Chỉ có Như Lai mới chứng đắc quả vị niết bàn cứu cánh mà thôi.  Nhị thừa chấp không, phá có, đó là sự tịch diệt giả danh.  Tuy bồ tát phát sinh trí tuệ vô lậu chân thật, nhưng còn phải phá bỏ từng phần vô minh; huống chi những người căn cơ kém cỏi, sự giải ngộ non kém như một giọt nước trong biển cả bao la mà vội vàng khoe khoang trí tuệ ngông cuồng.  Họ quyết đoán rằng không còn thọ thân ở đời sau nữa.  Họ cho phóng túng là tự tại, cho tu hành là trói buộc.  Đó là tự giết chết mình cũng là giết chết  người khác, cũng như rượu độc.  Khi Phật còn ở thế gian, có một thầy tỳ kheo đắc tứ thiền sinh tâm tăng thượng mạn cho rằng đã đắc quả a la hán, nên không còn tinh tiến tu hành nữa.  Đến khi lâm chung, vị ấy thấy thân trung ấm trong tứ thiền, liền phát sinh tà kiến , nói rằng: “Không có niết bàn, Phật đã dối gạt ta.”  Vì khởi ác kiến sai lầm như vậy, nên khi mất thân trung ấm trong tứ thiền, liền hiện thân trung ấm trong địa ngục A Tỳ.  Khi qua đời liền rơi vào địa ngục A Tỳ.  Tỳ kheo ấy có trì giới, có toạ thiền, nhưng vì khởi một niệm sai lầm cho rằng chứng quả, cho nên rơi vào địa ngục đen tối.  Người tu thiền ngày  nay được chút ít cho là đủ, sinh tâm buông lung không nghiêm trì giới luật thì quả báo ác kia không biết sẽ như thế nào?  Người xưa nói: “Không sinh về Tịnh Độ thì sinh về cõi nào?”.  Con đường tu tập trải qua ba vô số kiếp còn xa xôi diệu vợi.  Đối với các pháp môn khác đã có biết bao nhiêu người thoái thất đạo tâm!  Vì vậy, xưa nay, các bậc thánh đều chủ trương pháp môn Tịnh Độ.  Nay tôi trình bày sáu loại để làm kim chỉ nam:

1/  Bồ tát sinh vào cõi người.
2/  Bồ tát sinh vào cõi trời Đâu Suất.
3/  Bồ tát sinh vào cõi trời Trường Thọ.
4/  Bồ tát sinh ở ngoài ba cõi.
5/  Khi mới phát tâm, bồ tát sinh vào nhà của Như Lai.
6/  Khi tu tập đủ ba vô số kiếp, bồ tát sinh vào mười phương thế giới để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh.

1/ Bồ tát sinh vào cõi người

Kinh Bát nhã ghi: “Có bồ tát ở trong cõi người, đến khi đời sống kết thúc, bồ tát ấy sinh trở lại cõi người nữa”. Trừ bậc bất thoái chuyển ra, bồ tát căn cơ ngu độn không thể tương ưng nhanh chóng với bát nhã ba la mật, cũng không thể hiện tiền nhanh chóng với các môn đà la ni, các môn tam muội.  Ở trong cõi người như ở trong nhà lửa, vì có trăm thứ khổ cùng nhau trói buộc; chỉ có đại bồ tát ở trong cõi người mới không bị ô nhiễm, như con ngỗng bơi trong nước mà không bị thấm ướt.  Nếu tiểu bồ tát không gieo trồng căn lành sâu dày thì tiến một bước mà thoái lui một trượng, làm sao được tam muội?  Như Xá Lợi Phất tu tập đạo bồ tát trải qua sáu mươi kiếp, đến khi tu hạnh bố thí, bấy giờ có kẻ ăn mày đến xin con mắt, Ngài liền móc một con mắt đưa cho.  Ở trước mặt Xá Lợi Phất, kẻ ăn mày ngửi con mắt, phun nước miếng, vứt xuống đất, lấy chân chà đạp con mắt.  Xá Lợi Phất suy nghĩ: “Những kẻ tệ ác như thế thì khó có thể độ họ, chi bằng ta điều phục chính mình, mau mau giải thoát cái khổ sinh tử”.  Suy nghĩ xong, Ngài lui sụt đạo bồ tát mà hướng về tiểu thừa.

– Lại như tiên nhân Phi Hành bị mất thần thông, vì xúc chạm tay của Vương phu nhân.

– Thuở xa xưa, Thích Ca Văn bị thuốc hoan hỷ hoàn làm mê hoặc, nên đắm say dâm nữ.

Các bậc thánh hiền mà còn như vậy, huống chi người mới phát tâm.  Đâu bằng chuyên niệm A Di Đà thì tam muội hiện tiền nhanh chóng, gởi thân bên cõi Liên Bang thì vĩnh viễn xa lìa tham dục !  Luận ghi: “Vì bồ tát không thấy Phật hiện tại, cho nên tâm tư ám độn.  Bồ tát nên thường gần gũi Phật, vì bậc lợi căn gần Phật thì nhanh chóng được bát nhã”.

2/ Bồ tát sinh vào cõi trời Đâu Suất

Bồ tát còn tu tập một đời nữa thành Phật đều sinh vào cõi trời Đâu Suất.  Hành giả muốn theo bồ tát ấy thì cũng nên cầu sinh về cõi trời Đâu Suất.  Luận Thập nghi ghi: “Thiên cung Đâu Suất là cõi dục, có nhiều kẻ lui sụt.  Cõi ấy còn có người nữ làm lớn mạnh tâm tham đắm của hành giả.  Các thiên nữ xinh đẹp tuyệt vời làm cho chư thiên phải đắm say.  Sinh về Đâu Suất, tự mình không thể buông bỏ các dục, không bằng sinh về tịnh độ của A Di Đà toàn là bạn lành thanh tịnh tu pháp đại thừa; phiền não, nghiệp ác không bao giờ khởi dậy, nên hành giả dễ bước lên địa vị vô sinh, như bồ tát Sư Tử Giác, từ khi sinh về Đâu Suất, vì ưa thích thiên nhạc nên bồ tát không thấy được Di Lặc.  Các vị tiểu bồ tát còn bị đắm nhiễm ngũ dục, huống chi kẻ phàm phu”.  Kinh Di Lặc thượng sinh ghi: “Hành giả đi sâu vào chánh định thì  mới được sinh về Đâu Suất”, nghĩa là bồ tát Di Lặc không có phương tiện tiếp dẫn.  Vậy thì nội viện Đâu Suất còn không cầu sinh, huống chi cầu sinh về các cõi trời Dục giới có nhiều loại dục tuyệt diệu.  Đâu có nên khát nước mà lại đi vào sa mạc, cũng đâu có nên muốn tránh sự chết chìm mà lại tình nguyện chìm xuống đáy biển sâu.

3/ Bồ tát sinh vào cõi trời Trường thọ

Luận Trí độ ghi:  “Bồ tát không có phương tiện nhập vào sơ thiền cho đến không có phương tiện tu tập sáu pháp ba la mật.  Khi nhập vào sơ thiền, bồ tát không nhớ nghĩ đến chúng sinh.  Khi trụ, khi xuất sơ thiền cũng không nhớ nghĩ đến chúng sinh.  Vì bồ tát chỉ tham đắm thiền vị, cho nên không hoà hợp được bát nhã ba la mật với sơ thiền.  Vì tâm từ bi, công đức kém cỏi nên bồ tát ấy bị quả báo của sơ thiền lôi kéo sinh vào cõi trời Trường Thọ.  Cõi trời này không phải là cõi Hữu Tưởng, cũng không phải là cõi Vô Tưởng.  Những vị ấy sống lâu đến tám vạn đại kiếp”.  Hoặc có người nói: “Tất cả định vô sắc đều gọi là cõi trời Trường Thọ, vì không có hình tướng nên không thể giáo hoá, không thể nhậm vận đắc đạo, thường là chỗ của phàm phu”.  Hoặc có người nói: “Cõi trời Vô Tưởng gọi là cõi trời Trường Thọ, cũng không thể nhậm vận đắc đạo”.  Hoặc có người nói: “Từ sơ thiền đến tứ thiền, trừ cõi trời Tịnh Cư ra, đều là cõi trời Trường Thọ.  Những vị ấy khó phát sinh tâm lành, vì tham đắm tà kiến”.  Kinh ghi: “Phật hỏi các thầy tỳ kheo:

– Đất trên đầu móng tay của ta nhiều hay đất trên quả địa cầu này nhiều?

Các thầy tỳ kheo bạch Phật:

– Bạch đức Thế Tôn, đất ở trên quả địa cầu này rất nhiều, không thể nào ví dụ cho được.

Phật dạy:

– Ở trên cõi trời, chư thiên mệnh chung sinh trở lại cõi người cũng như đất trên đầu móng tay của ta, còn chư thiên mệnh chung rơi vào địa ngục cũng như đất trên quả địa cầu.  Tại sao vậy?  Vì họ vốn đã phát tâm bồ đề vô thượng, hoặc có vị ở trong thiền định chứa các phước đức mới được sinh trở lại cõi người nghe Phật pháp”.  Nếu là người mới phát tâm cầu sinh về Tịnh Độ thì thường nghe được pháp, tiến thẳng đến địa vị bất thoái chuyển, đâu có mắc phải những lỗi lầm như thế.

4/ Bồ tát sinh ở ngoài ba cõi

Bồ tát sinh ở ngoài ba cõi có hai vị thứ:

1/  Ba bậc bồ tát trong nhị thừa chiết phục được phiền não hiện hành, xả bỏ thân phần đoạn sinh tử mà sinh ở ngoài ba cõi.  Vì tâm bi, trí hẹp hòi, đối với việc trang nghiêm cõi Phật, lợi ích chúng sinh, những vị ấy không sinh tâm ưa thích, nên bị Như Lai quở trách.  Những vị ấy nếu  không chuyển tâm tu tập các hạnh lục độ thì không bao giờ nhập vào biển trí đại thừa.

2/ Bồ tát pháp thân

Kinh Bát nhã ghi:  “Phật bảo Xá Lợi Phất:  Có đại bồ tát được sáu thần thông mà không sinh vào cõi Dục, cõi Sắc, cõi Vô Sắc.  Từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, bồ tát ấy cung kính, cúng dường, tôn trọng, tán dương các đức Phật.  Xá Lợi Phất, có đại bồ tát vận dụng thần thông tham quan từ cõi Phật này đến cõi Phật khác, mà trong các cõi nước ấy không có thanh văn, bích chi Phật cho đến danh hiệu nhị thừa.  Xá Lợi Phất, cõi nước ấy chính là cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ”.

Giải thích rằng bồ tát có hai hạng:

a/ Bồ tát sinh thân.
b/ Bồ tát pháp thân.

Bồ tát pháp thân đã dứt hết kiết sử, được sáu thần thông.  Còn bồ tát sinh thân không dứt hết kiết sử hoặc ly dục, nên được năm thần thông hoặc sáu thần thông, không sinh vào ba cõi mà đến thế giới nào cũng đều là bậc thanh tịnh nhất thừa, sống lâu vô lượng vô số kiếp.  Bồ tát sinh vào cõi kia ưa thích chất chứa công đức của các đức Phật.  Nên biết , bồ tát đầy đủ sáu thần thông mới được sinh về cõi Phật Vô Lượng Thọ.  Còn kẻ phàm phu nhờ năng lực bản nguyện của Phật tiếp nhận được vãng sinh về cõi Phật Vô Lượng Thọ.  Thật là hiếm có làm sao!

Vậy thì niệm lực không thể nghĩ bàn, vì trong niệm nào cũng đều đầy đủ sáu thần thông.

5/ Khi mới phát tâm, bồ tát sinh vào nhà của Như Lai

Bậc thượng thượng căn thì căn bản trí liền hiện bày, còn người mới phát tâm thì bước lên địa vị thập trụ mới ngang bằng với các đức Phật.  Kinh Hoa nghiêm ghi: “Có một hạng bồ tát tu tập sáu pháp ba la mật trải qua trăm ngàn ức trăm triệu kiếp mà không sinh vào nhà của Như Lai.  Bồ tát ấy vẫn là bồ tát giả danh, vì tuy thấy Phật tánh nhưng chưa sáng tỏ được trí nghiệp”.  Luận Trưởng giả quyết nghi ghi: “Các vị sơ phát tâm trụ rõ ràng là từ thiền định mà hiển bày được môn Trí tuệ căn bản không.  Khi quét sạch mây mù thì trí tuệ bừng sáng, mới sinh vào nhà trí tuệ của Như Lai, đó là cư trú vào chỗ cư trú của Phật.  Cho nên được pháp môn Ánh sáng trí tuệ thấy khắp tất cả cảnh giới của các đức Phật được ức niệm.  Do sự kiến đạo này nên không có kiến chấp về thời gian, không gian”.  Trải qua năm giai vị tu chứng (Tư lương vị, Gia hành vị, Kiến đạo vị, Tu đạo vi, Cứu cánh vị), hành giả mài giũa tập khí, tăng trưởng tâm từ bi, gọi là tu đạo vị.  Do vậy nói rằng khi mới phát tâm liền thành chánh giác thì gọi là tu đạo vị, như đồng tử Thiện Tài đi về phương Nam cầu các bậc thiện tri thức.  Các vị ấy đều nói: “Trước kia, ta đã phát tâm bồ đề vô thượng.  Nói rằng làm sao học cái hạnh của bồ tát?  Làm sao tu cái đạo của bồ tát?  Không nói Phật làm lớn mạnh Phật đạo, không nói căn bản trí nhờ  định hiển bày mà nói vô tác, vô tu.  Người nào học cái hạnh của bồ tát thì căn bản trí tự sáng, tự hiện.  Nếu không được cái thể của chánh giác thì các hành đều là vô thường, đều là nghiệp báo sinh tử trong cõi trời, cõi người mà thôi”.  Lại nói:  “Trải qua một đời hiện tại này, khi phát tâm tương ưng, hành giả được chánh trí.  Ngay nơi thân phần đoạn, hành giả thành tựu tâm quán hạnh, gồm cả sự tu tập nghiệp lành.  Đến đời sau, hành giả vào thân biến dịch”.  Bởi lẽ, cái thân phần đoạn của đời hiện tại  này là do sự tạo nghiệp của đời quá khứ.  Thân phần đoạn của đời này mà vận dụng trí tuệ để tu quán hạnh thì đến đời sau, hành giả được thần thông biến hóa, như người tu mười nghiệp lành được sinh lên cõi trời, được nghiệp báo thần thông; như loài rồng , loài quỷ có sức mạnh phi thường, chúng còn nghiệp ác vô minh mà vẫn có thần thông; huống chi bậc có đạo nhãn mở bày, có năng lực căn lành của tâm từ, cho nên có diệu dụng thần thông , trí tuệ.  Suốt đời, những vị ấy tu tập mà đến đời sau không được công dụng lớn lao của thần thông sao?  Tông cảnh lục ghi: “Khi mới phát tâm thì thành Phật tức là nói các công đức sẵn đủ”.  Kinh ghi: “Đời thứ nhất, đồng tử Phổ Trang Nghiêm nghe được điều lành, huân tập điều lành.  Đời thứ hai, đồng tử thành tựu kiến giải và thực hành của các điều lành ấy.  Đời thứ ba, đồng tử bước vào biển công đức của Phật”.  Đồng một duyên khởi mà ba đời này khác nhau chỉ do một niệm, như  người đi xa xôi đến được mục tiêu là do bước đầu tiên.  Thế nhưng , từ bước đầu tiên này đến được mục tiêu thì không thể nói là không nhờ những  bước sau.  Nói đồng tử được vào biển công đức của Phật cũng là nói đồng tử gieo trồng căn lành đã lâu xa.

Hỏi: Gieo trồng căn lành trải qua thời gian lâu dài mới được thành Phật.  Tại sao nói một niệm thành Phật?

Đáp: Nói gieo trồng căn lành trải qua thời gian lâu dài tức là nói thuộc về giáo pháp tam thừa, vì từ tam thừa bước vào nhất thừa chỉ là một niệm, khi mới tu tập liền đầy đủ cả.  Kinh ghi: “Khi mới phát tâm liền thành chánh giác”, như muôn ngàn dòng sông cuối cùng đều tuôn chảy về biển cả.  Khi một giọt nước các dòng sông chảy vào biển cả, vừa vào biển cả thì một giọt nước sông cũng liền thành nước biển, không có trước sau.  Trăm dòng sông sâu khác cũng không bằng một giọt nước của dòng sông chảy vào biển cả.  Cũng vậy, tam thừa dù tu nhiều kiếp nhưng cũng không sánh bằng một niệm của nhất thừa.  Lại nữa, thời gian dài ngắn này cũng không nhất định, hoặc một niệm là vô lượng kiếp.  Thập huyền môn ghi: “Thời gian, không gian đều vô ngại”.  Còn đại thừa nói một niệm thành Phật có hai ý nghĩa:

– Một là hội các duyên để vào thật, tánh không có nhiều ít, cho nên nói một niệm thành Phật.

– Hai là tu tập các hạnh vừa viên mãn được cái niệm cuối cùng gọi là một niệm thành Phật, như người đi xa muôn dặm cho bước cuối cùng là bước đến nơi.

Nếu nhất thừa nói một niệm thành Phật thì đại thừa nói một niệm cuối cùng thành Phật, tức là đại thừa nhập vào nhất thừa, vì niệm cuối cùng tức là niệm đầu tiên, mà niệm đầu tiên tức là thành Phật.  Tại sao vậy?  Vì nhân quả tương tức, vì đồng thời tương ưng.  Tuy một niệm thành Phật tức là ngang bằng với địa vị Phật nhưng vì cứu cánh chưa viên mãn cho nên có vô vàn sai biệt,  như người mới bước chân ra khỏi cửa và một người du hành đã lâu nơi đất khách quê người, tuy đồng ở trong hư không nhưng sự xa, gần rất thiên sai vạn biệt.  Do vậy, năm giai vị tu chứng là thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi hướng, thập địa, giai vị nào cũng đều nói thành Phật mà lại phân rõ chỗ cạn, sâu kia.  Trong đây, hành giả phải khéo suy nghĩ kỹ điều đó.  Còn như lời hai vị đại sĩ nói thì biết bậc ngộ đạt trong Thiền môn không được phế bỏ tất cả hạnh, tiêu mòn tập khí, kiết sử từ vô thỉ.  Ôi! Ở đời ác ô nhiễm này, hễ tiến được một bước thì lui sụt đến muôn bước.  Nếu hành giả không được gần Phật thì phiền não nhơ bẩn tập hợp, hành giả tu hành làm sao thành tựu?  Khi đồng tử Thiện Tài mới phát tâm ngộ đạo, tỳ kheo Đức Vân dạy đồng tử tu tập pháp  môn Ức niệm tất cả các đức Phật.  Sau khi bước vào lầu các của Di Lặc, bồ tát Phổ Hiền vì đồng tử mà phát mười điều nguyện lớn để tiếp dẫn chúng sinh về Cực Lạc.  Đây là khuôn vàng thước ngọc của tất cả các đức Như Lai vào đạo.  Kinh Hoa nghiêm nói rằng, môn Nhất chân pháp giới không đồng với các giáo khác có quyền có thật. Những người không tin kinh này là nhất xiển đề.  Dù Phật Thích Ca có tán dương, bồ tát Phổ Hiền có khuyên nhủ, khích lệ, bồ tát Di Lặc có chứng đắc,  nhưng đối với những người này cũng vô ích mà thôi!

6/ Khi tu tập đủ ba vô số kiếp, bồ tát sinh vào mười phương thế giới để làm lợi ích cho tất cả chúng sinh

Khi công đức viên mãn thì tự nhiên bồ tát có nghiệp không thể nghĩ bàn, có thể ứng hiện vào mười phương thế giới để làm lợi ích cho chúng sinh.  Luận Khởi tín ghi: “Bồ tát chứng phát tâm, trong giây phút có thể đến mười phương thế giới không còn sót để cúng dường các đức Phật, cung thỉnh các đức Phật vận hành bánh xe pháp, chỉ vì vạch lối chỉ đường để làm lợi ích cho chúng sinh chứ không câu chấp vào văn tự”.  Đối với chúng sinh khiếp nhược, bồ tát chỉ bày đường lối tu tập vượt lên trên các địa vị, nhanh chóng thành tựu chánh giác.  Đối với chúng sinh lười biếng, kiêu mạn, bồ tát nói rằng: “Trong vô lượng vô số kiếp, ta sẽ thành Phật đạo”.  Nhưng thật ra, bồ tát gieo trồng căn tánh , v.v… phát tâm bình đẳng, đối tượng chứng đắc cũng bình đẳng , không có một pháp nào siêu việt cả, vì tất cả bồ tát tu tập đều trải qua ba vô số kiếp.  Luận Trí độ ghi: “Ở quá khứ của Thế Tôn thích Ca: từ thời Phật Thích Ca Văn đến thời Phật Thi Khí là một vô số kiếp, từ thời Phật Thi Khí đến thời Phật Nhiên Đăng thọ ký là hai vô số kiếp, từ thời phât Nhiên Đăng đến thời Phật tỳ Bà Thi là ba vô số kiếp”.  Luận Bà sa ghi: “Trải qua ba vô số kiếp tu hạnh lục độ, một trăm kiếp gieo trồng cái nhân tướng hảo.  Về sau mới thành tựu ngũ phần pháp thân”. Duy Thức nói: “Trước sơ địa là trải qua một vô số kiếp, từ sơ địa đến thất địa là vô số kiếp thứ hai, từ bát địa đến đẳng giác là vô số kiếp thứ ba, về sau mới được pháp thân cứu cánh”.

HỏiHoa nghiêm hiệp luận của trưởng giả Lý Thông Huyền ghi: “Không lìa một niệm mà trải qua vô số kiếp”.  Đâu được chấp chặt số kiếp lâu dài, trái với đệ nhất nghĩa?

Đáp: Hoa nghiêm hiệp luận chỉ nói ba vô số kiếp vốn không là nói thời gian không có bản chất chân thật, chứ chẳng phải  nói không có thời gian, như hiện tại con người có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.  Nói sáu căn vốn không, không phải là phế bỏ sáu căn, cũng như đứa bé thấy bóng trăng trong nước, nó sinh tâm ưa thích muốn chụp bắt bóng trăng, nhưng mà bóng trăng không có bản chất chân thật.  Người trí bảo nó rằng, mắt có thể trông thấy bóng trăng kia, chứ không bao giờ chụp bắt được.  Do đó, chỉ cần phá đối tượng chấp, chứ không cần phá đối tượng thấy.  Hạnh nghiệp của các đức Phật, của các vị bồ tát trong ba đời cũng như vậy.  Tuy tất cả đều không có bản chất chân thật, nhưng không phải là không tu hành.  Hơn nữa, Long Thọ, Mã Minh là hai vị đại bồ tát, cũng là tổ được truyền y bát trong Thiền môn, chẳng lẽ các Ngài cam chịu dối mình, dối người và đánh lừa người đời sau sao?  Phải biết, việc sinh tử thì vô cùng lớn lao, không  phải hiểu biết một phần, thực hành nửa vời mà có thể vượt thoát hố thẳm sinh tử.

Luận Trí độ ghi: “Có bồ tát căn tánh linh lợi, tâm được kiên cố.  Trước khi phát tâm, bồ tát ấy đã chất chứa vô lượng phước đức, trí tuệ.  Bồ tát gặp Phật, nghe pháp đại thừa, phát tâm bồ đề vô thượng, lập tức tu tập sáu pháp ba la mật, bước vào địa vị bồ tát và chứng đắc địa vị bất thoái chuyển”.  Sở dĩ như vậy là tại sao?  Vì trước kia, bồ tát ấy đã chất chứa vô lượng phước đức, vì căn cơ linh lợi, tâm được kiên cố, từ Phật nghe pháp, như người đi xa muôn dặm hoặc đi bằng cách cưỡi dê, hoặc cưỡi ngựa, hoặc vận dụng thần thông.  Người cưỡi dê đi lâu lắm mới đến chỗ, người cưỡi ngựa đến chỗ nhanh hơn người cưỡi dê.  Còn người vận dụng thần thông vừa khởi ý thì giây phút liền đến.  Vậy thì không được hỏi rằng, khoảng thời gian khởi ý, tại sao liền đến?  Cái tướng của thần thông là như thế, không nên sinh tâm nghi ngờ gì nữa.  Bồ tát cũng như vậy, khi mới phát tâm bồ đề vô thượng liền bước vào địa vị bồ tát.  Có bồ tát mới phát tâm, tâm đầu tiên tuy tốt nhưng về sau xen lẫn những ý niệm ác.  Bồ tát thường nghĩ: “Ta cầu Phật đạo, nguyện đem công đức hồi hướng quả vị bồ đề vô thượng”.  Vị bồ tát này trải qua vô lượng vô số kiếp hoặc được, hoặc không được quả vị bồ đề vô thượng, là vì nhân duyên phước đức ở đời trước kém cỏi mà lại độn căn, ý chí không vững chắc, như người đi bằng cách cưỡi dê.  Có bồ tát mà đời trước có chút ít căn lành, phước đức, phát tâm tu tập dần dần sáu pháp ba la  mật; hoặc ba, hoặc mười, hoặc một trăm vô số kiếp, bồ tát ấy cũng được quả vị bồ đề vô thượng, như người đi bằng cách cưỡi ngựa dĩ nhiên sẽ đến nơi.  Lại có bồ tát biết tiệm tu, đốn chứng, các pháp bất đồng.  Bồ tát ấy mong muốn địa vị Phật thì được một cách nhanh chóng, như người đi bằng cách vận dụng thần thông.

Tiên đức nói: “Tuy tánh giác ngang bằng Phật, nhưng chưa đến quả vị Phật thì chưa phải là cứu cánh”.  Do vậy, hành giả tỏ ngộ quyết cầu sinh về Tịnh Độ, như pháp tu hành để tránh đưa đến tình trạng sa ngã.  Đợi đến khi nhẫn lực kiên cố, hành giả bước vào đời ô nhiễm để làm lợi ích cho chúng sinh.  Như vậy mới là quả Phật cứu cánh.
 

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
tiểu thừa
(小乘) Phạm: Hìna-yàna. Cũng gọi Thanh văn thừa. Đối lại: Đại thừa, Bồ tát thừa. Tiểu thừa nghĩa là cổ xe nhỏ hẹp, ví dụ giáo pháp cạn hẹp chỉ có thể đưa những căn cơ thấp kém đạt đến tiểu quả, tức giáo, lí, hành, quả sở tu và căn cơ năng tu đều nông cạn, yếu kém. Danh từ Tiểu thừa vốn là lời chê bai mà tín đồ Phật giáo Đại thừa dùng để gọi Phật giáo nguyên thủy và Phật giáo bộ phái, về sau, giới học thuật dùng theo chứ hoàn toàn không có ý khen chê. Giáo nghĩa Tiểu thừa chủ yếu lấy việc cầu giải thoát cho chính mình làm mục tiêu, cho nên thuộc về đạo Thanh văn, Duyên giác tự độ (tức diệt trừ phiền não, chứng quả, khai ngộ), khác với đạo Bồ tát Đại thừa kiêm cả 2 việc lợi mình, lợi người. Trong các kinh luận Đại thừa có sự so sánh giữa Tiểu thừa và Đại thừa như sau: 1. Theo luận Đại trí độ quyển 4 và 18 thì Thanh văn thừa nhỏ hẹp, Phật thừa rộng lớn; Thanh văn thừa chỉ làm lợi cho mình, Phật thừa mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh; Thanh văn thừa chỉ nói chúng sinh không, Phật thừa thì nói cả chúng sinh không và pháp không; Tứ thiện căn vị: Noãn, Đính, Nhẫn, Pháp là sơ môn của Tiểu thừa; Bồ tát pháp nhẫn là sơ môn của Đại thừa; trong pháp Thanh văn không bàn về tâm đại từ bi, trong pháp Đại thừa thì thường xem trọng tâm đại từ bi; trong pháp Thanh văn không có tâm muốn biết rộng các pháp, trong pháp Đại thừa muốn biết tất cả pháp; công đức của pháp Thanh văn có hạn lượng, công đức của pháp Bồ tát thì không có hạn lượng. 2. Theo luận Nhập đại thừa quyển thượng, tu học Thanh văn chỉ đoạn kết chướng, quán hành vô thường, nghe pháp từ người; Bồ tát thì đoạn trừ tất cả tập khí nhỏ nhiệm, cho đến quán tất cả pháp không, chẳng nghe pháp từ người, được trí tự nhiên và trí vô sư. Sự giải thoát của Thanh văn gọi là Ái tận giải thoát, chứ không phải Nhất thiết giải thoát, chỉ là tạm lập ra để độ những chúng sinh độn căn tiểu trí; còn giải thoát của Đại thừa thì đoạn tận gốc tất cả tập khí phiền não, được lập ra để độ Bồ tát lợi căn. 3. Phẩm Thành tông trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận thì nêu ra 5 điểm khác nhau giữa Thanh văn thừa và Đại thừa như sau: Phát tâm khác, giáo thụ khác, phương tiện khác, trụ trì khác và nhân duyên khác. Trên đây là những điểm khác nhau giữa Đại thừa và Tiểu thừa được nói trong các kinh luận Đại thừa. Giáo pháp Tiểu thừa được nói trong các kinh A hàm, các luật Tứ phần, Ngũ phần, các luậnPhát trí, luận Bà sa..., cho nên luận Đại trí độ gọi Tiểu thừa là Tam tạng giáo. Trong đó tuy phân chia ra 20 bộ phái như Thượng tọa bộ, Đại chúng bộ khác nhau, nhưng chủ yếu vẫn là thuyết Ngã không pháp hữu, quán lí Tứ đế, chứng quả A la hán, để được vào Niết bàn vô dư. Ở Trung quốc, thuyết Phán giáo rất thịnh hành và các nhà Phán giáo đều chủ trương Tiểu thừa là sơ môn của Phật giáo. Như ngài Cưu ma la thập cho rằng Tiểu thừa chỉ nói Chúng sinh không; các ngài Tuệ quán và Cấp pháp sư chủ trương Tiểu thừa chỉ nói pháp Kiến hữu đắc đạo, cho nên xếp vào Hữu tướng giáo trong Ngũ giáo; ngài Bảo lượng thì phối hợp Tiểu thừa với Nhũ vị trong 5 vị của Niết bàn; ngài Bồ đề lưu chi lập Bán giáo, Mãn giáo và xếp Tiểu thừa vào Bán tự giáo... Ngoài ra còn nhiều thuyết khác, nhưng nói chung thì các nhà đều đồng nhất ở quan điểm cho rằng Tiểu thừa là giáo pháp phương tiện quyền biến, tạm thời được lập ra để độ hàng Thanh văn và xem như là ngưỡng cửa đầu tiên để bước vào tòa nhà Phật giáo. Tuy nhiên, các học giả nghiên cứu Phật giáo thời cận đại thì gọi Tiểu thừa là Nguyên thủy Phật giáo hoặc Căn bản Phật giáo, trong đó chứa đựng nhiều giáo thuyết được trực tiếp khẩu truyền từ đức Thích tôn, còn Đại thừa Phật giáo sau này là giáo thuyết được phát triển rộng ra từ giáo thuyết khẩu truyền ấy. Trong các nước ở Á đông hiện nay thì Tíchlan, Miếnđiện, Tháilan... chuyên truyền bá Phật giáo Tiểu thừa; còn Nepal, Tâytạng, Môngcổ, Trung quốc, Việtnam, Nhậtbản... thì chủ yếu là truyền bá Phật giáo Đại thừa nhưng cũng học tập và nghiên cứu cả Tiểu thừa. [X. luận Phân biệt công đức Q.1; phẩm Vô thượng thừa trong luận Trung biên phân biệt Q. hạ; luận Phật tính Q.1; Đại bát niết bàn kinh tập giải Q.8; Pháp hoa kinh huyền tán Q.1, phần đầu; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.1; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.1; Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí Q. thượng; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1, phần đầu]. (xt. Đại Thừa, Tiểu Thừa Nhị Thập Bộ).
niết bàn
(涅槃) Phạm: Nirvàịa. Pàli: Nibbàna. Cũng gọi: Nê hoàn, Nê viết, Niết bàn na, Niết lệ bàn na, Nê phạ nam, Nặc phạ nam.Hán dịch: Diệt, Tịnh diệt, Diệt độ, Tịch, Vô sinh. Đồng nghĩa: Trạch diệt, Li hệ, Giải thoát. Hoặc gọi là Bát niết bàn (Bát, dịch âm của tiếng Phạm Pari, nghĩa là hoàn toàn, dịch ý là Viên tịch), Đại bát niết bàn (Đại nghĩa là thù thắng, cũng gọi Đại viên tịch). Niết bàn nguyên nghĩa chỉ cho sự thổi tắt, hoặc biểu thị trạng thái thổi tắt, về sau được chuyển dụng để chỉ lửa phiền não thiêu đốt đã bị dập tắt, là cảnh giới hoàn toàn giác ngộ. Cảnh giới này vượt ngoài sinh tử(mê giới), cũng là mục đích thực tiễn cuối cùng của Phật giáo, cho nên được xếp vào 1 trong những pháp ấn, gọi là Niết bàn tịch tĩnh. Về Niết bàn, Đại thừa và Tiểu thừa giải thích có khác nhau: 1. Theo Tiểu thừa(Phật giáo bộ phái): Niết bàn là trạng thái diệt hết phiền não. Trong đó lại chia ra Hữu dư y Niết bàn(gọi tắt: Hữu dư Niết bàn)và Vô dư y Niết bàn (gọi tắt: Vô dư Niết bàn). Hữu dư y Niết bàn nghĩa là phiền não tuy đã bị diệt hết, nhưng nhục thể(tức y thân)tàn dư còn lại; Vô dư y Niết bàn nghĩa là phiền não đã hết mà y thân cũng không còn, tức là trạng thái khôi thân diệt trí. Hữu bộ chủ trương Niết bàn là 1 thực thể tồn tại, nhưng Kinh lượng bộ thì cho rằng Niết bàn chỉ là giả danh của cái trạng thái đã diệt hết phiền não, chứ tự nó không có thực thể. 2. Theo Đại thừa: - Trung luận chủ trương Thực tướng là Niết bàn, Thực tướng cũng tức là tính không, là pháp do nhân duyên sinh ra, bởi thế Niết bàn và sinh tử thế gian không có sai khác. - Kinh Niết bàn quyển 3 (bản Nam) cho rằng Niết bàn có 8 vị: Thường, hằng, an, thanh tịnh, bất lão, bất tử, vô cấu và khoái lạc. Nếu đem 8 vị này phối với 4 đức: Thường, Lạc, Ngã, Tịnh của Niết bàn thì thường và hằng làThường, an và khoái lạc làLạc, bất lão và bất tử làNgã, thanh tịnh và vô cấu làTịnh. - Tông Duy thức chủ trương Niết bàn có 4 loại: Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn, Hữu dư y Niết bàn, Vô dư y Niết bàn và Vô trụ xứ Niết bàn. Trong đó, Bản lai tự tính thanh tịnh Niết bàn(gọi tắt: Bản lai thanh tịnh Niết bàn, Tính tịnh Niết bàn)là chỉ cho Chân như, nghĩa là tướng của hết thảy sự vật xưa nay vốn là lí thể của Chân như vắng lặng. Vô trụ xứ Niết bàn là nương vào trí tuệ mà xa lìa phiền não chướng và sở tri chướng, không bị vướng mắc trong cõi mê sinh tử. Lại vì lòng đại bi nên hoạt động trong cõi mê để cứu giúp chúng sinh mà không bị kẹt nơi cảnh giới Niết bàn. Đây là 1 đặc sắc về Niết bàn của Phật giáo Đại thừa. - Tông Địa luận và tông Nhiếp luận chia Niết bàn làm 2 loại là: Tịnh tính Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn. - Tông Thiên thai thì chia Niết bàn làm 3 loại là: Tịnh tính Niết bàn, Viên tịnh Niết bàn và Phương tiện tịnh Niết bàn (cũng gọi Ứng hóa Niết bàn – đức Phật vì cứu độ chúng sinh nên thị hiện thân giả huyễn, khi nhân uyên độ sinh đã hết thì vào Niết bàn). - Tông Tịnh độ gọi thế giới Cực lạc của đức Phật A di đà là thành Niết bàn, cũng gọi là Vô vi Niết bàn giới. - Hàng Thanh văn, Duyên giác vào Vô dư Niết bàn, sau đó lại hồi tâm chuyển hướng Đại thừa giáo, gọi là Vô dư hoàn sinh. Đồng thời, Niết bàn là xa lìa tướng trạng sai biệt của hết thảy các pháp, nên cũng gọi là Li tướng. [X. kinh Tạp a hàm Q.18; kinh Niết bàn Q.33 (bản Bắc); phẩm Như lai thọ lượng trong kinh Kim quang minh tối thắng vương; luận Đại tì bà sa Q. 28, 33, 34; luận Câu xá Q.6].
a la hán
(阿羅漢) Phạm: Arhat, Pāli: Arahant. Là một trong bốn quả Thanh văn, một trong mười hiệu của Như Lai. Còn gọi là A-lư-hán , A-la-ha, A-ra-ha, A- lê-ha, Át-ra-hạt-đế, gọi tắt là La-hán, Ra-ha. Dịch ý lá Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sinh, Vô sinh, Vô học, Chân nhân. Chỉ bậc Thánh đã dứt hết hai hoặc Kiến, Tư trong ba cõi, chứng được tận trí, xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của người đời.

Quả này chung cả Đại thừa và Tiểu thừa, song thông thường đều giải thích theo nghĩa hẹp, mà chuyên chỉ quả vị cao nhất chứng được trong Phật giáo Tiểu thừa. Nếu nói theo nghĩa rộng, thì chỉ riêng cho quả tối cao trong cả Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 3 chép, thì A-la-hán là quả vị vô học thông cả ba thừa, cho nên là tên gọi khác của đức Phật, cũng tức là một trong mười hiệu của Như Lai. Còn cứ theo luận Câu Xá quyển 24, thì A-la-hán là một trong bốn quả Thanh văn (Tứ sa-môn quả), là quả cao nhất của Tiểu thừa. Có thể được chia làm hai loại:1. A la hán hướng, chỉ những người vẫn còn ở giai đoạn tu hành mà xu hướng tới quả vị A la hán. 2. A la hán quả, chỉ các bậc Thánh đã đoạn trừ hết thảy mọi phiền não, được tận trí và nhận lãnh sự cúng dường của người đời. Những người đã chứng được quả vị này, thì bốn trí dung thông vô ngại và không còn pháp nào phải học nữa, vì thế gọi là Vô học, Vô học quả, Vô học vị; nếu lại hoàn thành tám Thánh đạo từ vô học chính kiến đến vô học chính định, và mười pháp vô lậu vô học giải thoát, vô học chính trí v.v.. thì gọi là Thập vô học chi. (Mười chi vô học). Về nghĩa của từ A la hán, cứ theo luận Đại trí độ quyển 3, Đại thừa nghĩa chương quyển 37 phần đầu, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1, quyển 2, nêu ra ba nghĩa là sát tặc (giết giặc), bất sinh, ứng cúng, gọi là ba nghĩa A la hán, từ xưa đến nay, thuyết này thường thấy nhất. Tức là: 1. Sát tặc (giết giặc): giặc, chỉ các hoặc Kiến và Tư.

 la hán có khả năng đoạn trừ các hoặc Kiến, Tư trong ba cõi; cho nên gọi là giết giặc. 2. Bất sinh, tức vô sinh. A la hán chứng vào Niết bàn, không còn chịu sinh lại trong ba cõi nữa, cho nên gọi là bất sinh. 3. Ứng cúng, A la hán đã được lậu tận, dứt trừ tất cả phiền não, xứng đáng lãnh nhận sự cúng dường của người và trời, cho nên gọi là Ứng cúng. Phạmarhan là chủ từ số ít của chữ Phạmarhat (A la hán), dịch ý là nhận sự cúng dường, nhận sự tôn kính, vì thế, trong ba nghĩa kể trên, nghĩa ứng cúng tương đối thích hợp hơn cả. Ngoài ra, trong Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối, ngài Tuệ viễn dùng bốn nghĩa ứng hóa hết thảy chúng sinh, dứt hết các hoặc, để giải thích A la hán. Lại Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4 thì nêu ra giải nghĩa về năm loại A la hán, như bẻ nát nan hoa bánh xe ba cõi, xa lìa tất cả nghiệp ác, không che giấu v.v... Lại nói về chủng loại A la hán, thì A la hán trong bốn quả Thanh văn, tùy sự khác nhau về căn tính bén nhạy hay chậm lụt, mà có thể chia làm sáu loại. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 5, luận Câu xá quyển 25, thì đó là: 1.

Thoái pháp A la hán, cũng gọi Thoái tướng A la hán, chỉ những người mới chỉ gặp một chút ác duyên đã dễ dàng đánh mất quả vị đã chứng được. 2. Tư pháp A la hán, cũng gọi Tử tướng A la hán, chỉ những người vì lo sợ sẽ mất quả vị mà nghĩ đến việc tự sát. 3. Hộ pháp A la hán, cũng gọi Thủ tướng A la hán, chỉ những người có khả năng giữ gìn mà không để mất quả vị. 4. An trụ pháp A la hán, cũng gọi là Trụ tướng A la hán, chỉ những người không lui cũng không tiến, mà ở yên nơi quả vị. 5. Kham đạt pháp A la hán, cũng gọi là Khả tiến tướng A la hán, chỉ những người có khả năng tiến tới nhanh chóng mà đạt đến pháp bất động. 6. Bất động pháp A la hán, cũng gọi là Bất hoại tướng A la hán, chỉ những người vĩnh viễn không đánh mất pháp đã chứng được. Trong sáu loại A la hán được tường thuật ở trên, năm loại trước là những người độn căn, cho nên được Thời giải thoát hoặc Thời ái tâm giải thoát, còn loại sau cùng là thuộc những người lợi căn, cho nên được Bất thời giải thoát hoặc Bất động tâm giải thoát. Nói cách rõ ràng hơn, nếu gặp được nhân duyên tốt mà vào định giải thoát thì gọi làThời giải thoát, còn bất cứ lúc nào cũng có thể vào định, mà không cần phải đợi chờ một nhân duyên đặc biệt nào mới được giải thoát, thì gọi làBất thời giải thoát.

Lại những người tự mình khéo giữ gìn quả A la hán đã chứng được và giải thoát mọi phiền não, thì gọi làThời ái tâm giải thoát, còn những người đã giải thoát rồi không bị phiền não quấy rối trở lại, làm mất quả vị, thì gọi là bất động tâm giải thoát. Ngoài ra, Bất động pháp A la hán, vì sự hình thành lợi căn, nên lại chia làm hai loại, đó là: 1. Những người bẩm sinh là bất động chủng tính, gọi là Bất thoái pháp A la hán, Bất thoái tướng A la hán. 2. Những người nhờ tu hành tinh tiến mà đạt đến pháp bất động, gọi là Bất động pháp A la hán. Hai loại này cộng với năm loại thuật ở trên thành là bảy loại A la hán. Nếu lại thêm Duyên giác và Phật nữa, thì gọi chung là chín loại A la hán, hoặc gọi là chín Vô học. Lại nữa, kinh Trung A hàm quyển 30, luận Thành thật quyển 1, đem Tuệ giải thoát, Câu giải thoát thay cho Duyên giác và Phật mà thành chín Vô học. Trong đó, A la hán dùng sức trí tuệ để giải thoát phiền não, thì gọi là Tuệ giải thoát A la hán. Nếu A la hán đã được định Diệt tận, mà cả hai phương diện tâm và tuệ đều được giải thoát, thì gọi là Câu giải thoát A la hán. Hai loại này, nếu lại thêm Vô nghi giải thoát A la hán (những người trong Câu giải thoát thông suốt tất cả văn nghĩa mà được bốn vô ngại giải), thì thành là ba loại A la hán. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.34, Q.42; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.18; kinh Di lặc thượng sinh; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.14; luận Cam lộ vị Q.thượng; luận Đại tì ba sa Q.94; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên phạm ngữ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. Cửu Vô Học, Lục Chủng Tính, Tứ Hướng Tứ Quả).
ác kiến
(惡見) I.Ác kiến. Phạm: mithyà-dfwỉi. Còn gọi là Bất chính kiến. Nói tắt là Kiến. Là một trong trăm pháp do tông Pháp tướng lập ra, thuộc một trong sáu phiền não. Chỉ cái thấy biết quanh co xấu ác, cũng tức là cái thấy biết trái với chân lí Phật giáo. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 6 chép, ác kiến lấy sự hiểu biết nhơ nhuốm làm tính, có khả năng ngăn trở cái thấy biết tốt lành, kẻ có ác kiến chịu nhiều khổ não. Kiến tùy miên (Phạm: Dfwty-anuzaya) trong sáu Tùy miên được nói trong luận Câu Xá, Kiến trược trong năm trược, đều tương đồng với ác kiến. Dựa theo sự sai biệt về hành tướng, Ác kiến được chia làm năm kiến là: Tát ca gia kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến, Giới cấm thủ kiến, cũng gọi là năm ác kiến; trong chín Kết, ba kiến trước là Kiến kết (Phạm:Dfzỉisaôyojana), hai kiến sau là Thủ kết (Phạm:Paràmarzasaôyojana). [X. luận Câu Xá Q.19; luận Hiển Dương Thánh Giáo Q.1; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Kiến). II. Ác kiến. Trong tông Tịnh độ, ác kiến, đặc biệt chỉ cho lòng ngờ vực về năng lực của chính mình. Trong Quán Kinh Sớ Tán Thiện Nghĩa, ngài Thiện đạo nêu ra thí dụ hai dòng sông Tham và Sân, bảo rằng, người ác kiến hiểu khác, làm khác, đem sự hiểu biết bậy bạ của mình, làm rối loạn lòng tin của những người nguyện sinh về Tịnh độ phương Tây. Trong Ngu Thốc Sao quyển hạ, ngài Thân Loan của Nhật Bản nói, người ác kiến là chỉ cho người kiêu ngạo, lười biếng, tà kiến, ngờ vực. (xt. Phát Khiển Chiêu Hoán).
Tứ thiền
四禪
Gọi đầy đủ là Tứ thiền định; chỉ bốn cấp thiền trong sắc giới (Ba thế giới), đó là:
1. Ðịnh sơ thiền: tâm tập trung vào một cảnh, tâm tầm (s, p: vitarka), tứ (s, p: vicāra), hoàn toàn li dục và không còn các Bất thiện Pháp. Người đạt sơ thiền cảm nhận trạng thái Hỉ (s: prīti), Lạc (s: sukha) và Xả (s: upekṣā); 2. Ðịnh nhị thiền: tâm không còn tầm, tứ. Nội tĩnh, Nhất tâm. Trạng thái này là Hỉ, Lạc, Xả; 3. Ðịnh tam thiền: lìa trạng thái Hỉ, chỉ còn trạng thái Xả và Lạc; 4. Ðịnh tứ thiền: lìa trạng thái Lạc, chỉ còn riêng cảm giác Xả và chính niệm.
tăng thượng mạn
(增上慢) Phạm: Abhi-màna. Tâm ngạo mạn tự cao khởi lên khi chưa chứng được quả vị mà tự cho là đã chứng, là 1 trong 7 mạn nói trong luận Đại tì bà sa quyển 43 và luận Câu xá quyển 19. Luận Pháp hoa cũng nêu 7 thứ tâm Tăng thượng mạn, giải thích rõ ràng và lần lượt phối trí với 7 thí dụ trong kinh Pháp hoa để đối trị. Đó là: 1. Tâm tăng thượng mạn điên đảo mong cầu các công đức, dùng thí dụ nhà Lửa để đối trị. 2. Tâm tăng thượng mạn Thanh văn quyết định 1 chiều, dùng thí dụ Cùng tử để đối trị. 3. Tâm tăng thượng mạn Đại thừa quyết định 1 chiều, dùng thí dụ Trận mưa để đối trị. 4. Tâm tăng thượng mạn thực không mà nói là có, dùng thí dụ Hóa thành để đối trị. 5. Tâm tăng thượng mạn tán loạn, dùng thí dụ hạt châu buộc trong chéo áo để đối trị. 6. Tâm tăng thượng mạn thực có công đức, dùng thí dụ hạt châu trên đỉnh đầu để đối trị. 7. Tâm tăng thượng mạn thực không có công đức, dùng thí dụ thầy thuốc để đối trị. Ngoài ra, so sánh mình với người khácrồi sinh tâm tự phụ cao ngạo, cũng gọi là Tăng thượng mạn, thông thường gọi đó là Cống cao ngã mạn. [X. phẩm Phương tiện kinh Pháp hoa Q.1; phẩm Biện ngũ sự luận Phẩm loại túc Q.1; Câu xá luận quang kí Q.19]. (xt. Mạn).
Vô minh
無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;
Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).
Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).

Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
thân trung ấm
Thần thức chúng sanh sau khi chết đi vào giai đoạn trung gian chuyển tiếp trước khi thọ sanh vào một đời sống mới. Trong giai đoạn này, chúng sanh mang thân trung ấm. Điều này có được nhắc đến trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, quyển 8.
kiến chấp
Chỉ những quan điểm, định kiến sai lầm, cố chấp và vướng mắc vào chỗ thấy biết hiện có của mình, cho đó là tuyệt đối và không chấp nhận mọi quan điểm khác. Do kiến chấp mà người ta không thể nhận biết Chánh pháp.
Xá Lợi Phất
(s: Śāriputra, p: Sāriputta, 舍利弗): một trong 10 vị đệ tử lớn của đức Phật, còn gọi là Xá Lợi Phất Đa (舍利弗多), Xá Lợi Phất La (舍利弗羅), Xá Lợi Phất Đát La (舍利弗怛羅), Xá Lợi Phất Đa La (舍利弗多羅), Xà Lợi Phú Đa La (闍利富多羅), Xà Lợi Phất Đa La (闍利弗多羅); ý dịch là Thu Lộ Tử (鶖鷺子、秋露子), Cù Dục Tử (鴝鵒子、鸜鵒子), Thu Tử (鶖子); thường gọi là Xá Lợi Tử (舍利子), cựu dịch là Thân Tử (身子). Mẹ ông là con gái của một vị luận sư Bà La Môn ở Thành Vương Xá (s: Rājagṛha; p: Rājagaha, 王舍城) thuộc nước Già Đà (伽陀). Khi vừa mới sanh ra, con mắt ông giống như mắt con chim Xá Lợi, nên ông được đặt tên là Xá Lợi Phất (con của chim Xá Lợi). Hay ông có tên khác là Ưu Ba Để Sa (s: Upatiṣya, p: Upatīṣya, 優波底沙), Ưu Ba Đế Tu (優波), v.v.; ý dịch là Đại Quang (大光), được lấy theo tên cha. Theo Bản Hạnh Tập Kinh (本行集經) quyển 48, Phẩm Xá Lợi Mục Liên Nhân Duyên (舍利目連因緣品), từ nhỏ tướng mạo của Xá Lợi Phất đã đoan nghiêm; đến khi lớn lên, rèn luyện các kỹ năng, thông hiểu các bộ kinh Phệ Đà. Năm lên 16 tuổi, ông đã có thể hàng phục các luận nghị của người khác, mọi người đều quy phục ông. Thời niên thiếu, ông từng kết giao với Mục Kiền Liên (s: Maudgalyāyana, p: Moggallāna, 目犍連) ở làng bên cạnh, thường đến tham dự những buổi tế lễ ngoài Thành Vương Xá, thấy mọi người vui chơi hỗn tạp, chợt cảm ngộ lẽ vô thường, bèn cắt bỏ râu tóc, theo xuất gia học đạo với một trong 6 vị thầy ngoại đạo là San Xà Da Tỳ La Chi Tử (s: Sañjayavairaṭṭiputra, 删闍耶毘羅胝子), chỉ trong 7 ngày đêm mà có thể thông suốt toàn bộ giáo nghĩa của vị này, hội chúng có 250 người đều tôn kính ông là bậc thượng thủ, song Xá Lợi Phất vẫn thâm cảm được rằng mình chưa được giải thoát. Lúc bấy giờ, đức Phật thành đạo không được bao lâu, hiện đang trú tại Tinh Xá Trúc Lâm (竹林精舍) ở Thành Vương Xá. Đệ tử Ngài là A Thuyết Thị (s: Aśvajit, Aśvaka; p: Assaji, 阿說示, còn gọi là Tỳ Kheo Mã Thắng [馬勝比丘]) đắp y, cầm bình bát vào trong thành khất thực. Xá Lợi Phất thấy vị này oai nghi đoan chính, bước đi khoan thai, bèn đến hỏi xem thầy là ai và thực hành pháp môn gì ? A Thuyết Thị bèn lấy pháp nhân duyên do đức Phật thuyết giảng để chỉ cho Xá Lợi Phất, để hiểu được lý các pháp là vô ngã. Nghe xong, Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên, mỗi người thống lãnh 250 đệ tử, cùng đến Tinh Xá Trúc Lâm quy y với đức Phật. Theo Thập Nhị Du Kinh (十二遊經), sau khi quy y với đức Phật, ông thường tùy tùng theo Ngài, giúp giáo hóa mọi người, là bậc thượng thủ trong đại chúng. Ông là người thông minh xuất chúng, được tôn xưng là Trí Tuệ Đệ Nhất (Trí Tuệ Số Một). Lại căn cứ vào Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經) quyển 11, 12, Hiền Ngu Kinh (賢愚經) quyển 10, Phẩm Tu Đạt Khởi Tinh Xá (須達起精舍品), v.v., Xá Lợi Phất tinh thông ngoại điển, từng dùng biện tài siêu tuyệt để hàng phục ngoại đạo Mắt Đỏ; hay sự việc trưởng giả Tu Đạt Đa (p: Sudatta, 須達) quy y theo đức Phật, phát tâm kiến tạo Kỳ Viên Tinh Xá (p: Jetavana Anāthapiṇḍikārāma, 祇洹精舍), v.v., cũng nhờ sự khuyến hóa tài tình và đầy trí tuệ của Xá Lợi Phất. Hơn nữa, theo Tứ Phần Luật (四分律) quyển 46, Thập Tụng Luật (十誦律) quyển 37, v.v., vào cuối đời của đức Phật, Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多) tuyên xướng về 5 điều không đúng pháp, muốn phá hoại tăng đoàn, thống lãnh 500 Tỳ Kheo vào trong núi Già Da (伽耶); khi ấy Xá Lợi Phất cùng với Mục Kiền Liên đến ngọn núi này, khiến cho 500 Tỳ Kheo kia nhận ra sai lầm của mình, quay trở về với Phật. Suốt cả đời Xá Lợi Phất luôn được mọi người tôn kính, lại được đức Phật tán dương. Ông nhập diệt trước đức Phật, sau 7 ngày thì làm lễ Trà Tỳ (茶毘); y bát và di cốt của ông được an táng tại Kỳ Viên. Trưởng giả Tu Đạt Đa dựng tháp cho ông. Theo Phẩm Thí Dụ của Kinh Pháp Hoa cho biết rằng Xá Lợi Phất được đức Phật thọ ký cho rằng vào thời tương lai sẽ làm Phật hiệu là Hoa Quang Như Lai (華光如來).

Làm Thế Nào Mới Được Vãng Sanh
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Vòng Khổ
Ni Sư Thích Nữ Giới Hương

Hạng phàm phu làm sao vãng sanh...?
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả

Đã Được Vãng Sanh Nhiều Ít
Đời Đường, Thiện Đạo Hòa Thượng tập ký

Phát Nguyện Vãng Sanh Cực Lạc
Hòa Thượng Thích Trí Thủ

Hồi Hướng Khuyên Cầu Vãng Sanh
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc

Vãng Sanh Tây Phương
Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Đới Ngiệp Vãng Sanh
Lão Cư Sĩ Lý Bỉnh Nam