Gọi đủ là Khế Kinh, tiếng Phạn là Tu Ða La. Khế nghĩa là “khế hợp” (phù hợp, tương xứng), bao hàm ý nghĩa: Trên khế hợp với đạo lý của chư Phật đã nói, dưới khế hợp với căn cơ của tất cả chúng sanh được độ.

Chữ Kinh có năm nghĩa:

- Xuất sanh: Nếu chúng sanh tu hành đúng theo lời Phật dạy thì sẽ sanh khởi được tất cả nhân quả của thiện pháp. Ðấy là ý nghĩa của chữ Xuất Sanh. 

- Hiển thị: Kinh của Ðức Phật thuyết có khả năng chỉ rõ các pháp xuất thế gian, sự, lý, tánh, tướng, nhân, quả, tu, chứng v.v... Ðấy là ý nghĩa của Hiển Thị. 

- Dũng tuyền (suối phun): Mỗi một chữ trong kinh chứa đựng hết thảy pháp, dung hàm vô lượng nghĩa, như nước vọt ra từ mạch suối, dù có dùng bao nhiêu vẫn chẳng cạn. Ðấy là ý nghĩa của Dũng Tuyền.

- Thằng mặc (mực thước): Kinh Phật giảng giải đạo lý khiến cho chúng sanh phân biệt được đâu là tà, đâu là chánh, hiểu rõ sự lý, biết nhân rõ quả, bỏ ác tu thiện, như thợ mộc dùng dây nhúng mực để đo lường sự cong ngay của cây gỗ trước khi cưa đục cho đúng.

- Kết man (kết thành tràng hoa): Kết man là dùng chỉ xỏ các bông hoa thành tràng để tạo ra vật trang sức đẹp đẽ. Kinh Phật xuyên suốt sự, lý, nhân quả, khiến chúng chẳng bị lạc mất. Ðấy là ý nghĩa của chữ Kết Man.

Thông thường, chữ Kinh thường được hiểu theo nghĩa “quán nhiếp thường pháp”:

- Quán là xâu kết lại, dính kết lại theo thứ tự, là thâu tóm, hệ thống hóa, tập hợp lại những pháp đã thuyết giảng, chẳng để bị tản mác.

- Nhiếp là giống như nam châm hút mạt sắt. Kinh điển có công năng thu hút những chúng sanh có khả năng hóa độ chẳng để cho họ bị đọa lạc.

- Thường là đạo lý chẳng biến đổi trong suốt cả ba đời. Những pháp Phật đã thuyết đều phát xuất từ lòng đại bi vô tận, giảng ra những pháp phù hợp với pháp tánh, bàn luận đến những điểm cùng tột vi diệu của chân lý, nên thường gọi là “xứng tánh cực đàm”. Những pháp đức Phật đã giảng đều là lý chân nghĩa thật, dẫu ngàn đời muôn kiếp, vĩnh viễn chẳng thể thay đổi được, nên gọi là Thường.

- Pháp nghĩa là mười pháp giới đều phải tuân theo khuôn phép ấy. 

Kinh còn có thể hiểu là đường lối; nghĩa là Kinh chính là con đường để tu hành thành Phật. Có thuyết nói Kinh còn có nghĩa là thuyền bè, ngụ ý: kinh Phật có thể dẫn dắt, độ chúng sanh vượt khỏi biển sanh tử.

Kinh Phật được gọi là “Khế Kinh” vì gồm đủ bốn điều khế hợp: khế sự, khế lý, khế giáo, khế cơ.

 a. Khế sự:

Ðức Phật dùng Phương Tiện Quyền Trí giảng giải nhân quả của trời người, các pháp tu chứng của Nhị Thừa v.v... đều tương xứng với sự tướng thế tục, nên gọi là Khế Sự.

b. Khế lý: 

Phật dùng Thật Trí giảng ra đệ nhất đế lý. Bất cứ điều nào Ðức Phật đã giảng xét về sự hay lý đều xứng hợp với Ðệ Nhất Nghĩa Ðế nên gọi là Khế Lý.

c. Khế giáo:

Khế giáo là dù thị hiện trong cõi ngũ trược ác thế để thuyết pháp lợi sanh, chúng sanh căn tánh ương ngạnh khó độ, những giáo pháp của Ðức Phật đã thuyết đều hoàn toàn giống hệt như những giáo pháp của mười phương chư Phật đã thuyết.

Trong hội Hoa Nghiêm, khi chư Bồ Tát trước sự chứng minh của Ðức Phật Bổn Sư Thích Ca, giảng về thứ tự tu chứng Thập Hạnh, Thập Trụ, Thập Hồi Hướng v.v... xong thì có các đại Bồ Tát nhiều như số vi trần trong bất khả thuyết các cõi Phật ở mười phương, đồng danh đồng hiệu hiện ra tán dương: “Lành thay! Lành thay! Hàng Phật tử các ông! Nói ra những pháp chân thật chẳng dối... Trong cõi nước của chúng tôi cũng thuyết pháp này, thậm chí văn tự, danh tự, câu chữ cũng đều tương đồng”.

d. Khế cơ:

Cơ là căn cơ của chúng sanh. Căn tánh của chúng sanh tuy có đại, tiểu bất đồng, nhưng cứ nương theo kinh tu tập thì không ai là chẳng được lợi ích. Ðấy gọi là “khế cơ”.

Trong tựa đề Phật Thuyết A Di Ðà Kinh đây, Phật là đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni là vị đã chứng cực quả, là chủ thể thuyết pháp. A Di Ðà là Cực Lạc giáo chủ, là bậc chứng ngộ cực quả được đề cập đến. Phật Thích Ca và Phật Di Ðà cùng chứng cực quả, vì sao Phật Thích Ca lại phải thuyết ra pháp này để xưng tán Phật A Di Ðà? Ðó là vì cõi Sa Bà uế ác, y báo lẫn chánh báo cõi này đều do vọng tưởng hoặc nghiệp chiêu cảm, huyễn khởi sanh tử vô cùng, khó tìm được chỗ cậy nhờ, nương tựa. Dù đức Phật Thích Ca mẫn niệm ứng cơ nhiếp hóa, nhưng khi duyên hóa độ đã hết, liền nhập diệt, chúng sanh không cách nào gặp gỡ được nữa. Còn y báo, chánh báo cõi Cực Lạc đều là do những công đức sẵn có trong bản tâm thanh tịnh hiển hiện, hữu tình, vô tình cõi Cực Lạc đều thuyết pháp bất tuyệt. Chúng sanh nghe pháp ấy tăng trưởng đạo tâm, phiền não tiêu trừ, quyết chứng Bồ Ðề. Bởi những lẽ ấy, Phật Thích Ca phải tán dương cõi Cực Lạc và Phật A Di Ðà, đấng giáo chủ cõi ấy, để chúng sanh phát tâm ưa thích, nhàm chán sanh tử, phát nguyện vãng sanh, vĩnh thoát khổ hải.
Trích từ: A Di Đà Kinh Hợp Giải

Từ Ngữ Phật Học
bồ đề
(菩提) I. Bồ đề. Phạm, Pàli: bodhi. Dịch ý là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đã đạt được ở quả vị của các ngài. Trong ba loại bồ đề này, bồ đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dịch là vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng bồ đề. Về bồ đề của Phật, theo luận Đại trí độ quyển 53, có năm loại sau: 1. Phát tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín phát tâm bồ đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả bồ đề. 2. Phục tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng v.v... tu các hạnh ba la mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình. 3. Minh tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Đăng địa biết rõ thực tướng các pháp rốt ráo trong sạch, là tướng bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, ở trong bát nhã ba la mật, diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến nhất thiết trí, nên gọi là xuất đáo bồ đề. 5. Vô thượng bồ đề, nghĩa là bậc Đẳng giác, Diệu giác chứng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là giác trí của quả Phật.Trên đây gọi chung là năm loại bồ đề. Còn Pháp hoa kinh luận quyển hạ ở nơi ba thân pháp, báo, hóa của Phật, lập ba loại bồ đề là Pháp Phật Bồ đề (Pháp thân Bồ đề), Báo Phật Bồ đề (Báo thân Bồ đề), và Ứng Phật Bồ đề (Ứng thân Bồ đề), gọi là tam chủng Bồ đề. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 thì chia Vô lượng bồ đề làm hai thứ là Phương tiện bồ đề và Tính tịnh bồ đề. Ngoài ra, trong mười thứ Ba Pháp của tông Thiên thai cũng có ba bồ đề, đó là: 1. Thực tướng bồ đề, cũng gọi Vô thượng bồ đề: chân tướng bồ đề ngộ lí thực tướng, tương đương với đức pháp thân. 2. Thực trí bồ đề, cũng gọi Thanh tịnh bồ đề: trí tuệ ngộ lí khế hợp, tương đương với đức bát nhã. 3. Phương tiện bồ đề, cũng gọi Cứu kính bồ đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với đức giải thoát. Lại cứ theo luận Vãng sinh tịnh độ nói, thì: 1. Chấp trước tự ngã. 2. Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn. 3. Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình. Ba điều trên đây trái với cửa bồ đề, gọi là ba tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa bồ đề. Cùng sách đã dẫn lại nêu ra ba thứ tâm thanh tịnh: 1. Không cầu yên vui cho bản thân mình (Vô nhiễm thanh tịnh tâm) 2. Trừ khổ cho chúng sinh khiến họ được yên vui (An thanh tịnh tâm) 3. Khiến chúng sinh đến bồ đề và cho họ yên vui vĩnh viễn (Lạc thanh tịnh tâm). Đây là ba thứ tâm thuận theo cửa bồ đề. Người tu Đại thừa cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Bồ đề tát đỏa, gọi tắt là Bồ tát. Tâm cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo ý hoặc Bồ đề tâm. Hướng tới 73 đạo phẩm bồ đề, gọi là Bồ đề phần pháp. Nơi đức Phật thành đạo, gọi là Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng, cây ở đạo tràng ấy gọi là Bồ đề thụ. Tu phúc cầu nguyện cho tổ tông thành Phật, gọi là Tăng thượng bồ đề. Kết khóa niệm Phật, nguyện cầu chúng sinh tăng tiến Phật đạo, gọi là Bồ đề giảng. Các chùa viện thuộc về đàn na (thí chủ), gọi là Bồ đề tự, Bồ đề sở. [X. kinh Bồ tát địa trí Q.3 phẩm Vô thượng bồ đề; kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; kinh Bồ đề tâm Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.38, Q.52; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.70; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.1, Q.27; luận Đại trí độ Q.44; luận Thành duy thức Q.1]. II. Bồ đề. Tức là ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc vào đời nhà Đường. (xt. Bồ Đề Tiên Na).
bồ tát
(菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…...

Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…...

Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...

Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).
Thập Pháp Giới
(十法界, Mười Pháp Giới): hay còn gọi là Thập Giới (十界), là 10 cảnh giới bao gồm hết thảy những hang mê muội cũng như đã giác ngộ, gồm có:
(1) Địa Ngục (地獄), - (2) Ngạ Quỷ (餓鬼),
(3) Súc Sanh (畜生), - (4) Tu La (修羅),
(5) Nhân Gian (人間, cõi người), - (6) Thiên Thượng (天上, trên trời),
(7) Thanh Văn (聲聞), - (8) Duyên Giác (緣覺),
(9) Bồ Tát (菩薩) - (10) Phật (佛).
Ngũ Trược
(s: pañca kaṣāyāḥ, p: pañcā kasāyā, 五濁): còn gọi là Ngũ Chỉ (五滓), tức trong thời Giảm Kiếp (減刼, thời kỳ thọ mạng của chúng sanh giảm xuống dần) sẽ sanh khởi 5 loại nhơ bẩn hay điều không tốt lành. Theo Kinh Bi Hoa (悲華經) quyển 5, Pháp Uyển Châu Lâm (法苑珠林) quyển 98, Ngũ Trược gồm

(1) Kiếp Trược (s: kalpa-kaṣāya, 刼濁): vào thời Giảm Kiếp, khi thọ mạng của chúng sanh giảm xuống còn 30 tuổi thì sẽ sanh ra nạn đói, giảm đến 20 tuổi thì sẽ có bệnh dịch hoành hành, đến 10 tuổi thì xảy ra nạn đao binh, làm cho tất cả chúng sanh thảy đều bị tai hại.

(2) Kiến Trược (s: dṛṣṭi-kaṣāya, 見濁): khi chánh pháp đã diệt, tượng pháp xuất hiện, tà pháp chuyển sanh, tà kiến tăng trưởng mạnh và khiến cho mọi người không còn tu theo con đường lành nữa.

(3) Phiền Não Trược (s: kleṣa-kaṣāya, 煩惱濁): chúng sanh có nhiều ái dục, bỏn xẻn, keo kiệt, đấu tranh lẫn nhau, ăn chơi trác táng, thọ nhận các tà pháp và làm cho tâm thần bị não loạn.

(4) Chúng Sanh Trược (s: sattva-kaṣāya, 眾生濁): còn gọi là Hữu Tình Trược (有情濁), chúng sanh có nhiều điều xấu ác, tệ hại, không hiếu kính cha mẹ, tôn trưởng, không biết sợ nghiệp quả báo, không làm việc phước thiện công đức, không tu hạnh bố thí trí tuệ cũng như ăn chay, không giữ gìn các giới cấm, v.v.

(5) Mạng Trược (s: āyu-kaṣāya, 命濁): hay còn gọi là Thọ Trược (壽濁), từ ngàn xưa thọ mạng con người là 80.000 tuổi, thời nay do vì ác nghiệp tăng trưởng nhiều, cho nên tuổi thọ giảm dần, vì vậy người thọ 100 tuổi rất hiếm có. Như vậy, trong Ngũ Trược, Kiếp Trược là chung và bốn loại kia là riêng

Như trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) có đoạn rằng: “Thích Ca Mâu Ni Phật, năng vi thậm nan hy hữu chi sự, năng ư Ta Bà quốc độ ngũ trược ác thế, kiếp trược, kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược trung, đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề (釋迦牟尼佛、能爲甚難希有之事、能於娑婆國土五濁惡世、劫濁、見濁、煩惱濁、眾生濁、命濁中、得阿耨多羅三藐三菩提, Phật thích ca mâu ni có thể làm những việc rất khó khăn hiếm có, có thể nơi quốc độ Ta Bà có năm món trược, gồm kiếp trược, kiến trược, chúng sanh trược, mạng trược, mà chứng quả giải thoát hoàn toàn).” Hay trong bài Lô Sơn Huệ Viễn Pháp Sư Lụy (廬山慧遠法師誄) của Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) nhà Tống, thời Nam Triều có câu: “Linh thanh tục chấn, Ngũ Trược tạm long (令聲續振、五濁暫隆, khiến cho thanh danh mãi chấn đông, Ngũ Trược tạm thời ngừng phát triển).” Hoặc trong bài Phật Đảnh Tôn Thắng Đà La Ni Tràng Tán (佛頂尊勝陀羅尼幢贊) của Độc Cô Cập (獨孤及, 725-777) nhà Đường cũng có câu: “Mang mang Ngũ Trược, khách trần phú chi (茫茫五濁、客塵覆之, mịt mờ Năm Trược, khách trần lấp che).” Hơn nữa, trong bài tựa của Kinh Lăng Nghiêm (楞嚴經) cũng có đoạn: “Phục thỉnh thế tôn vị chứng minh, Ngũ Trược ác thế thệ tiên nhập, như nhất chúng sanh vị thành Phật, chung bất ư thử thủ Nê Hoàn (伏請世尊爲證明、五濁惡世誓先入、如一眾生未成佛、終不於此取泥洹, cúi xin Thế Tôn chứng minh cho, đời ác Năm Trược thề vào trước, nếu một chúng sanh chưa thành Phật, trọn không nơi đây nhập Niết Bàn).”
pháp
(法) Phạm: Dharma Pàli: Dhamma. Hán âm: Đạt ma, Đà ma, Đàm ma, Đàm vô, Đàm. I. Pháp. Trong kinh điển Phật giáo, danh từ Pháp được sử dụng trong rất nhiều trường hợp và ý nghĩa cũng không đồng nhất. Nói 1 cách tổng quát thì Pháp có 2 định nghĩa là nhậm trì tự tính, quĩ sinh vật giải.1. Nhậm trì tự tính: Tất cả sự vật, hiện tượng luôn giữ gìn bản tính riêng của chúng, không thay đổi. 2. Quĩ sinh vật giải: Tất cả sự vật đều duy trì tự tính riêng biệt của chúng, như những khuôn mẫu khiến người ta dựa vào đó làm căn cứ mà hiểu 1 hiện tượng nhất định. Nói theo nghĩa Nhậm trì tự tính thì Pháp là chỉ cho tất cả cái tồn tại có đầy đủ tự tính, bản chất riêng biệt; nói theo nghĩa Quĩ sinh vật giải thì Pháp chỉ cho những tiêu chuẩn của sự nhận thức, như qui phạm, pháp tắc, đạo lí, giáo lí, giáo thuyết, chân lí, thiện hành v.v... Tóm lại, Pháp chỉ chung cho hết thảy mọi sự vật, mọi hiện tượng–cụ thể hay trừu tượng–có tự tính, bản chất riêng biệt làm căn cứ, khuôn mẫu khiến người ta nhìn vào là có thể nhận thức và lí giải được. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Chư pháp bản trong Trung a hàm Q.28; phẩm Cú nghĩa trong kinh Đại phẩm bát nhã Q.4; phẩm Sát na trong kinh Đại thừa lăng già Q.5; kinh Đại bảo tích Q.52; luận Đại trí độ Q.48]. II. Pháp. Chỉ cho cảnh sở duyên(đối tượng phân biệt) của thức thứ 6(ý thức), cũng gọi Pháp xứ (Phạm: Dharmàyatana) hoặc Pháp giới (Phạm: Dharma-dhàtu). [X. luận Đại tì bà sa Q.73; luận Câu xá Q.1; phẩm Xứ trong luận Pháp uẩn túc Q.10]. III. Pháp. Tiếng dùng trong Nhân minh. Hàm ý tính chất, thuộc tính. Trong Nhân minh, danh từ sau (hậu trần) của Tông (mệnh đề) gọi là Pháp (thuộc tính); danh từ trước(tiền trần)của Tông gọi là Hữu pháp (có thuộc tính). Như lập Tông: Âm thanh là vô thường, thì vô thường (Pháp) là thuộc tính của âm thanh (Hữu pháp). [X. Nhân minh luận sớ minh đăng sao Q.2, phần đầu; Nhân minh luận sớ thụy nguyên kí Q.2]. (xt. Tà Chính, Thể).
Chúng Sanh
Đại khái chia làm chín loại:

1. Trứng-Sanh: Do nơi trứng sanh ra, như các loài chim, gà, vịt…

2. Thai-Sanh: Do thai nghén sanh ra, như loài người, trâu, bò, dê, chó…

3. Ướt- Sanh: Nương chỗ ẩm ướt mà sanh, như các loại côn trùng v.v…

4. Hóa-Sanh: Do biến hóa sanh ra, như lăng quăng hóa làm muỗi, cỏ mục hóa đom đóm…

5. Có-Sắc: Chúng-sanh ở cõi Dục-giới, Sắc-giới có hình sắc thấy được.

6. Không-Sắc: Chúng-sanh ở cõi vô-sắc, không có hình sắc thấy được.

7. Có-Tưởng: Tất cả chúng sanh ở trong ba cõi, chỉ trừ ra chúng-sanh cõi trời vô-tưởng ( cõi nầy ở về từng tứ-thiền trong sắc-giới).

8. Không-Tưởng: Chúng-sanh ở cõi trời vô-tưởng. đây là chúng-sanh ở cõi dục, cho rằng: Các sự khổ-não đều phát sanh từ nơi tư-tưởng, nên tu theo phép định vô-tưởng, được sanh lên cõi trời vô-tưởng, rồi tự cho là đã chứng quả giải-thoát. Nhưng sự thật thì không hẳn như vậy, vì trải qua sau 500 kiếp, khi phước báo đã hết rồi, lại cũng bị luân-hồi sanh-tử nữa.

9. Chẳng Phải Có Tưởng Chẳng Phải Không Tưởng: Chúng-sanh ở từng trời Phi-phi-tưởng trong cõi vô-sắc. Chúng-sanh ở cõi nầy đồng như hư-không, không có thân thể và thế-giới. Chỉ có định mà không có huệ; sống lâu đến 80.000 (tám muôn) kiếp, rồi cũng bị đọa lạc trở lại trong tam-đồ lục-đạo.
Quyền trí
權智; C: quánzhì; J: gonchi;
Trí phương tiện căn cứ trên chân lí tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lí tuyệt đối. Tương đương với nghĩa »phương tiện«.
thích ca
(釋迦) Phạm:Zàkya. Hán dịch: Năng nhân. Dòng họ của đức Phật, 1 trong 5 họ của Ngài. Tộc Thích ca là 1 trong các dân tộc ở Ấn độ đời xưa, thuộc giai cấp Vũ sĩ, là con cháu của vua Cam giá (Phạm: Jkwvàka) thuộc hệ thống Nhật chủng (Phạm:Sùryavaôsa). Đức Phật xuất thân từ chủng tộc này, cho nên gọi là Thích ca mâu ni (Phạm: Zàkya-muni, tức là bậc Thánh của chủng tộc Thích ca).
hiển thị
(顯示) Hiển bày rõ ràng. Bản tính của tất cả chúng sinh có đầy đủ nhân, quả, sự, lí, cho nên đức Phật chỉ bày rõ ràng các giáo pháp 12 nhân duyên, 4 đế, 8 chính đạo, v.v...… khiến họ khai ngộ mà được giải thoát. [X. kinh Vô lượng thọ Q.hạ; luận Du già sư địa Q.8; Hoa nghiêm kinh sớ Q.1].
thập hạnh
(十行) I. Thập Hạnh. Cũng gọi Thập hạnh tâm. Chỉ cho 10 hạnh tu lợi người từ giai vị 21 đến giai vị 30 trong 52 giai vị tu hành của Bồ tát. Đó là: 1. Hoan hỉ hạnh: Bồ tát dùng vô lượng diệu đức của Như lai để tùy thuận 10 phương. 2. Nhiêu ích hạnh: Bồ tát khéo làm lợi ích cho tất cả chúng sinh. 3. Vô sân hận hạnh: Bồ tát tu hạnh nhịn nhục, không tức giận, khiêm nhường cung kính, không hại mình hại người, đối với oán địch thường nín nhịn. 4. Vô tận hạnh(cũng gọi Vô khuất nhiễu hạnh): Bồ tát tu hạnh tinh tiến, phát tâm độ tất cả chúng sinh, đến đại Niết bàn, không biếng nhác, xao lãng. 5. Li si loạn hạnh: Bồ tát thường trụ trong chính niệm không tán loạn, đối với tất cả pháp không si loạn. 6. Thiện hiện hạnh: Bồ tát biết rõ pháp không, 3 nghiệp vắng lặng, không trói buộc, không tham đắm, nhưng cũng không bỏ việc giáo hóa chúng sinh. 7. Vô trước hạnh: Trải qua vô lượng kiếp cúng Phật cầu pháp, tâm không chán đủ, nhưng cũng dùng tâm vắng lặng quán xét các pháp, cho nên không đắm trước tất cả pháp. 8. Tôn trọng hạnh: Bồ tát tôn trọng thiện căn trí tuệ... thảy đều thành tựu, nhờ đó lại càng tiến tu hạnh lợi mình lợi người. 9. Thiện pháp hạnh: Bồ tát chứng được 4 môn Đà la ni vô ngại, thành tựu các thiện pháp giáo hóa người khác để hộ trì chính pháp, làm cho hạt giống Phật không bị dứt mất.10. Chân thực hạnh: Bồ tát thành tựu lời nói Đệ nhất nghĩa đế, nói đúng như việc làm, làm đúng như lời nói, nói và làm phù hợp nhau, sắc tâm đều thuận. Tu thập hạnh có 4 mục đích: 1. Nhàm chán các pháp hữu vi. 2. Cầu đạo Bồ đề, đầy đủ Phật đức. 3. Muốn cứu độ chúng sinh trong đời hiện tại và ở đời vị lai. 4. Cầu thực tế, chứng pháp như. Ngoài ra, về việc Bồ tát tu 10 hạnh này ở giai vị nào, thì trong các kinh luận có thuyết cho rằng 1 trong 3 Hiền vị, có thuyết cho là Tính chủng tính trong 6 chủng tính, lại có thuyết cho là Tư lương vị trong 5 vị... [X. phẩm Thập hạnh trong kinh Hoa nghiêm Q.11 (bản dịch cũ); kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.8; Đại thừa nghĩa chương quyển Q.14; Hoa nghiêm ngũ giáo chương Q.2]. II. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh tu của Bồ tát đó là: 1. Tín: Kính tin Phật, Pháp. 2. Bi: Trừ diệt khổ đau cho chúng sinh. 3. Từ: Ban vui cho chúng sinh, đối với các chúng sinh khởi chúng sinh duyên, biết chúng sinh không có thực thể, không tự tính mà khởi pháp duyên, quán xét 5 uẩn là không mà khởi vô duyên. 4. Xả: Bên trong xả bỏ thân mệnh, bên ngoài xả bỏ tài vật để bố thí, giúp chúng sinh an tâm. 5. Bất bì quyện: Bồ tát tu hành các hạnh thế gian, xuất thế không biết mỏi mệt. 6. Tri kinh thư: Bồ tát biết rõ 5 môn học (Ngũ minh). 7. Tri thế trí: Bồ tát hiểu biết ý nghĩa của các việc thực tế ở thế gian. 8. Tàm quí: Đối với tội lỗi sinh tâm thẹn hổ. 9. Kiên cố lực: Bồ tát có năng lực bền vững, giữ gìn Phật đạo, khôngđể lui sụt. 10. Cúng dường: Bồ tát cúng dường chư Phật và tu hành đúng theo lời dạy của Phật.[X. kinh Hoa nghiêm Q.23 (bản dịch cũ); kinh Bồ tát địa trì Q.3,7; Thập địa kinh luận Q.3]. III. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh bao nhiếp các thiện pháp. Đó là: 1. Từ bi hạnh(không giết hại). 2. Thiểu dục hạnh(không trộm cướp). 3. Tịnh phạm hạnh(không tà dâm). 4. Đế ngữ hạnh(không nói dối). 5. Minh tuệ hạnh(không uống rượu). 6. Hộ pháp hạnh(không nói lỗi của người khác). 7. Tức ác suy thiện hạnh (không khen mình chê người). 8. Tài pháp câu thí hạnh(không bỏn xẻn chính pháp và tài vật). 9. Nhẫn nhục hạnh(không tức giận). 10. Tán thán Tam bảo hạnh(khen ngợi Tam bảo). [X. Thiền giới thiên]. IV. Thập Hạnh. Chỉ cho 10 hạnh ác do 3 nghiệp thân, khẩu, ý tạo ra, gọi là Thập ác. (xt. Thập Thiện Thập Ác).
phương tiện
(方便) Phạm,Pàli: Upàya. Hán âm: Âu ba da. Cũng gọi Thiện quyền, Biến mưu. Phương pháp khéo léo để tiến triển hướng thượng, 1 trong 10 Ba la mật. Danh từ Phương tiện được các kinh luận sử dụng với ý nghĩa rất rộng, nay qui nạp lại làm 3 ý nghĩa như sau: 1. Đối với pháp chân thực thì phương tiện là pháp môn tạm thời được đặt ra để dắt dẫn chúng sinh vào pháp chân thực. Tức là Phật, Bồ tát tùy theo căn cơ, trình độ của các chúng sinh mà sử dụng những phương pháp khéo léo, thích hợp để làm lợi ích cho họ. 2. Đối với thực trí bát nhã, cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì Bát nhã là tuệ đạt như, Phương tiện là trí thông quyền.

Dùng Quyền trí quán chiếu sự sai biệt hiển hiện trong Thực trí bình đẳng. 3. Phương tiện là gia hạnh tu tập để chứng ngộ chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 của ngài Tuệ viễn và Pháp hoa huyền tán quyển 3 của ngài Khuy cơ, nêu ra 4 thứ phương tiện:1. Tiến thú phương tiện: Chuẩn bị (gia hạnh) tiến tới bồ đề, như 7 phương tiện trước giai vị Kiến đạo. 2. Quyền xảo phương tiện: Trí phương tiện trong 2 trí. Vì thực ra không có pháp môn Tam thừa, nhưng tùy cơ phương tiện mà đặt ra thôi. Thi tạo phương tiện (Thi vi phương tiện): Phương tiện ba la mật trong 10 Ba la mật, tức những việc được thực hiện một cách khéo léo để đạt thành mục đích lí tưởng. 4. Tập thành phương tiện: Thuyết Lục tướng trong Thập địa kinh luận. Các pháp đồng thể tập thành với nhau một cách khéo léo, tức bản chất của các pháp đều giống nhau, trong 1 có tất cả, trong tất cả cũng thành 1, đây kia tập thành và kiến lập lẫn nhau một cách khéo léo. Quyền xảo phương tiện có nghĩa là đức Phật dùng Trí phương tiện tạm thời bày đặt ra pháp môn Tam thừa... Trí phương tiện này cũng gọi là Quyền trí, tức là trí vì dẫn dắt chúng sinh mà đức Phật tạm thời giả lập ra. Quyền xảo phương tiện và Thi tạo phương tiện đều là những phương tiện khéo léo của Phật. Thiện xảo phương tiện lấy trí Thành sở tác trong 4 trí làm thể, cũng gọi là Phương tiện thiện xảo, Thiện quyền phương tiện, Thiện phương tiện, Xảo phương tiện, Quyền phương tiện, Thắng phương tiện, Thiện xảo, Thiện quyền, Xảo tiện... Tất cả giáo thuyết, nói theo quan điểm tuyên giảng, thì hết thảy chỉ là phương tiện thi thiết, nhưng trong đó, giáo thuyết trực tiếp giải thích rõ bản chất của bồ đề, biểu hiện ý nghĩa chân thực của nó thì gọi là Chân thực giáo; còn giáo thuyết vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà tạm thời nói ra để dẫn dắt họ vào chân thực, thì gọi là Phương tiện giáo (Phương tiện giả môn, Quyền môn), phương tiện này gọi là Hóa tiền phương tiện, Quyền giả phương tiện...

Trái lại, loại phương tiện khác thì gọi là Dị phương tiện. Phương tiện sau khi giác ngộ Phật quả, gọi là Quả hậu phương tiện. Ngoài ra, đối lại với Pháp Báo gọi là Quả cực pháp thân thì có Ứng Hóa gọi là Phương tiện pháp thân; đối lại với cõi chân thực do tu nhân mà được, gọi là Thực báo độ, thì có cõi do tu đạo Phương tiện mà chiêu cảm, gọi là Phương tiện hữu dư độ; đối lại với Bát nhã gọi là Thực trí, thì có hóa dụng lợi tha, gọi là Phương tiện trí; đối lại với Nhất thừa gọi là Chính thừa, thì có Tam thừa, gọi là Phương tiện thừa. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 chia Thi tạo phương tiện làm 3 loại: 1. Giáo đạo phương tiện: Tất cả việc làm ở thế gian đều có thể tu tập một cách khéo léo. 2. Chứng đạo phương tiện:Xả bỏ tình tướng chứng vào thực tế. 3. Bất trụ phương tiện: Không chấp trước các kiến giải sai biệt tương đối như không hữu, nhiễm tịnh, tự tha... Kinh Địa tạng thập luân quyển 10 thì chia Phương tiện làm 2 thứ là Phương tiện thiện xảo chấp trước hữu sở đắc và Phương tiện thiện xảo xa lìa chấp trước vô sở đắc; hoặc Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. Kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Phương tiện của bồ tát Thập địa là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, đại từ, đại bi, giác ngộ và chuyển bất thoái chuyển pháp luân.

Luận Đại thừa khởi tín thì nêu ra 4 thứ Phương tiện là: Căn bản phương tiện, Năng chỉ phương tiện, Phát khởi thiện căn(tăng trưởng)phương tiện và Đại nguyện phương tiện.Pháp hoa văn cú quyển 7 của ngài Trí khải tông Thiên thai thì nêu 3 thứ Phương tiện: Pháp dụng phương tiện, Năng thông phương tiện và Bí diệu phương tiện. Trong đó, tùy theo các đối tượng Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo mà thi thiết, là Pháp dụng phương tiện; Phương tiện thông suốt được pháp môn chân thực, là Năng thông phương tiện; Pháp hoa dùng nhân sâu kín của Quyền giáo trước mà hiển bày Viên giáo Pháp hoa, nhân sâu kín tức diệu(mầu nhiệm), là Bí diệu phương tiện. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 4, phần đầu, căn cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để phân biệt tính chất xa gần của Phương tiện. Tức là Tạng giáo lấy Tam hiền làm phương tiện xa, lấy Tứ thiện căn làm phương tiện gần, Thông giáo lấy Thập tín làm phương tiện xa, lấy Tam hiền làm phương tiện gần. Viên giáo lấy 25 phương tiện danh tự và 5 phẩm Hành quán làm phương tiện xa, lấy 6 căn thanh tịnh tương tự làm phương tiện gần. Tịnh danh kinh sớ quyển 3 nêu ra 3 thứ phương tiện: Tự hành, Hóa tha và Tự tha. Trong đó, chư Phật và 41 vị Bồ tát biết rõ lí Nhị đế chẳng thể nghĩ bàn, là Tự hành phương tiện. Đối với các Bồ tát Tạng, Thông, Biệt và Viên giáo hữu môn, không đoạn trừ phiền não mà cùng tuyên dương các giáo pháp trong giới nội và giới ngoại một cách bình đẳng, là Hóa tha phương tiện; hợp chung 2 loại trên lại thì gọi là Tự tha phương tiện. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.328; kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); luận Du già sư địa Q.45; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.7; Pháp hoa kinh văn cú Q.3, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.19].
A Di Ðà
Dịch là Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ. Ðức Phật ấy quang minh vô lượng, thọ mạng vô lượng. Thật ra công đức, trí huệ, thần thông v.v... của Ngài mỗi mỗi đều vô lượng, nhưng ở đây lấy quang minh và thọ lượng làm tiêu biểu.

Có hai thứ vô lượng: Vô lượng vô lượng (nghĩa là vô lượng tuyệt đối, hoàn toàn không thể nào tính đếm được) và hữu lượng vô lượng (vô lượng có thể tính đếm được, tức là một con số rất lớn như kinh Hoa Nghiêm một trăm lạc xoa (một trăm ngàn) là một câu chi, câu chi lần câu chi làm một a du đa.... cho đến a tăng kỳ lần a tăng kỳ làm một a tăng kỳ chuyển. A tăng kỳ chuyển lần a tăng kỳ chuyển làm một vô lượng. Như vậy, con số vô lượng rất lớn, nhưng vẫn là hữu hạn vì vẫn có thể tính đếm được).

Pháp Thân của Phật A Di Ðà vô thỉ vô chung (không có khởi đầu, không có kết thúc), Báo Thân của Ngài hữu thỉ vô chung, đều thực sự là “vô lượng vô lượng”. Còn như Ứng Thân của Phật, ứng hiện tùy theo căn cơ, khi duyên hóa độ đã hết liền diệt. Ðó là hữu thỉ hữu chung. Ứng Thân của Phật A Di Ðà tuy thọ mạng vô lượng vô biên a tăng kỳ kiếp nhưng vẫn có ngày nhập diệt, đó là ý nghĩa của chữ “hữu lượng vô lượng”.

Pháp Thân của Phật A Di Ðà thường trụ bất biến, đấy chính là ý nghĩa “vô lượng thọ”. Căn Bản Trí của Phật chiếu khắp mười phương; đấy chính là ý nghĩa “vô lượng quang”. Như vậy, vô lượng thọ và vô lượng quang của Phật cũng là kết quả của sự tu tập. Kinh chép, trong quá khứ vô lượng vô biên kiếp về trước, tỳ kheo Pháp Tạng từng làm Chuyển Luân Thánh Vương, nghe đức Thế Tự Tại Vương Phật thuyết pháp, bèn phát nguyện xuất gia, được đặt pháp danh là Pháp Tạng, phát bốn mươi tám nguyện, tận lực tu tập những hạnh khó làm trong vô lượng kiếp nhằm trang nghiêm y báo và chánh báo của cõi Phật. Do đó, đến khi nhân viên quả mãn, thành Ðẳng Chánh Giác, Ngài cảm được thọ lượng, quang minh mỗi thứ đều vô lượng, nên được hiệu là A Di Ðà.

Lại nữa, lúc chúng ta niệm Phật, từng câu phân minh, tương ứng với Phật, đó chính là ý nghĩa chữ Quang. Từng câu không gián đoạn, nhất tâm bất loạn, đấy chính là ý nghĩa chữ Thọ. Quang là trí của Như Lai, Thọ là lý của Như Lai. Trí chiếu soi Lý, Lý hiển thị Trí, Lý - Trí nhất như, quang - thọ chẳng hai. Tự tánh Di Ðà, duy tâm Tịnh Ðộ, niệm niệm chiếu soi cùng tột, niệm Phật đến mức như thế thì Quang lẫn Thọ luôn hiển hiện nơi tự tâm.

Nếu phán định theo thuyết Lục Tức Thành Phật của tông Thiên Thai thì:

- Chúng sanh luôn sẵn đủ Quang lẫn Thọ nơi tự tâm nhưng mê muội chẳng hề chứng biết. Ðấy gọi là Xứng Lý Tức Quang Thọ (tức là chỉ có Quang lẫn Thọ về mặt Lý, chưa thực sự chứng ngộ).

- Nghe hiểu pháp môn Tịnh Ðộ, hiểu ý nghĩa của danh hiệu Phật A Di Ðà. Ðấy là Danh Tự Tức Quang Thọ.

- Ðã nghe biết, tin hiểu, bèn chấp trì danh hiệu, đấy là Quán Hạnh Tức Quang Thọ. 

- Những phiền não, cấu trược thuộc về phần thô đã đoạn thì gọi là Tương Tự Tức Quang Thọ.

- Phá được một phần vô minh, hiển hiện tự tánh Phật, thì gọi là Phần Chứng Tức Quang Thọ.

- Phá sạch toàn bộ vô minh, lý trí viên mãn đến cùng cực, đấy là Cứu Cánh Tức Quang Thọ.
căn bản trí
(根本智) Phạm: Mulajĩàna. Cũng gọi Căn bản vô phân biệt trí, Như lí trí, Thực trí, Chân trí. Đây là gốc của các trí, vì trí này có thể khế hợp lí chân như mầu nhiệm, bình đẳng như thực, không có sai khác, cho nên cũng gọi là Vô phân biệt trí. Nhiếp đại thừa luận thích quyển 8 gọi trí này là Tuệ chính chứng, vì nó xa lìa mọi hoạt động tìm hiểu, khảo xét, cũng không có tác dụng phân biệt, cứ tự nhiên chiếu rọi pháp thể, khế hợp chân lí, cho nên gọi là Trí tuệ chính chứng. Lại vì trí này là chính thể của trí, chứ không phải hóa dụng, cho nên cũng gọi là Chính thể trí, là Bát nhã ba la mật trong 10 ba la mật. [X. luận Du già sư địa Q.55; luận Thành duy thức Q.9].

Tụng Kinh, Trì Chú, Niệm Phật
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa

Kinh Ðiển Đạo Phật
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Nghiệp
Hòa Thượng Thích Quảng Độ

Kiếp
Hòa Thượng Thích Quảng Độ

Kính Phật
Pháp Sư Đạo Thế

Kính Tăng
Pháp Sư Đạo Thế

Kính Pháp
Pháp Sư Đạo Thế