Home > Khai Thị Phật Học > Nhan-Xu-Van-Thanh
Nhãn Xứ Văn Thanh
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ


Kinh Kim Cương thuyết "nhất thiết pháp giai thị Phật pháp" có nghĩa đâu đâu thứ gì cũng là Phật pháp mà không chỉ có kinh điển và chùa chiền mới riêng là pháp Phật. Đã như vậy hẳn là Phật pháp luôn được diễn dương không ngừng trong thế gian thông qua lời người nói cũng như sự vật nói. Phàm nhân chỉ nhận ra pháp nhờ vào âm thanh chỉ dạy từ người khác gọi là hữu tình thuyết pháp, và những lời lẽ này được kết tập gọi là kinh hay nội điển để phân biệt với ngoại điển là các lời dạy và sách vở ngoài Phật giáo.

Tuy nhiên bằng huệ nhãn thì chẳng có nội ngoại điển, chỉ có một thật điển duy nhất đó là thật pháp biến khắp muôn nơi, vì vậy mọi thứ tư duy hay hành động của kẻ ngu người trí cũng không nằm ngoài Phật pháp, thậm chí đến các thứ vô tình như cây cỏ, đồng hoang, cung điện hay lều tranh cũng đều hiển bày Phật pháp, có vậy đức Phật mới dạy "nhất thiết pháp giai thị Phật pháp" pháp nào cũng là Phật pháp đồng với pháp nào cũng là thật pháp giác ngộ.

Pháp nào cũng là Phật pháp.

Hai chữ "Pháp nào” hàm nghĩa mọi pháp đều là sắc, cụm từ "cũng là Phật pháp” có nghĩa đều là thật pháp tức bản thể của các pháp là không, như vậy sắc tức thị không hàm nghĩa pháp nào cũng là Phật pháp hay nói cách khác là thật tính của vạn pháp đều cùng là không tính, đồng với lý tất cả chúng sinh đều có Phật tính.

Nếu không hiểu được nghĩa trên, người tu học sẽ chỉ có thiểu trí tức cái hiểu biết bị giới hạn trong vòng nội điển và chỉ biết pháp giác ngộ qua lời dạy của các bậc thạc đức, ngoài đó ra họ không hề thấy chút pháp giác ngộ nào, bởi đơn giản vì họ cho rằng các pháp thế tục cũng như cảnh vật không hề liên quan gì đến pháp giác ngộ. Thứ giác ngộ quá hạn chế đó không thể gọi là giác ngộ, chỉ bao giờ nhận ra thật pháp bàng bạc khắp muôn phương, đến ngay huyễn pháp cũng vẫn hiển bày chân thật pháp nên Vĩnh gia đại sư mới nói "vô minh thật tính tức Phật tính, huyễn hóa không thân tức pháp thân" thật tính của vô minh ấy là Phật tính, không thân của huyễn hóa ấy là pháp thân, khi ấy mới thật sự giác ngộ Phật pháp vô biên như đại hải. Sự giác ngộ này mới viên mãn vì chẳng có một thứ gì ngoài tầm giác ngộ nữa.

Vì những lý lẽ trên không chỉ thấy mọi pháp thuộc hữu tình như nội và ngoại điển đều là Phật pháp, mà còn phải nghe được tức nhận ra Phật pháp từ vô tình. Nhưng bằng cách nào nghe được vô tình thuyết pháp? Chẳng phải mọi âm thanh từ vô tình đều không phải là ngôn ngữ sao? Và như thế làm thế nào nghe hay hiểu được thứ ngôn ngữ phi ngôn ngữ này đây? Trí tuệ giác ngộ hay thật huệ mới giải quyết được mọi vấn đề, và ngài Lương Giới tổ phái thiền Tào Động vào thế kỷ thứ 9 đã mách bảo cho hậu bối cách nghe được vô tình thuyết pháp bằng bài kệ "dã kỳ tai, dã kỳ tai. Vô tình thuyết pháp nan tư nghì, nhược tương nhĩ thính chung nan hội, nhãn xứ văn thanh phương đắc tri" có nghĩa lạ lùng thay, lạ lùng thay, vô tình thuyết pháp không nghĩ bàn, nếu lắng tai nghe sẽ không hiểu, nơi mắt nghe thanh mới nhận ra. Một khi mắt thấy mọi sự đều là nghe pháp thì pháp nào cũng là Phật pháp và không chỉ riêng có các bậc trí tuệ mới là đạo sư mà ngay đến mọi vật thuộc vô tình cũng đều là đạo sư thuyết vi diệu pháp. Ngài Lương Giới đã thốt lên lạ lùng thay, đúng vậy thực lạ lùng khi thuyết pháp như đạo sư và không thuyết như vô tình cũng đều là thuyết pháp, thậm chí lời kẻ ngu cũng là Phật pháp, nói im động tĩnh, thấy nghe hay không thấy nghe thảy đều diễn dương diệu pháp, chẳng phải là lạ lùng lắm đó sao!.

Chúng ta đã biết Phật pháp nơi kẻ ngu thông qua chuyện ngu (kinh Bách Dụ), giờ cần biết thêm Phật pháp nơi vô tình thứ ngay đến Phật giáo đồ cũng ngỡ là chẳng dính dáng gì với Phật pháp, đó mới thật là pháp nào cũng là Phật pháp. Phàm nhân ngu ngơ nên cho rằng người tu học đạo không thể thông hiểu việc đời vì đời nằm ngoài đạo. Họ nào nhận ra người giác ngộ nói nôm na là người thật sự hiểu được "pháp nào cũng là Phật pháp" đều hiểu rõ bản chất cuộc đời hơn bất kỳ kẻ nào trong đời bao gồm cả quỷ ma thánh thần, nhờ vậy họ đạt được một đời sống thăng hoa an lành tốt đẹp không nhiễu nhương như bao kẻ phàm phu tục tử không biết đạo. Kinh Tư ích nói "Nhân sinh hành thế gian, nhi bất tri thế gian. Bồ tát hành thế gian, minh liễu thế gian tướng" thế nhân hành xử theo thế gian mà không hiểu gì về thế gian, Bồ tát hành theo thế gian và biết rõ tướng trạng thế gian. Kinh Tạp A Hàm thuyết "Không thấy rõ ái dục, mới vướng vào ái dục, ảo tưởng về ái dục, đưa người về nẻo chết. Thấy chân tướng ái dục, tâm ái dục không sinh, Tâm ái dục không sinh, ai chi phối được mình". Điều này minh chứng người hiểu đạo thực sự chính là người nắm rõ chân lý cuộc đời, xứng đáng là đạo sư của cuộc đời, không mơ mơ hồ hồ, điên điên đảo đảo như kẻ say sưa với đời chỉ để muôn niên làm kiếp nô lệ cho cái gọi là đời. Bài kệ trên cho thấy chỗ hiểu sâu sắc về khổ và lạc ở cuộc sống của người trí tuệ đã khiến họ tự tại an lạc thoát khỏi mọi kiềm tỏa của thế gian cũng như chỗ ngây ngô dại khờ mắc bẫy thế gian để bị khống chế giam cầm trong khổ não luân hồi không có ngày ra. Đời đã không nắm vững làm sao hiểu nổi đạo, và trái lại khi đạo còn thấu triệt nói chi đến đời.

Nhãn xứ văn thanh.

Biết bao vị cao tăng đặc biệt là hàng Duyên giác và thiền sư giác ngộ nhờ vào vô tình thuyết pháp. Đức Phật trong nhiều đời tu hành cũng ngộ được vô tình thuyết pháp như trong một kiếp quá khứ làm quốc vương, khi cùng thị nữ và quần thần dạo chơi trong vườn thượng uyển, nhác thấy một cây đào đầy quả chín mọng nổi bật giữa các cây khác, mọi người xúm lại tranh hái, hậu quả là cây đẹp nhất này trở nên xác xơ tiêu điều trông thảm hại nhất trong vườn, nhà vua chứng kiến (nhãn xứ) cảnh này và nghe được bài pháp (văn thanh) bất cứ người nào hay vật gì được coi quý và là chỗ tranh giành đều có chung một kết quả thảm hại và bị vứt bỏ không tiếc thương khi quả phúc tàn phai, vương vị và thân ta giống như cây này bao kẻ xúm xít vây quanh tới khi thân tàn hay vương vị không còn chúng sẽ vứt bỏ để tìm chỗ mới. Nhà vua bèn quyết định bỏ cung điện vào núi rừng tu tập.

Khi hành hương chiêm bái các thánh tích hoành tráng một thời giờ chỉ còn nền móng hoang tàn. Một ý tưởng thoáng hiện nhận ra hoành tráng chẳng qua do quá khứ được thời thời thường phất thức, giờ đây mọi phất thức ấy đã theo quá khứ trôi mất, trong quãng thời gian lâu dài không được thường phất thức khiến hoành tráng biến thành hoang phế. Xem ra thường phất thức quả là hệ trọng trong sự tu dưỡng, lại chả phải chỉ có cảnh mới hoành tráng hay hoang tàn mà tâm chúng sinh cũng vậy, nếu thường phất thức thì tâm hoành tráng bằng không thì hoang tàn như bãi rác của tham si.

Thường phất thức.

Phàm nhân thấy sắc nghe thanh thường khởi tham sân khiến tâm ô nhiễm bốc mùi phiền não, trải qua bao kiếp tâm chúng sinh thành bãi rác tham sân bát ngát không thể dọn sạch trong vài đời, cần phải ra sức nỗ lực dọn dẹp trong rất nhiều đời, nếu mỗi đời mỗi dẹp tâm họ sẽ thơm tho thanh tịnh, nay do buông lung tham sân nhiều đời khiến sự dọn dẹp trở nên gay go nan hành, và rồi đôi khi mượn cớ nan hành mà buông bỏ nỗ lực dọn dẹp, sự bừa bãi tham sân trong nhiều đời đó đã tạo nên lực vô minh ngu ác có hệ thống và được tổ chức tinh vi truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác khiến đức Phật phải than là cương cường chúng sinh. Chính báo và y báo đều ô nhiễm nên thế gian khác nào bãi rác bao la vô tận của tham sân, chúng sinh là kẻ sinh sống trong đám rác rưởi ấy. Khi được chỉ bày nơi chốn tốt hơn, phàm phu tự nhủ bỏ bãi rác này ta biết lấy gì để sống, nó là tất cả những gì ta có nên nhất quyết không lìa bãi rác.

Khác với thế nhân Thánh chúng trên tịnh độ phàm kiến sắc văn thanh đều niệm Phật pháp tăng là do nơi bất luận thấy nghe mọi thứ đều nghe được Phật pháp trong ấy. Nghe thì từ hữu tình như nghe Phật thuyết pháp cho đến nghe chim hót, và từ vô tình như tiếng xào xạc của cây lá lẫn tiếng róc rách của nước chảy thảy đều đang diễn dương Phật pháp nên nhất tâm niệm Phật pháp tăng. Thấy thì từ thấy Phật và thánh chúng cho đến hàng cây thất bảo, hồ nước tám công đức cũng đều nghe được diệu pháp qua các sự thấy này. Đây là thật trí (huệ) nên hằng nghe thật pháp (định), và pháp nào cũng là Phật pháp (thanh tịnh giới). Tất cả đều là một tâm thanh tịnh và đều từ một tâm thanh tịnh ra, nên đức Phật mới dạy "tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh", tâm tịnh ắt Phật độ tịnh bởi lẽ tâm với Phật độ là một, hay như lục tổ Huệ Năng nói "công đức từ pháp thân sinh". Chính báo thanh tịnh hẳn nhiên y báo cũng thanh tịnh trang nghiêm.

Hai cõi tịnh và uế độ chỉ khác ở điểm thường phất thức mỗi ngày đều lau chùi và không lau chùi hoặc quá độ rồi mới lau chùi.

Bản lai vô nhất vật.

Đành là bản tâm vốn sẵn thanh tịnh, nhưng do tăm chúng sinh bị ô nhiễm bởi trần lao nên cần phải quét sạch bụi ấy đi thì thanh tịnh sẽ hiển bày, thế nên đã nhận phàm phu tham si là ngã nếu muốn sinh giới định huệ giác ngộ tất cần phải quét trừ bụi tham si. Quét dọn hay nhất là nhận ra thật pháp, nói cách khác là nhận ra bản tâm tức bản lai thanh tịnh thì không còn cần đến quét dọn nữa. Sở dĩ cần quét dọn là do dụng tâm ô nhiễm, nếu nhận ra tự tâm bản lai thanh tịnh thì toàn bộ tâm nhiễm kia bị dọn dẹp một lần không còn dấu vết, đó là sự giác ngộ mà Huệ Năng đã biến một anh thanh niên cư sĩ mù chữ trở thành tổ sư thứ sáu sáng chói trong các tổ sư ở Đông độ, ngài đã diễn bày sự giác ngộ ấy qua hai câu kệ "bản lai vô nhất vật, hà xứ nhạ trần ai" xưa nay không một vật, bụi bám vào đâu được. Không một vật ý chỉ cho thật pháp vốn không, bụi không có nơi bám là do tự tính thanh tịnh.

Như quả chân thật nhãn xứ văn thanh, thì bất luận thấy nghe thứ gì đều nhận ra thật pháp tức tự tính bản lai vốn vô nhất vật, nên tự tính tức bản tâm này không hề bị ô nhiễm vì vậy bụi nào phủ được đây.

Tổ sư thiền của lục tổ Huệ Năng chủ trương nhận ra bản tâm thì thành Phật, Như lai thiền của ngài Thần Tú chủ trương cần phải luôn dọn sạch mọi tham ái si mê không để chúng che mờ bản tâm thì thành Phật. Vì vậy Tổ sư thiền còn gọi là thiền đốn ngộ và Như lai thiền là tiệm ngộ. Nhưng đốn tiệm chẳng qua là do phân biệt bằng tâm chúng sinh một thứ chúng sinh tri kiến mà thôi, trên mặt chân lý thì chẳng hề có đốn tiệm.

Tổng kết.

Tựu chung người học đạo cần tu học pháp "nhãn xứ văn thanh" để được học Phật nơi bất cứ gì thấy nghe và cả không thấy nghe, không dùng thấy nghe để thương ghét, thương ghét là bụi che mờ Phật pháp, hãy thấy nghe chính pháp nơi mọi thứ, hễ nghe nhận ra chính pháp thì các thứ bụi thương ghét, vui buồn, thủ xả nọ sẽ không bám vào tâm được, nhờ thế mà tâm thanh tịnh. Ngồi thiền hay niệm Phật chủ yếu để tịnh tâm, song nếu thường thấy nghe phân biệt thì tâm thường mê loạn vì bụi trần bám quá nhiều, khi ấy tọa thiền niệm Phật vẫn mê loạn như thường. Trong sinh hoạt thấy nghe hàng ngày đều nghe nhận chính pháp thì tâm sẽ luôn thanh tịnh, khi ấy cần gì đến niệm Phật hay thiền tọa nữa. Công phu này là lập trường "đi đứng nằm ngồi đều là thiền định" nào phải chỉ ngồi mới là thiền, có lẽ đây mới đích thực là tứ tu mà tịnh môn chủ xướng gọi là cung kính tu, vô gián tu, trường thời tu, và vô dư tu đúng nghĩa.

VTA 13.7.2022