Đại Sư An Thế Cao
Đại Sư Bách Trượng Hoài Hải
Đại Sư Chí Công
Đại Sư Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa
Đại Sư Đạo Nguyên
Đại Sư Đạo Tuyên
Đại Sư Diệu Hiệp
Đại Sư Diệu Khẩu
Đại Sư Diệu Không
Đại Sư Diệu Liên
Đại Sư Đời Tống, Nguyên Chiếu
Đại Sư Duy Tắc Thiền sư Thiên Như Đời Dao Tần
Đại Sư Gia Tường Cát Tạng
Đại Sư Hải Đông
Đại Sư Hám Sơn
Đại Sư Hàm Thị
Đại Sư Hoài Cảm
Đại Sư Hoằng Nhất
Đại Sư Hoằng Tán
Đại Sư Huệ Ngộ
Đại Sư Khuy Cơ
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc
Đại Sư Pháp Tạng Hiền Thủ
Đại Sư Phi Tích
Đại Sư Pomnyun Sunim Trí Quang
Đại Sư Quán Đảnh
Đại Sư Quảng Khâm
Đại Sư Tăng Triệu
Đại Sư Thái Hư
Đại Sư Thân Loan
Đại Sư Thang Hương Danh
Đại Sư Thanh Lương Trừng Quán
Đại Sư Thật Hiền
Đại Sư Thật Xoa Nan Đà
Đại Sư Thích Ấn Thuận
Đại Sư Thích Tăng Triệu
Đại Sư Thiện Đạo Đời Đường
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả
Đại Sư Thượng Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Tĩnh Am
Đại Sư Tông Bổn
Đại Sư Tri Lễ
Đại Sư Triệt Ngộ
Đại Sư Trung Phong Minh Bổn
Đại Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Ưu Đàm
Đại Sư Vi Lâm Đạo Bái
Đại Sư Viên Hư
Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ
Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Đời Đường Sa Môn Văn Thẩm Thiếu Khương
Đời Lưu Tống Cương Lương Gia Xá
Hòa Thượng DaLai Lama
Hòa Thượng Thích Bảo Lạc
Hòa Thượng Thích Bích Liên
Hòa Thượng Thích Chân Thường
Hòa Thượng Thích Đồng Bổn
Hòa Thượng Thích Đổng Minh
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Hòa Thượng Thích Đức Thắng
Hòa Thượng Thích Giác Khang
Hòa Thượng Thích Giác Qủa
Hòa Thượng Thích Giác Quang
Hòa Thượng Thích Hân Hiền
Hòa Thượng Thích Hoằng Tri
Hòa Thượng Thích Hoằng Trí
Hòa Thượng Thích Hồng Đạo
Hòa Thượng Thích Hồng Nhơn
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng
Hòa Thượng Thích Huyền Dung
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
Hòa Thượng Thích Huyền Vi
Hòa Thượng Thích Khánh Anh
Hòa Thượng Thích Khế Chơn
Hòa Thượng Thích Mãn Giác
Hòa Thượng Thích Minh Cảnh
Hòa Thượng Thích Minh Châu
Hòa Thượng Thích Minh Lễ
Hòa Thượng Thích Minh Thành
Hòa Thượng Thích Nhất Chân
Hòa Thượng Thích Như Điển
Hòa Thượng Thích Pháp Chánh
Hòa Thượng Thích Phước Nhơn
Hòa Thượng Thích Phước Sơn
Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Hòa Thượng Thích Quang Phú
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Hòa Thượng Thích Tâm Quang
Hòa Thượng Thích Thái Hòa
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Hòa Thượng Thích Thiên Ân
Hòa Thượng Thích Thiện Châu
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ
Hòa Thượng Thích Thiện Phụng
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Hòa Thượng Thích Thông Bửu
Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Hòa Thượng Thích Tịnh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Tịnh Từ
Hòa Thượng Thích Toàn Châu
Hòa Thượng Thích Trí Chơn
Hòa Thượng Thích Trí Hoằng
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
Hòa Thượng Thích Trung Quán
Hòa Thượng Thích Từ Quang
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Đặng
Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa
Hòa Thượng Thích Viên Giác
Hòa Thượng Thích Viên Huy
Hòa Thượng Thích Viên Lý
Tam Tạng Pháp Sư Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm
Tam Tạng Pháp Sư Đề Vân Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Thượng Nhân Pháp Nhiên
Thượng Tọa Thích Chân Tính
Thượng Tọa Thích Chánh Lạc
Thượng Tọa Thích Đồng Ngộ
Thượng Tọa Thích Đức Trí
Thượng Tọa Thích Giải Hiền
Thượng Tọa Thích Hằng Đạt
Thượng Tọa Thích Hạnh Bình
Thượng Tọa Thích Huyền Châu
Thượng Tọa Thích Mật Thể
Thượng Tọa Thích Minh Tuệ
Thượng Tọa Thích Nguyên Bình
Thượng Tọa Thích Nguyên Chơn
Thượng Tọa Thích Nguyên Hùng
Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Thượng Tọa Thích Nhuận Châu
Thượng Tọa Thích Phổ Huân
Thượng Tọa Thích Phước Hòa
Thượng Tọa Thích Phước Thái
Thượng Tọa Thích Quảng Ánh
Thượng Tọa Thích Tiến Đạt
Thượng Tọa Thích Trí Đức
Thượng Tọa Thích Trí Siêu
Thượng Tọa Thích Trường Lạc
Thượng Tọa Thích Vĩnh Hóa
Tiến Sĩ Lê Sơn Phương Ngọc
Tiến Sĩ Sinh Học Matthieu Ricard
Tiến Sĩ Vật Lý Trịnh Xuân Thuận
Tỳ Kheo Thích Đăng Quang
Tỳ Kheo Thích Đồng Thọ
Tỳ Kheo Thích Đồng Tịnh
Tỳ Kheo Thích Duy Lực
Tỳ Kheo Thích Giác Nghiên
Tỳ Kheo Thích Giới Bổn
Tỳ Kheo Thích Giới Đức
Tỳ Kheo Thích Giới Nghiêm
Tỳ Kheo Thích Hoằng Đạo
Tỳ Kheo Thích Hoằng Thường
Tỳ Kheo Thích Huệ Chiểu Chùa Đại Vân Ở Chuy Châu
Tỳ Kheo Thích Minh Điền
Tỳ Kheo Thích Minh Định
Tỳ Kheo Thích Minh Trí
Tỳ Kheo Thích Nguyên Chứng
Tỳ Kheo Thích Tâm Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thanh Giác
Tỳ Kheo Thích Thiện Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thiện Trang
Tỳ Kheo Thích Thông Huệ
Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ
Tỳ Kheo Visuđhacara



Pháp môn Tịnh Độ là pháp môn bình thường nhất nhưng cao sâu nhất trong Phật pháp. Nếu không phải đời trước sẵn đủ huệ căn, quả thật khó thể sanh chánh tín sâu xa.