Duy tâm tịnh độ có nghĩa tịnh độ chỉ có nơi tâm, nói cách khác tâm là gốc sinh tịnh độ. Tâm ở đây là chân tâm thanh tịnh bao gồm tứ trí mà không hề là ý thức tham dục thuộc vọng tâm của chúng sinh. Trong kinh Duy Ma đức Thế Tôn tuyên thuyết "dục cầu tịnh độ, đản tịnh kì tâm, tùy kỳ tâm tịnh, tức Phật độ tịnh" muốn cầu tịnh độ, chỉ tịnh tâm mình, tùy theo tâm tịnh mà cõi Phật (của ta) tịnh.
Sở dĩ chúng ta phải sống trong uế độ là do tâm ta uế, tùy theo tâm uế nhiều ít mà sinh về các cõi thuộc tam giới lục đạo, cần hiểu rằng không phải lục đạo luân hồi nằm chực sẵn bên ngoài tâm chờ bắt lấy mọi chúng sinh, mà chính tâm thế nào sẽ tạo ra cảnh tương ưng như thế ấy và không thể tạo bất kì cảnh khác được, ví dụ như tâm tịnh thì sinh cảnh tịnh mà không thể sinh cảnh tam ác đạo được, hay tâm ác sẽ sinh cảnh địa ngục mà khg thể sinh cảnh tịnh hay cõi thiên được, đó là nguyên tắc bất di dịch của sự báo ứng thuộc về nhân quả pháp. Nếu không có luật này thì mọi pháp thiện ác đều không có quả báo và như thế không ai biết phải làm thế nào để giải thoát thậm chí sinh thiên hay thoát được tam ác đạo. Điều này minh chứng cho tâm sinh mọi cảnh giới không riêng chỉ có tịnh độ.
Như thế yếu tố chính để sinh cõi tịnh chính là phải thanh tịnh tâm mình, nói đúng hơn là phát khởi tâm thanh tịnh, tùy theo sự thanh tịnh nhiều ít mà cõi Phật của ta thanh tịnh cao thấp. Đây là lý do quy kết "duy tâm tịnh độ".
Một số người tu tịnh ngộ nhận tâm là ý thức nên phản bác và cho rằng duy tâm tịnh độ có nghĩa tịnh độ chỉ có trong ý thức thuộc trừu tượng và như thế tịnh độ chỉ tưởng tượng và không hề có thật sao?.
Do không hiểu nghĩa tâm nên đa phần tu tịnh không lo tịnh tâm chỉ lo niệm Phật nơi khẩu với niềm tin cương cường không cần tịnh tâm chỉ cần khẩu niệm là đủ.
Để tránh ngộ nhận trên hãy tìm hiểu rõ hơn về thế nào là Duy tâm và Tịnh độ.
1. Duy tâm
Kinh Hoa Nghiêm nói "Nhược nhân dục liễu tri, tam thế nhất thiết Phật, ưng quán pháp giới tính, nhất thiết duy tâm tạo", Nếu muốn biết rõ ba đời tất cả chư Phật nói chung là vô lượng Phật, cần biết rõ Phật cũng như hết thảy chư Phật từ đâu sinh, nói khác hơn là chính báo tức thân tâm công đức trí huệ của Phật và y báo là cảnh giới thanh tịnh an lạc từ đâu thành. Muốn thế cần phải quán sát mọi pháp giới đều từ tâm tạo thành.
Chính báo năng sinh y báo. Tâm năng sinh cảnh, mà vị tất cảnh đã năng sinh tâm. Tâm do cảnh sinh là vọng tâm còn gọi là tâm phan duyên. Tâm do cảnh giác là giác tâm hay tâm liễu duyên. Phật là chính báo, tịnh độ là y báo, nên tịnh độ do tâm Phật tạo nên, vì nếu không có chính báo thì y báo vin vào đâu mà thành. Cũng vậy, chúng sinh là chính báo, thế giới ô nhiễm là y báo, và y báo này do nhiễm tâm của chúng sinh tạo thành. Mười pháp giới nói chung hay vô lượng pháp giới nói riêng đều do tâm tạo nên kết luận duy tâm tịnh độ. Do thức tâm vọng kiến nên tạo tác mọi vọng nghiệp chiêu cảm thành mọi nhị báo của vô lượng pháp giới. Các pháp giới đã do thức tâm tạo thành nên đều không phải chân pháp giới. Chân pháp giới chỉ có một duy nhất gọi là nhất chân pháp giới, và dĩ nhiên trong pháp giới nhất chân này không có bất kì pháp giới nào khác, đây là cảnh giới đại niết bàn của Phật, như vậy Phật (chính báo) cùng đại niết bàn (y báo) đều do giác tâm sinh, nói cách khác thì trong giác tâm vốn sẵn có nhị báo Phật và đại niết bàn.
Giác tâm
Giác tâm quen gọi là chân tâm bao gồm tứ trí, trí là sự nhận biết thật tướng của vạn pháp nên bình đẳng vô phân biệt, do bình đẳng nên không có tính giản trạch vì vậy vô tạo tác mọi nghiệp, nên chỉ thuần nhất có một pháp giới vô nghiệp, do vô nghiệp bất động loạn nên gọi là đại niết bàn, hay nhất chân pháp giới tức giác tâm. Đã là giác tâm sẵn đủ bốn trí nên dễ dàng nhận ra giác tâm vốn là bản tâm tức tâm chân thật của nhất thiết chúng sinh, thế nên ngay khi giác ngộ được bản tâm, đức Phật đã thốt lên " không ngờ nhất thiết chúng sinh đều có đủ đức tướng và trí huệ như chư Phật". Đây cũng là lý do để Thiền tông kết luận "kiến tính thành Phật" và cũng để cho đại thừa tín chúng những ai muốn giải thoát thành Phật nhận ra cách tu học đúng hướng, đó là ngộ Phật tri kiến tức nhận biết bản tâm vốn sẵn là Phật, vốn sẵn là niết bàn nên phát tâm tu tập tâm này để nhập Phật tri kiến.
Sự tu học để giải thoát chính là cầu tìm lại cái bản tâm giác ngộ đã bị quên lãng qua bao đời, đa phần người học đạo cầu thành Phật nhưng không cầu ngộ tâm tức hiểu thực về tâm, bằng chứng họ không hề phát tâm vô thượng. Có cầu ngộ tâm mới phát tâm, có phát tâm mới ngộ và nhập được giác tâm là vô thượng thanh tịnh tâm. Ngộ nhập được giác tâm thì nhị báo trang nghiêm tức Phật và đại niết bàn tự thành mà không cần phải tạo tác, dụ như kẻ say xỉn quên mất mình là đại gia, ngỡ ta là gã lang thang không nhà, chợt khi tỉnh lại thì tài sản và thân phận đại gia tự hiện mà không cần phải làm gì để được thành đại gia. Vì vậy có thể mượn lời của Mạnh tử để kết luận rằng "cái học của bậc Thánh là cầu tìm lại cái tâm đã mất", và sự tu giải thoát của Phật gia là trở về với giác tâm xưa nay.
Mê tâm.
Mê tâm quen gọi là vọng tâm bao gồm tám thức mang tính phân biệt, tính phân biệt này khiến thật pháp vốn một có tính bình đẳng bất động và thanh tịnh biến thành hai pháp đối nghịch, loạn động, thế nên thức phân biệt ấy bị coi là ô nhiễm, loạn động, bất bình đẳng và được gọi là mê vọng.
Khi tâm mê vọng thì quên mất tính thật của vạn pháp, nói chung là đánh mất chân tâm. Tâm này tự nhận là tôi không ngừng động loạn phân biệt các pháp, tạo tác mọi vọng nghiệp chiêu cảm nên vô số các pháp giới khổ lạc sai biệt, càng phân biệt tôi càng thâm nhập vào tham sân và xây dựng nên một cảnh giới vọng hoặc kiên cố, mà kinh luận thường gọi là ác thế hay uế độ. Cõi uế càng vững bền giác tâm càng bị cái tôi chôn vùi trong bóng tối ngu si muôn thuở, khó có cơ duyên tái hiện, bởi tôi luôn khước từ việc phóng thích cho chân tâm được xuất hiện và sinh hoạt trở lại, nên việc tu học và chứng Thánh quả của cái tôi là chuyện hy hữu khó được dù là lúc nào cũng có biết bao nhiêu là cái tôi tu học cầu được giải thoát.
Ngay đến việc tu tịnh, cũng do tâm mê nhân danh tôi quyết định đặt để phương thức cho việc vãng sinh, bằng sự nhìn nhận chỉ cần niệm danh Phật thì tâm mê tức tôi sẽ về cảnh Phật. Ồ! Bạn quên rằng đức Thế Tôn từng dạy rằng do tâm mê mà bạn hiện hữu ở ác thế kia mà, ngay đến các vị cao tăng thạc đức cũng khuyến cáo "ái bất trọng bất sinh Ta bà" mà bạn thì lại đang lui cui trong chốn uế trược thì hẳn nhiên do ái dục thâm sâu trong bạn mới ra nông nỗi này, đến độ phải kêu cầu đức Phật cứu vớt ra khỏi chốn uế này. Thử hỏi ai đưa bạn về cõi uế? Chắc hẳn là tâm tham dục biệt hiệu của tâm mê đang làm chủ bạn, thế thì sao không nhốt nó lại, thả chân tâm thanh tịnh ra để tâm đó đem bạn về cõi tịnh của tâm này?. Vẫn còn chưa ngộ ra duy tâm tịnh độ sao, nói cho đầy đủ thì duy chân tâm tịnh độ và duy vọng tâm uế độ, hay lối nói khác thì duy chân tịnh độ và duy vọng uế độ. Tịnh hay uế quyết định do chân hay vọng hoặc giác hay mê, không liên quan đến môi miệng, đừng quên chính tâm năng sinh mọi pháp giới không phải miệng và lưỡi. Niệm Phật cũng chỉ để cho tâm được tịnh hóa, vì nếu tâm không tịnh tất không vãng sinh nên đức Phật phải dùng niệm Phật làm phương tiện thiện xảo tịnh hóa cho kẻ không phát tâm.
Nếu hiểu tâm theo tám thức thì cái học của Thiền tông là vô tâm, thế nên đại sư Tùng Thẩm mới than rằng "Ngã kiến thiên bách ức cá, tận thị mịch tác Phật hán tử, ư trung mịch cá vô tâm để, nan đắc."(Ta thấy ngàn trăm gã, đều là kẻ cầu thành Phật, tìm một người vô tâm trong số ấy thực khó). Chung quy từ Tịnh đến Thiền vấn đề nhiều người tu nhưng ít người thành đều do nơi không ngộ nhập được Phật tri kiến, nên vẫn thờ phụng mê tâm và giam cầm giác tâm trong ngục tối tam độc. Lấy tâm mê làm tôi tu học mọi pháp thì đều thành pháp si mê, họ không hiểu rằng Phật quả và niết bàn chính là giác tâm bị họ quay lưng phụ rẫy, đã quay lưng với chân tâm tất đến chốn trần lao uế độ, hễ quay đầu lại thấy bến bờ. Tất cả vấn đề đều tùy thuộc vào tâm nên nói "nhất thiết duy tâm tạo" (tất cả đều do tâm thành).
Do không thông hiểu nghĩa "duy tâm tạo" nên đa phần người tu tịnh dốc sức cầu cõi tịnh, trong ấy thực khó tìm ra một người cầu tâm tịnh. Tổ sư nói mười người tu tịnh, mười người đắc, phàm phu hiểu lầm tu tịnh là cầu cảnh tịnh thay vì là cầu tâm tịnh, nên dùng tâm bất tịnh tức tâm mê cầu được cõi tịnh. Những người mê muội này không hiểu nếu cái tôi mê muội bất tịnh có đến cảnh tịnh đi nữa thì tôi vẫn là tôi, vẫn y si bất tịnh mê muội, vẫn không nhận ra tịnh. Nếu cầu tâm tịnh thì ở đâu tôi cũng vẫn thanh tịnh quang minh, cho dù đến bất cứ nơi uế độ nào tôi cũng vẫn y si thanh tịnh, như thế mới thật sự vãng sinh. Nếu đã nhận chân thì tín chúng tu tịnh nên phát tâm thanh tịnh tu cầu được thành tựu tâm thanh tịnh tức bản tâm thì chứng quả Phật, như lời khuyên của Liên tông thập nhị tổ Triệt Ngộ "hãy dùng tâm có sẵn Phật của ta niệm Phật có sẵn trong tâm ấy.", niệm như vậy dễ được nhất tâm bất loạn mà Thiền gia gọi là "tức tâm tức Phật".
Cần hiểu rằng niệm Phật là phương tiện giúp cho tâm được thanh tịnh dần, do tâm ý chúng sinh tham sân động loạn như khỉ vượn khó được thanh tịnh nên đức Phật phương tiện dùng niệm Phật làm cách chế ngự vọng tâm. Vọng tâm lấy ngã làm chủ thể, nếu thường niệm Phật thay cho niệm ngã, lâu dần ngã mất Phật hiện, thì vọng thành chân, chân hiện thì tịnh độ hiện, trong kinh nói chỉ cần niệm nhất tâm bất loạn là vãng sinh bất kể niệm nhiều ít. Công phu ở đây là sao cho có Phật ở trong mỗi niệm như tôi hằng có trong mỗi niệm của vọng tâm, khi Phật hiện hữu trong từng niệm của người tu thì niệm tôi không còn nữa, tôi không còn thì tham sân cũng theo đó ra đi mất dạng để lại sự tươi sáng an lạc cho tâm.
Người tu tịnh chấp cú bỏ nghĩa nên dùng khẩu niệm sao cho nhiều bất chấp mỗi niệm ấy đều vọng tưởng tứ tung. Dùng tâm tôi tu tịnh thông qua khẩu niệm thì may ra trong khi miệng niệm thì có Phật trong ý nghiệp, nhưng ngay khi khẩu ngừng niệm, tôi và thân nhân tôi lại trở về trong ý thức mời Phật dời lên điện thờ nghỉ ngơi. Nếu dùng tâm tịnh có Phật sẵn trong ấy như ngài Triệt Ngộ khuyên thì khẩu có niệm danh Phật hay không, tâm vẫn có Phật mà chẳng có tôi, đã chẳng có tôi thì vừa nhất tâm vừa bất loạn, vì thế kinh nói chỉ cần trong vòng mười niệm có thể được nhất tâm bất loạn và quyết định vãng sinh.
Trở về vấn đề trong mỗi niệm đều có Phật mới bất loạn tâm, ta cần hiểu rõ tùy theo sự thanh tịnh hay trí huệ của người tu mà Phật hiện nơi tâm mỗi người mỗi khác, nếu mỗi niệm đều có tướng Phật tượng thì tâm tịnh bậc hạ, nếu có tướng Phật hành độ sinh thì tâm tịnh bậc trung, nếu có vô tướng Phật tức thanh tịnh pháp thân, không còn chúng sinh và Phật, cũng không tịnh hay uế, không có người sinh và cõi sinh thì tâm thanh tịnh bậc thượng. Tùy theo phẩm bậc thanh tịnh của tâm mà sinh vào phẩm bậc tương ưng trong cửu phẩm liên hoa.
Tín chúng tu tịnh không nên mê muội tin rằng cứ dùng khẩu nài nỉ xin xỏ Phật kia sẽ động lòng thương đón về cõi ngài, vì ngài có lực từ bi lớn đưa được kẻ ác về cõi tịnh. Giả như điều này là thật thì xin chia buồn với các vị, bởi cõi tịnh không có môi trường và nhân duyên cho tham sân sinh hoạt, các vị đã không dám phát tâm thanh tịnh đoạn mọi ác, hành mọi thiện vẫn thèm ăn thịt cá, vẫn tham thú vui gia đình, vẫn còn nhiều thứ hưởng thụ ham vui nên mỗi tháng ở chùa trọn một ngày tu bát quan trai còn cảm thấy phải chịu đựng, nếu đúng pháp mỗi tháng 6 ngày phải thọ bát thì mấy người tu tịnh kham nổi? Nay vãng sinh mất sạch sành sanh các thứ vui thế gian kia, thay vào đó niệm tam bảo liên tục, liệu khi ấy có hối hận không? Có tìm cách trốn về Ta bà không? Vì vậy giả như kẻ có tâm dục "chẳng may" sinh về tịnh độ thì số phận họ thật hẩm hiu, rất may nhờ duy tâm tịnh độ nên những kẻ tham dục không phải sợ bị vãng sinh.
Tu tập thanh tịnh sẽ không là vấn đề mà còn là niềm phỉ lạc của những người ngộ được Phật tri kiến, vì mọi sự đoạn ác hành thiện đều là những nhân quả thâm nhập Phật tri kiến. Niềm vui của kẻ tham là nhận được, của Bồ tát là cho ra. Phàm phu sung sướng khi ăn nem công chả phượng, Bồ tát thực vui khi thấy công phượng an lành. Chúng sinh chỉ biết niệm lợi bản thân, Bồ tát thường niệm tam bảo vì đây là nền tảng của tự giác và giác tha. Vì vậy nếu không phát tâm thanh tịnh tất không thể vãng sinh, và dẫu có vãng sinh cũng hối tiếc mãi thôi.
Note
Để rõ nghĩa về tâm hãy tham cứu bài "Tâm Phật và Chúng sinh".
2. Tịnh độ
Tịnh là tịnh khiết vô cấu, hàm nghĩa vô phiền não. Độ là cõi nước, xứ sở. Tịnh độ là cõi thanh tịnh vô nhiễm chỉ cho cảnh giới y báo của chư Phật.
Hoàn cảnh nào đưa ta đến thanh tịnh thì đó là tịnh độ, nếu cho thất bảo là tịnh độ hay hoàn cảnh tốt đẹp để tận hưởng là tịnh độ thì cõi trời cũng là tịnh độ ư?. Cõi trời tuy tốt đẹp song không giúp chúng sinh thanh tịnh mà khiến chúng sinh tham đắm ái nhiễm nên không được gọi là tịnh độ, mà còn bị cho là bát nạn như Trường thọ thiên hay Bắc Câu lô châu vì làm chướng đạo. Trái lại cõi nhiễm tuy uế trược nhưng lại giúp người phát tâm yếm ly cầu giải thoát nên uế đó lại hóa tịnh độ. Vì vậy Như lai mượn ngũ trược ác thế để thành đạo bồ đề, nên ngũ trược ác thế cũng là tịnh độ của Như lai, do đó Như lai nhiếp thủ ác thế độ những chúng sinh thuận với ác đạo, như trong kinh Duy ma phẩm Phật quốc nói: Bồ tát tùy theo chúng sinh nên dùng pháp nào nhập được trí huệ của Như lai thì bồ tát nhiếp thủ tịnh độ ấy.
Cảnh giới thất bảo của tịnh độ đều thuộc về công đức nên ai thấy cũng sinh tâm "niệm tam bảo", mà không dẫn tới sự tham lam hưởng thụ bảo vật, vì hưởng thụ tất có tham đắm và đó là vọng tâm, như vậy tịnh cảnh lại trở thành cõi tham dục, mất đi ý nghĩa thanh tịnh bất động, tâm vô sở trụ. Vô sở trụ mới chính là trụ chân tịnh độ, vì như kinh Kim cương dậy không trụ lục trần sinh tâm, mà chỉ thuần là giác chính tịnh (niệm Phật, niệm pháp, niệm tăng). Thánh chúng ở tịnh độ phàm thấy sắc nghe thanh đều không sinh tâm phân biệt thích ghét mà chỉ thuần niệm danh tam bảo. Vì sao? Vì họ không trụ sáu trần sinh tâm, do tâm vô sở trụ. Tâm vô trụ này là tâm vô phân biệt, bất động, vô nhiễm tương ưng với cõi tịnh và cũng chính là tâm thanh tịnh của chư Phật. Tất cả những người vãng sinh do nhất tâm với Phật nên không động loạn trước mọi cảnh và âm thanh, tâm họ bất động vẫn an trú trong tam bảo.
Do lý lẽ trên ta có thể kết luận rằng hễ tâm thanh tịnh thì vãng sinh. Tâm thanh tịnh đồng với tâm Phật nên nói là nhất tâm bất loạn. Vì vậy muốn vãng sinh trước nhất phải tự thanh tịnh tâm mình như kinh Duy Ma dạy "muốn cầu tịnh độ, hãy tự tịnh tâm, tùy theo tâm tịnh, mà cõi Phật tịnh". Lời dạy trên nêu lên ý nghĩa tâm tịnh thì độ tịnh, nên độ ở đây hàm nghĩa là tâm. Tâm tịnh bao gồm nhị báo là Phật và niết bàn, thế nên hễ tâm tịnh thì thấy Phật và cõi tịnh niết bàn, như Kinh Pháp hoa phẩm Như lai thọ lượng dạy "Nguời nào dùng tâm thanh tịnh mà muốn thấy Như lai, thì bất cứ lúc nào và ở đâu cũng thấy được Như lai, vì vậy mà quốc độ hiện thời của chúng sinh vẫn thanh tịnh an vui và tốt đẹp, chỉ do vô minh làm mờ chân tâm nên chúng sinh mới thấy thế giới nơi cấu uế và khổ cực."
Cần lưu ý rằng cõi tịnh là cõi phát tâm thành Phật, lập nguyện độ sinh nên cần phát tâm lập nguyện trước khi tu tập, nhờ vậy tịnh độ mới thành. Khác với cõi trời, tịnh độ không để hưởng thụ, bởi hưởng thụ sẽ khiến tâm và cõi loạn động bất tịnh.
Nhiều tín chúng tu tịnh hiểu lầm cõi tịnh nằm ngoài tâm, như một cõi thiên đường hưởng lạc, nhưng có Phật ngự trị, sinh về cõi ấy không sợ lão bệnh tử, được dục lạc như ý, lại sống trường thọ trong cảnh như nguyện, sinh về cảnh giới đó quả thật không cần đến phát tâm thanh tịnh.
Sinh về cõi thiên không cần phát tâm thanh tịnh do cõi trời vẫn thuộc dục giới và nơi ấy từ Thiên chủ đến thần dân đều không có nhu cầu giác ngộ nên không cần ly dục, do yếu tố không ly dục, không cầu thanh tịnh giải thoát nên không được coi là tịnh độ. Riêng nội cung cõi trời Đâu suất nơi Phật đương lai ngự trị thì được gọi là tịnh độ, vì những ai nguyện sinh về nội cung đều mong được giải thoát trong tương lai khi cùng Phật đương lai hạ sinh. Như vậy bất kì cõi nào được gọi là tịnh độ đều là cõi nhằm đạt đến giải thoát mà muốn giác ngộ tất phải chuyển dục tâm thành tịnh tâm. Vì vậy người tu tịnh nếu chưa phát tâm thì hãy mau phát tâm, nếu không công phu niệm Phật bằng tâm mê lâu nay sẽ kể bằng không, giả như nếu có vãng sinh cũng sinh vào chốn Thai cung như trong kinh Vô Lượng Thọ miêu thuật. Thai cung tạm hiểu như một cõi trời trong tịnh độ nơi không thấy Phật nghe pháp, ngược lại với Đâu suất nội cung là cõi tịnh nằm trong cung trời.
3. Vấn đề vãng sinh
Hành giả tu tịnh độ chú trọng về ba phương diện Tín, Hành và Nguyện. Tín là tin vào sự tiếp dẫn của đức Phật Di Đà, Hành là thực hành niệm Phật chân thành, Nguyện là một lòng thiết tha cầu sinh tây phương. Liên tông gọi ba điều này là ba món tư lương của hành giả tu tịnh.
Tín nguyện hành
Thế nhưng ba món tư lương này cũng cần phải dùng trí để hiểu đúng. Trí là sự hiểu biết đúng với nhân quả, sự hiểu này gọi là trí huệ hiện diện trong cả ba tín nguyện hành, nhờ trí huệ mà tin đúng (chính tín), nguyện đúng (chính nguyện), và hành đúng (chính hành), nhờ tín nguyện hành đúng với nhân quả nên thành tựu chính quả.
Do vậy không thể tin bừa vào tà trí, thứ hiểu biết không đúng với nhân quả này sẽ phát sinh tà tín và mê tín hoặc mê muội nhân quả. Chúng sinh vô trí hay tin vào những thứ thấy lợi trước mắt mà mù lòa với những hậu quả thảm họa đằng sau.
Cách tốt nhất để có trí huệ thấy rõ quả báo của mọi sự là dùng nhân quả cứu xét để nhận ra trồng chuối không thể ra quả cam được, nhân nào quả nấy, không nhân thì không quả, đừng vô trí ham hố tin rằng cầu nguyện là nhân sinh mọi quả. Đức Phật chưa từng rao giảng điều này, ngài luôn khẳng định "Như lai chỉ là người hướng đạo, mọi người đều phải tự thắp đuốc lên mà đi". Như lai không thể tạo quả mít cho người trồng mía được. Ai trồng gì thì gặt nấy. Không những phải thâm tín nhân quả, mà phải thâm tín mọi pháp của đức Phật đều là nhân quả pháp, hễ ngoài nhân quả đều là tà pháp.
Thâm tín nhân quả là chính tín. Muốn biết làm thế nào để vãng sinh tất phải dùng trí huệ hiểu rõ nhân quả của pháp này. Quả tịnh độ tức cảnh giới thanh tịnh vô cấu, vậy nhân tịnh độ cần phải thanh tịnh vô cấu.
Về hành có hai cách lập nhân thanh tịnh phổ biến trong tịnh độ tông là phát tâm bồ đề và chỉ cần niệm Phật.
Phát tâm bồ đề là lối niệm Phật tích cực, vì lấy tâm Phật hợp nhất với tâm ta, nhờ vậy dễ đạt được nhất tâm bất loạn. Nhờ vào nhất tâm mới được vãng sinh, nên cư dân tịnh độ tâm vô động loạn, vì vậy phàm đối trước bất kì sự vật nào ở thế gian cũng vô nhiễm không sinh tâm nhị biên thủ xả mà vẫn bất động nhất tâm niệm Phật pháp tăng.
Liên tông thập nhị tổ Triệt Ngộ khéo lập phương tiện thiện xảo dạy tín chúng hãy dùng tâm có sẵn Phật bên trong niệm Phật sẽ mau có tác dụng nhất tâm. Tâm có sẵn Phật chính là tâm bồ đề, song vì chúng sinh dị ứng với phát tâm nên ngài tránh nói phát tâm mà khuyên dùng tâm có Phật niệm Phật, để tín chúng không cảm thấy khó làm.
Đối với người chưa dám phát tâm, đức Phật chỉ dạy họ thường xuyên niệm Phật để cảm hóa tâm phàm, khiến Phật ảnh hưởng mạnh dần nơi mỗi niệm trong tâm họ, nhờ vậy thanh tịnh tăng trưởng. Nếu nói phát tâm bồ đề là pháp niệm Phật tích cực thì niệm Phật là sự phát tâm bồ đề tiêu cực. Nhưng do căn tính cấu nhiễm nên chúng sinh cảm giác khó phát tâm và hợp với niệm Phật hơn, nhất là lại được các đại sư như Đạo Xước, Thiện Đạo ở Trung quốc cổ xúy, lại thêm thầy trò Pháp Nhiên và Thân Loan của Tịnh độ chân tông ở Nhật tiếp nối đề cao niệm Phật là chính hành vãng sinh nên không cần phát tâm. Đặc biệt là đại sư Đạo Xước chủ trương "khí Thánh quy tịnh", bỏ Thánh đạo môn là nan hành đạo, quy y Tịnh độ môn là dị hành đạo. Với lập luận Thánh đạo bao gồm pháp tu của mọi tông phái đều nhắm đến chứng Thánh quả, và phát tâm là căn bản để tu tập Thánh đạo. Khác với Thánh đạo nan hành, Tịnh độ môn không cầu Thánh quả nên không thuộc Thánh đạo môn, và vì vậy chẳng cần phát tâm chỉ cần niệm Phật là hoàn thành mục đích vãng sinh nên gọi là dị hành đạo. Những lập luận dễ hành lại dễ thành đó rất hợp tâm ý chúng sinh, nên pháp tu này truyền tới tận ngày nay vẫn chiếm đa số đồ chúng đại thừa, trong khi phần lớn các tông phái khác đã chỉ còn là xác ướp trong các trang sách lịch sử Phật giáo đại thừa.
Hành giả tu tịnh cho tín là tin Phật A Di Đà sẽ tiếp dẫn người niệm Phật nếu họ nguyện sinh và thực hành niệm danh Phật. Như vậy niệm Phật là chính nhân để vãng sinh, các vị Tổ sư ban đầu như Đạo Xước và Thiện Đạo chủ trương chỉ cần chân thành niệm Phật liên tục là đủ được vãng sinh mà không chú trọng đến nhất tâm bất luận. Theo kinh A Di Đà thì niệm Phật nhất tâm bất loạn mới vãng sinh cho dù chỉ niệm trong 10 ngày thậm chí chỉ 10 niệm, mà không màng đến việc niệm nhiều ít. Nhất tâm bất loạn như đã nói rõ ở phần trên mới là chính nhân vãng sinh Cực lạc, nếu chỉ trọng khẩu niệm mà tâm không hợp nhất với Phật, thì sẽ cùng Phật đôi đường đôi ngả.
Do không nhất tâm với Phật nên tâm hằng tán loạn, khẩu niệm mà tâm vẫn mong sắc thân trường thọ để hưởng ngũ dục thay vì mong sớm sinh tịnh độ để được giải thoát. Tuy nguyện vãng sinh thế nhưng tín đồ tu tịnh đa phần sợ chết, khi bịnh đau hay gặp cảnh nguy nàn họ đều niệm Phật để đừng chết thay vì cầu Phật đến tiếp dẫn. Họ niệm danh Phật để cầu sống hơn là để vãng sinh, họ chỉ đành chấp nhận vãng sinh khi mà mạng sống không còn giọt nước nào để tát nữa.
Sở dĩ người tu bị tẩu hỏa nhập ma như vậy là do không phát tâm nên dùng tâm nhiễm niệm Phật, đã là tâm nhiễm tất nhiên bám trụ cõi nhiễm, không thật lòng cầu vãng sinh, vì vậy không sao hợp nhất với tâm Phật được, lại không chú trọng đến nhất tâm bất loạn, do loạn tâm nên niệm rất nhiều mà vẫn sợ bị vãng sinh quá sớm, chỉ mong niệm cho nhiều để được quả báo trường thọ Ta bà, chung cục đi ngược lại với nguyện vãng sinh. Tín đồ tu tập tịnh độ không nhận ra điều mâu thuẫn này trong tâm họ. Do thiếu trí huệ nên tu tập mâu thuẫn như vậy, chẳng phải là do vì u mê thiếu trí không hiểu duy tâm tịnh độ, nên mới không chịu phát tâm đó sao?
Nói chung tịnh độ đã duy tâm tất nhiên muốn cầu cõi tịnh tất phải phát tâm thanh tịnh là tâm có Phật mà không có tôi tức tâm bồ đề. Nếu tu tịnh mà vẫn khăng khăng không phát tâm vẫn dùng cái tâm xưa nay chỉ có tôi mà không có Phật niệm Phật thì sẽ chỉ cầu cho tham dục của tôi hơn là cầu vãng sinh (như đã giải thích ở phần trên), như thế càng niệm thì tôi và Phật càng là hai thái cực không thể nhất tâm được, và do đó cảnh giới của họ cũng ngược lại với cõi tịnh của Phật, đó là lý do họ sẽ tái sinh hơn là vãng sinh. Cổ đức nói "ái bất trọng bất sinh Ta bà", tham ái không nặng sẽ không sinh về Ta bà.
Tâm tôi chỉ có tôi, tâm Phật không có Phật chỉ có chúng sinh. Nếu hai tâm hợp nhất chỉ còn tâm Phật gọi là nhất tâm bất loạn, tịnh độ là y báo của tâm thanh tịnh bất loạn này. Và khi chỉ còn tâm Phật thì trong tâm này không có tôi và Phật nữa, mà chỉ có toàn bộ chúng sinh cần được cứu độ, do vậy nhất thiết chư Phật chỉ làm một việc đó là độ sinh. Tuy độ sinh mà không hề thấy có Phật độ và chúng sinh được độ, vì tâm Phật không hề có cái tôi hay Phật nào tồn tại.
Tóm lại phát tâm thanh tịnh bồ đề là chính nhân của tịnh độ như kinh Duy Ma miêu tả.
Các lập luận phổ biến về tu tịnh.
Nhiều pháp sư tịnh độ tin rằng chỉ cần niệm Phật mà không cần phát tâm bồ đề hay trì giới hành thiện cũng đủ để vãng sinh, đặc biệt là lập luận cực đoan của Thân Loan người sáng lập Tịnh độ chân tông ở Nhật bản còn dạy "người ác mới là đối tượng được tiếp dẫn", nên người tu tịnh không cần làm thiện. Lập luận này không phù hợp với giáo pháp căn bản của Phật giáo là thâm tín nhân quả. Khẩu niệm mà tâm không niệm là niệm dối, chả khác gì kẻ dối trá thường nói lời không đúng với tâm tư, dối trá mà vãng sinh được sao? Hơn nữa cảnh do tâm sinh, chúng sinh tâm cấu uế nên sống trong cõi trược đầy não phiền, giờ muốn về cõi tịnh tất nhiên cần bỏ uế tâm hân cầu tịnh tâm, há lại chỉ do miệng lưỡi niệm suông mà thế giới đổi thay ư?. Lại đừng quên rằng Như Lai nhắn nhủ niệm Phật không kể nhiều ít, từ 10 niệm hay trong mười ngày hễ nhất tâm bất loạn là vãng sinh, ngài nào có nói "nhất khẩu bất đình" đâu. Cho dù những kẻ "nhất khẩu" nếu được vãng sinh, khi thấy cảnh giới trang nghiêm trân bảo cùng với âm thanh vi diệu liệu tâm có loạn động phân biệt thích thứ này hơn thứ nọ không? Và liệu tâm động loạn ấy có niệm tam bảo nổi không?. Tâm chúng sinh động loạn như ngựa hoang vượn nhẩy nắm bắt phân biệt mọi thứ khiến thế gian không có lấy sát na yên bình. Tâm thánh chúng nhất tâm bất loạn tạo nên cảnh giới an lạc thanh tịnh. Rõ ràng tâm tịnh nên cảnh tịnh, tâm uế thì cõi uế. Giặc cướp tới đâu bất ổn tới đó, Thánh nhân ở đâu nơi ấy yên bình, bấy nhiêu cũng đủ chứng minh duy tâm tịnh độ.
Lại có pháp sư lý luận nếu không cầu vãng sinh, người tu chưa đạt đạo khi chết sẽ không có chỗ quy túc an toàn, hoặc phải tái sinh cõi uế bị các duyên trần xóa sạch công phu đời trước, phải tu lại từ đầu. Lập luận này rất ngây ngô. Trong kinh Duy Ma đức Phật dạy rằng khi bồ tát tu hành tịnh độ bằng nhân nào thì khi thành Phật quả những chúng sinh được độ và những ai hữu duyên với nhân tu ấy sẽ sinh về thế giới của Phật đó. Ví dụ như đức Phật Thích ca lấy sự tu nan hành đạo độ sinh trong cõi ác làm nhân tu tịnh độ, những người đắc độ sinh vào cõi ngài (Ta bà) đều có nhân duyên độ sinh bằng nan hành đạo, nên sinh hoạt lẫn lộn với phàm phu tham dục vô trí, trong cõi Thánh phàm đồng cư độ.
Trong mười phương thế giới có vô lượng Phật với vô lượng pháp môn nên có vô lượng tịnh độ. Như vậy ai tu bố thí thì sẽ sinh về cõi tịnh của Bố thí Phật, ai tu nhẫn nhục thì sinh về cõi tịnh nhẫn của Phật nhẫn nhục… mà chẳng sợ bơ vơ không chỗ về. Ai cũng có chỗ quy túc tùy theo nhân họ gieo, kẻ ác khi chết cũng chẳng hề bơ vơ đã có tử thần hộ tống gã vào đến tận bên trong địa ngục an toàn, không sợ thiên thần cướp đi.
Nếu không phải duy tâm năng sinh tịnh độ thì chúng ta có dụng tâm tu hành đến đâu cũng không cải sửa được hoàn cảnh uế trược hiện tại. Nếu do tâm tu hành tích tụ công đức nên cảnh giới được thăng hoa, tất nhiên đó là bằng chứng của duy tâm tịnh độ. Lại nếu không do tịnh tâm mới vãng sinh thì cõi tịnh có nhiều kẻ bất tịnh hiện diện khiến cõi tịnh trở nên bất ổn, vì vậy mong rằng những ai tin chỉ cần niệm là vãng sinh nên giác ngộ và bỏ đi lối suy nghĩ ngây ngô không tưởng này.
4. Mối liên hệ giữa nhân quả và Tịnh độ
Tu tập tức cải đổi chính báo là thân tâm hay nói khác hơn là ba nghiệp. Tu chính kiến, chính tư duy, chính niệm và chính định cho ý nghiệp thanh tịnh. Hành chính ngữ cho khẩu thanh tịnh. Hành chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến cho thân nghiệp thanh tịnh. Khi ba nghiệp thành tám chính đạo, tức thân tâm đều thuần chính, khi đó y báo cũng chính, đó là niết bàn.
Cách diệt khổ là trừ tập bằng đạo, hễ tập diệt đạo thành thì khổ mất diệt sinh. Tập là rễ sinh cỏ dại khổ, muốn nhổ cỏ khổ phải nhổ tận gốc tập. Tập lại là đặc sản của tâm nhiễm, nên cách diệt tận mọi tập là vứt bỏ nhiễm tâm, thay bằng tịnh tâm là gốc sinh ra đạo. Như vậy rõ ràng là nhân thay thì quả đổi, quả tùy nhân sinh. Nguồn gốc phát sinh ra mọi uế tịnh đều do tâm, thế nên chọn tâm (phát tâm) là nền tảng để thay đổi nhân quả. Vì thế kết luận rằng "duy tâm tịnh độ" có nghĩa tịnh độ ở tâm thanh tịnh của nhất thiết chư Phật và chúng sinh. Nếu chấp cảnh ngoài tâm riêng có, nên chỉ cầu thay cảnh mà không thay tâm thì dẫu niệm Phật đến mấy đi nữa cũng vẫn chỉ là nấu cát mong thành cơm.
Và một lần nữa chúng ta kết luận rằng phát tâm là sự thay đổi nhân quả từ uế sang tịnh, từ mê sang ngộ, từ phàm sang Thánh, đó là công đức không thể nghĩ bàn của phát bồ đề tâm.
Vãng sinh bằng Sám hối.
Nếu không phát tâm tịnh thì diệt tâm uế vậy, hễ uế diệt thì tịnh thành. Người tu có thể dùng liệu pháp sám hối tu tập tịnh độ, vì một khi muốn sinh cõi tịnh, tất nhiên phải nhận ra đây là uế độ cần xả bỏ, có xả được uế cõi tịnh mới sinh, vậy xả uế bằng cách nào? Dùng sám pháp tiêu trừ cấu uế, theo tinh thần "uế tùng tâm khởi, tương tâm sám. Tâm nhược diệt thời, uế diệc vong. Uế vong tâm diệt lưỡng câu không. Thị tắc danh vi chân tịnh độ.", uế đã từ tâm sinh nên đem tâm sinh uế đó ra trừ khử, khi tâm đó diệt rồi thì uế sạch bóng, khi cả hai đều không còn, thì đó chính là chân tịnh độ. Phát tâm tịnh hay trừ tâm uế chỉ là hai phương tiện quy về một cứu cánh, đồng thể hiện tinh thần "duy tâm tịnh độ".
Vãng sinh bằng Phát tâm Lập nguyện.
Liên tông thập nhất tổ Tỉnh Am nhấn mạnh phát tâm là cửa chính yếu để vào đạo; lập nguyện là việc cấp bách phải tu trước nhất. Vì phát tâm thanh tịnh mới thành Phật quả, lập nguyện thanh tịnh mới độ được chúng sinh. Hai việc thanh tịnh này là công đức vô thượng, do nhiếp mọi pháp thanh tịnh khiến ta và chúng sinh đều thành Phật đạo. Phát tâm lập nguyện đã là thượng phẩm thanh tịnh nên cảnh giới của tâm này cũng tương ưng thanh tịnh vô thượng, đó là cảnh giới Thường tịch quang cho đến Vô trụ niết bàn.
Phát tâm thành Phật đã là cửa chính yếu để vào đạo, tất nhiên việc tu hành cấp bách để tiến vào cung trạch Như lai phải hành trước nhất là lập nguyện độ sinh. Nếu chần chừ hoặc không hành dĩ nhiên sẽ không có cửa đề bước vào đạo và như thế có tu học bao kiếp đi nữa cũng vẫn là kẻ bên ngoài đạo giải thoát, nên kinh gọi hàng này là ngoại đạo trong nhà Như Lai.
Niết bàn và Tịnh độ.
Niết bàn là cảnh giới bao gồm bốn đức "thường lạc ngã tịnh" của bậc giác ngộ. Tùy theo dụng mà phương tiện phân ra nhiều loại niết bàn, còn theo bản thể mà nói thì hết thảy chư Phật và chúng sinh đồng có chung một niết bàn là Tự tính thanh tịnh niết bàn, đó chính là bản tâm tự tính chân thật xưa nay của nhất thiết hữu tình. Niết bàn này đã là bản tâm thì tất nhiên gọi là duy tâm niết bàn, nếu nói theo ngôn từ thế tục thì niết bàn này là cõi tịnh cao nhất và chân thật nhất, nói nôm na là quê hương cội nguồn an lạc của mọi chúng sinh. Niết bàn đã là chân tịnh độ và cũng là bản tâm, như vậy thực dễ dàng để kết luận duy tâm tịnh độ.
Phật pháp có thanh tịnh là cộng pháp của mọi pháp môn, và nhiều biệt pháp như niệm Phật của tịnh môn, tĩnh tọa của thiền môn, trì chú của mật môn… bất luận niệm Phật, thiền tọa, trì chú đều nhắm đến thanh tịnh thân tâm, thế nên pháp môn cũng đạt đến tâm thanh tịnh, tức đắc tự tính thanh tịnh niết bàn hay vô thượng tịnh độ, gọi đó là thù đồ nhi đồng quy, tuy khác đường nhưng cùng đến một nơi.
5. Hai hạng cầu vãng sinh.
1/ Hàng phàm phu chỉ thích y báo tức cõi Phật được thiết lập bởi trân bảo mà không mộ chính báo là thân Phật được thiết lập bằng bồ đề tâm tức đại nguyện thượng cầu hạ hóa, còn gọi là vô thượng tâm. Phàm phu thích quả mà chẳng thích nhân, thích tịnh độ mà không cầu thành Phật. Họ không biết thân Phật tức thân Di đà bao hàm vô lượng công đức, vô lượng quang và vô lượng thọ. Nhờ vô lượng quang nên chứng vô ngã, do vô lượng thọ nên dứt được vô thường, nhờ vô lượng công đức nên chấm dứt mọi khổ lạc thuận nghịch nhị biên, vô vi tịch tĩnh bất động. Nhờ tam vô lượng này mà trụ cõi thường tịch quang.
2/ Hàng thượng căn chính niệm không cầu quả hay y báo, mà chú tâm nơi chính báo, nên phát tâm lập nguyện nương hoàn cảnh thanh tịnh của Phật tu tập, mến mộ cảnh tịnh vì lục trần lục căn đều thanh tịnh năng sinh lục thức quy y tam bảo tức niệm Phật niệm pháp niệm tăng. Phàm thấy sắc nghe thanh đều sinh tâm quy y và niệm tam bảo. Ngay từ phát tâm cầu sinh tịnh độ, hành gỉa đã bắt đầu tu tập pháp thanh tịnh bằng cách quy hướng tịnh độ vì tam quy y mà không vì trân bảo và mọi thần thông diệu dụng khác. Cổ đức răn dạy người tu tịnh độ phát tâm thanh tịnh bằng câu "nhữ hà nguyện" bạn nguyện gì? Nguyện sinh tây phương. Sinh tây phương làm gì? Để thành Phật. Thành Phật để làm gì? Để vào địa ngục. Vào địa ngục để làm gì? Để độ chúng sinh. Tốt, hãy niệm Phật. Nhờ vào tâm thanh tịnh ấy mà sinh về cõi tịnh, tâm thanh tịnh tiếp xúc với mọi thứ công đức bảo ở tịnh cảnh đều niệm Phật pháp tăng. Vì sao cư dân tịnh độ nghe hay thấy bất kì thanh âm hoặc cảnh vật nào cũng niệm Phật pháp tăng? Đó là do nơi tâm với tam bảo là một, gọi là nhất tâm bất loạn. Nếu như không nhất tâm mà sinh về tịnh độ tất khi đối cảnh trân bảo hay nghe âm thanh cũng sinh tâm phàm tục hưởng thụ mà sẽ không niệm tam bảo. Vì vậy điều kiện tiên quyết để vãng sinh là nhất tâm bất loạn, song điều này bị phần đông người tu tịnh độ hốt lược bỏ qua. Họ chỉ rêu rao không cần phát tâm, không cần hành thiện chỉ cần niệm danh Phật là được vãng sinh. Nhưng không phát tâm thì làm thế nào tâm nhiễm của họ có thể hợp nhất với tâm Phật, nếu cho rằng nhờ Phật lực hợp nhất tâm ta với tâm Phật thì đức Phật hà tất phải bắt niệm đến nhất tâm. Trong kinh Pháp Cú đức Phật dạy "Tự mình tạo ác nghiệp, tự mình gây nhiễm ô. Tự mình không tạo ác, tự mình thanh tịnh mình. Nhiễm, tịnh do tự mình, không ai thanh tịnh ai". Lời dạy này chứng minh ai cũng phải tự thanh tịnh, đức Phật dạy đồ chúng cách tự thanh tịnh mà ngài không làm thanh tịnh dùm ai được.
Phát tâm lập nguyện nên chính báo tương ưng với chính báo của Phật đó là cảm ứng đạo giao. Vừa y giáo Bổn sư là tương ưng với ngài, vừa nhờ phát tâm chính niệm đó mà tương ưng với vô lượng Phật, nên vô lượng tịnh độ đều hiện bầy thay thế vô lượng uế độ, gọi đó là cực lạc, vì được vô lượng tịnh, trừ vô lượng bất tịnh, thành tựu vô lượng an, vô lượng lạc đó chính là cực lạc.
6. Đái nghiệp vãng sinh
Đái nghiệp vãng sinh được hiểu là không cần phải tiêu trừ hết tội chướng mới được vãng sinh. Có hai lối diễn giải liên quan đến vấn đề này.
1/ Đa phần người tu tịnh độ cho rằng có thể đái nghiệp vãng sinh nên chỉ cần thiết tha niệm Phật cầu sinh là chính hành duy nhất, ngoài ra các thứ tu thiện, giữ giới, định huệ đều là tạp hành không nhất thiết phải tu. Do vậy nên hà tất phải làm chuyện khó khăn như phát tâm bồ đề, hành bồ tát đạo, cứu khổ chúng sinh hoặc sám hối tội nghiệp, vì đức Phật sẽ tiếp dẫn ta đái nghiệp vãng sinh, sau khi vãng sinh thì nghiệp tội bị tiêu diệt ở cõi tịnh. Sướng thật! thế nhưng sự thực đúng với nhân quả thì nghiệp thiện ở khẩu không cứu được nghiệp tội nơi thân tâm, bởi tâm làm chủ ba nghiệp. Các nghiệp tội sẽ chiêu cảm nên quả báo cho kiếp tương lai, đức Phật không thể đổi quả cho ai được.
2/ Số khác cho rằng nghiệp do tâm sinh, muốn trừ nghiệp phải trừ tâm sinh nghiệp, như văn sám hối nói "tội tùng tâm khởi tương tâm sám, tâm nhược diệt thời tội diệc vong" tội do tâm sinh nên đem tâm ấy sám hối, tức bỏ tâm ấy đi, tâm bị bỏ rồi tội theo tâm ấy cùng mất. Quả vậy diệt tội không có nghĩa là để gốc tội là tâm nhiễm y si rồi chỉ cần nhờ vào lực Phật mà quả thanh tịnh sẽ thành tựu trong tâm nhiễm. Nếu quả thực như thế đức Phật sẽ chẳng cần nói đến bốn chữ nhất tâm bất loạn.
Về vấn đề này tổ thứ 12 của tông Tịnh độ Triệt Ngộ đại sư nhắc nhở người tu phải dùng tâm "có sẵn Phật bên trong" niệm Phật, mà không được dùng tâm nhiễm ô niệm Phật. Tâm có Phật là bồ đề tâm. Xét cho cùng thì khi chuyển phàm tâm thành tâm bồ đề thậm chí cho đến phát tâm chân thành niệm Phật đều giúp tâm thanh tịnh nhờ vậy tội diệt phúc sinh. Sạch tội thì phúc tăng, đồng với tội nghiệp giờ chuyển hết (vãng sinh) qua phúc nghiệp, đó cũng là một hình thức đái nghiệp vãng sinh. Lập luận này hợp với pháp nhân quả và khả tín hơn.
Tựu chung khi tâm thanh tịnh không chút nhiễm ô mới cảm nhận được cảnh giới thanh tịnh, vì vậy khi vãng sinh sẽ chẳng còn chút nghiệp nào để vác (đái) theo nữa. Như vậy đái nghiệp vãng sinh nên hiểu là chuyển nghiệp vãng sinh, nói rõ hơn là nhờ niệm Phật chân thành mà nghiệp tội chuyển thành nhân thanh tịnh đưa đến quả vãng sinh.
Mong rằng mọi người tu tịnh nhận chân về nhân quả để không còn những ngộ nhận tai hại, làm oan gia của chư Phật, hầu phát sinh chính tín, dõng mãnh phát tâm lập nguyện đưa chúng sinh cùng ta về cảnh tịnh của chân tâm.
Tóm lại thanh tịnh là tâm cầu giác ngộ, thiện là tâm làm mọi việc lành cầu phúc mà không cầu giác ngộ, nên chỉ có pháp giác ngộ mới được gọi là thanh tịnh pháp, đức Phật là bậc giác ngộ viên mãn nên được gọi là Thanh tịnh pháp thân. Cõi tịnh là y báo của tâm tịnh, cõi trời là y báo của tâm thiện. Cõi tịnh hướng đến giác ngộ, cõi trời hướng đến hưởng phúc dục lạc. Tịnh độ đã là y báo của tịnh tâm, tất nhiên hễ không có tịnh tâm thì không thể có tịnh độ, vì thế nên nói duy tâm tịnh độ, có nghĩa tâm quyết định việc tịnh độ có hiện hữu hay không.
GK 12.12.21