Hai cõi tịnh và uế đồng ở trong một tâm, chúng sanh và Phật một lý, các pháp vốn bình đăng cần gì mượn lời để khuyên tu. Chỉ vì tâm chúng sanh mê nên tạo ra cảnh, tịnh và uế từ đó phân chia, đối đải mà thành, nên bị trói buộc và giải thoát có khác, nhiều kiếp xuống lên chẳng hay chẳng biết, nên cần khuyên chúng sanh ở biển khổ cõi Ta bà, cầu sanh về thế giới Cực lạc ở phương Tây. Hành giả đã nghe rõ hai thứ pháp môn ưa chán ở trên thì biết rõ hai cõi tịnh uế, khổ vui chơn thật không lầm, nên phải phát nguyện cầu sanh, như người nông dân biết làm ruộng sẽ có cơm ăn, tự mình gắng làm, không ai ngăn được. Người nông dân chỉ nghĩ đến đói lạnh cho một năm sau, còn cày sâu cuốc bẩm, chăm chỉ sớm hôm cả năm không biết mệt mõi. Huống hành giả tu tam muội kia nếu một niệm được tinh cần thì có thể khỏi được cái khổ nhiều kiếp ở cõi Ta Bà, lên chín phẩm cõi Cực lạc thì an ổn vô lượng kiếp cho đến thành Phật. Đâu phải chỉ một năm vất vả chăm làm mới được một năm no ấm. Đem so sánh thì chỗ hơn kém thấy rõ ràng, nên đâu cần có người khuyên mới chịu thực hành.
Trước đã chỉ hành giả hai môn chiết nhiếp, ý chỉ đó đã rõ rồi, ta biết cái nào là vàng ngọc, cái nào là đất đá, tuy trẻ con lên ba cũng biết bỏ đá lấy vàng, chẳng cần khuyên mà nó cũng biết chọn lựa cái nào là tốt đáng quý, cái nào xấu đáng bỏ. Hành giả tu tịnh độ cũng vậy, đã hiểu rõ cõi này là khổ, cõi kia là vui, cõi này là đắm chìm trong sanh tử, cõi kia là tự tại giải thoát, chắc chắn sẽ bỏ cõi uế này mà cầu sanh về tịnh độ, tự nhiên mỗi niệm không dừng, mỗi tâm chẳng dứt, như cứu lửa cháy đầu, nghe dạy niệm Phật thì làm liền đâu cần chỗ khuyên bảo. Hai cõi khổ và vui là chính từ kim khẩu Phật nói ra, tin chắc không nghi, người tu theo sẽ tự mình chứng được. Ở đời, người thấy phân thối liền bịt mũi, nhăn mày, chê nó hôi thối muốn mau đi khỏi chỗ ấy; người thấy áo gấm lụa là, nước hoa trang sức chắc mĩm cười nở mặt, ham điều tốt đẹp thơm tho muốn mau có được. Tất cả cái đó là cảnh huyễn tốt xấu tạm thời còn không thể không ưa ghét. Huống chi nhiều kiếp ở chỗ rất khổ hoặc rất vui mà không mau sanh lòng ưa chán. Nếu người không có tâm ưa chán này thật là người bị nghiệp hoặc quá sâu hoặc quá ngu si thật đáng thương xót.
Lại nữa, Thế giới Ta Bà này Đức Thích Ca đã tịch diệt, Phật Di Lặc chưa sanh, hiền thánh đều ẩn dấu, tất cả chúng sanh dong ruỗi trôi dạt trong biển khổ như đứa trẻ mất cha, nếu không lấy nguyện vương cõi Cực lạc làm chỗ trở về thì nhờ ai cứu hộ. Huống chi cõi này sáu nẽo xuống lên, trời người tuy khá hơn các đạo khác nhưng phước báo đã hết liền bị đọa. Nay nói từ loài người tu theo chìu dọc mà luận, các hạng thần tiên chưa rời chỗ không còn không thể đến huống là cõi trời ư! Những người sanh về cõi trời tu nhơn ba phẩm mười thiện sanh và ba cấp của cõi trời, từ thấp đến cao, đều trải qua nhiều kiếp, không được như ý muốn, thành tựu thì ít mà thất bại thì nhiều như giọt nước đối với đại dương. Trong lúc tu ấy hoặc gặp bọn ma tà ác, vĩnh viễn lui sụt, đâu dám nói ra khỏi ba cõi mà mong được lên địa vị tứ quả Thanh văn. Huống chi nói đến thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa mà mong tiến đến được ư! Nếu người có thể tu pháp môn niệm Phật này cầu sanh về Tịnh độ, tuy còn ở địa vị phàm phu, chưa ra khỏi sanh tử, liền được gieo nhơn, vượt ngang ra khỏi năm đường trong ba cõi, vượt khỏi các loài, nhờ Phật tiếp dẫn, liền sanh về cõi an dưỡng, ở nơi ấy gởi thân trong 9 phẩm, hoa nở thấy Phật, nghe pháp ngộ đạo, không rời đương niệm, bước thẳng mười phương cúng dường tất cả Tam Bảo, giáo hóa tất cả chúng sanh. Khi đức Thế Tôn Di Lặc hạ sanh cõi này, trở lại Ta Bà, cùng Phật hoằng truyền từ bi, dù có nhiều kiếp cha mẹ, vợ con, anh em, tỷ muội, các cảnh oán thân, đều dạy bảo vào đạo, chỉ cho thấy nhơn nhiều kiếp lâu xa đều làm cho được chứng quả, thực hành hạnh nguyện như thế đâu không phải là hạnh nguyện rộng lớn ư!
Người niệm cầu sanh Tịnh độ, ba chướng và tất cả kiếp nghiệp ở cõi Ta bà này cũng không làm liên lụy họ. Công đức như thế, nếu một niệm tu bèn thuộc đời sau đâu nên trì hoản. Huống nữa việc đời có muôn mối ràng buộc, kiếp người có vạn duyên náo loạn như khoá, như câu, trói buộc liên tục không bao giờ dứt. Tâm thì mỗi niệm chẳng dừng, thân thì biến chuyển không thôi, dẫn ta xuống lên, chướng ngại bản tánh của ta, nhiều kiếp đến nay chưa từng ngừng nghỉ, vô thường biến đổi, không thể giữ lâu, dù mạng có sống trăm năm, so với dòng thời gian thì nhanh hơn khảy móng tay, ngày lại ngày qua khó bảo toàn mạng sống. Chợt vừa nhắm mắt, phút chốc đã qua đời sau, cứ theo nhơn tạo nghiệp mà chịu hành hình theo loại, mang lông, đội sừng, bò dưới đất, bay trên không, kiến giải ngày nay đều tiêu, thoát đã vào ba đường sáu nẽo, nổi trôi nhiều kiếp, chẳng biết đường về, đáng gọi là điều khổ lớn. Dù đến đức Phật Di Lặc ra đời, mà ta sanh chỗ nào chưa biết, người bị đọa còn không nghe được tên cha mẹ và Tam bảo, hà huống được luận bàn kinh giáo. Tuy chịu nhiều thân khác nhau, nhưng lòng ái tiếc sâu nặng, từ nghiệp đến nghiệp, ở chỗ tối vào chỗ tối hơn, sợ chết tham sống, không khác ngày nay.
Người tu Tịnh độ không nên chần chừ lần lựa qua ngày. Vì thân người khó được Tịnh độ khó nghe và khó tin, nay chúng ta đã được nghe và tin là phúc duyên đã gieo trồng nhiều đời mới gặp. Do đó, hành giả nghe xong phải noi theo chí trượng phu của các bậc tiên giác, dũng mãnh phát khởi tâm đại bồ đề, lập chí quyết định, đem hết sức lực, một đao cắt hết vọng tưởng trần lao, nhảy một bước ra khỏi rừng tà kiến, mở hết hai đầu, buông bỏ tất cả, mới có thể hoàn thành tịnh nguyện, hoà quang động cả trời người, mọi loài nhờ ơn chư Phật hộ niệm, đóng ba đường ác, mở môn Tổng Trì. Được như thế, không cần đợi báo thân mãn ở cõi Ta Bà mà đã được vãng sanh về cõi Cực lạc rồi vậy.
Có người lòng tin không chắc, miệng nói Ta bà cõi khổ đáng chán mà lòng vẫn đam mê lần lựa qua ngày, nói tôi cần đợi xứ sở này yên ổn, ăn mặc đầy đủ, mọi việc phải vừa ý, lo trước tính sau, coi xem ngày giờ tốt mới phát tâm, dẹp hết ân oán mới thành tựu việc làm rồi mới phát khởi tâm niệm Phật. Người như thế giả sử thế giới hư không có cùng tận thật cũng không có ngày mà họ chờ đợi vì vọng tưởng vô bờ, lòng tham không đáy làm sao dứt được. Đó là do không tin hai môn chiết nhiếp của đức Như Lai nên khi trời khô ráo không đi, đợi mưa phủ kín đầu mới toan trón ướt thật là vô lý.
Nên cổ đức thường nói:
"Ngày nay đi được mau quay bước
Đừng đợi ngày mai chẳng lối đi"
III. Tu hành môn: