Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Khong-The-Dung-It-Thien-Can-Phuoc-Duc-Nhan-Duyen-De-Duoc-Sanh-Coi-Ay

Không Thể Dùng Ít Thiện Căn Phước Đức Nhân Duyên Để Được Sanh Cõi Ấy
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không | Dịch Giả :Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt

Kinh A Di Đà nói “Không thể dùng ít thiện căn, phước đức, nhân duyên để được sanh cõi ấy”. Thiện căn của chúng ta quả thật là vô cùng sâu dầy, do vậy tự mình phải biết, phải trân quý. Có thể vãng sanh hay không là do trong đời này chúng ta có chịu buông xuống hay không, buông xuống được thì nhất định vãng sanh được. Không chịu buông xuống phải đợi tới lần sau, nhưng lần sau không biết sẽ phải trải qua bao nhiều đời, bao nhiêu kiếp, rất khó biết. Nói chung thì chúng ta sẽ vãng sanh, nhưng chúng ta phải biết đời này không vãng sanh được, sẽ phải trôi lăn trong lục đạo luân hồi, không biết phải luân hồi tới bao giờ, phải sanh tử bao lâu, phải chịu đau khổ tới chừng nào, rất oan uổng! Ngày tháng trong lục đạo chẳng vui sướng chút nào, chúng ta thật sự giác ngộ thì phải buông xuống.

Có một bạn đồng tu hỏi lão hòa thượng, ông ta niệm Phật nhưng chẳng buông nổi tình thân, tình thương con cái buông xuống không nổi, cứ vướng bận trong lòng, chẳng thể nào sánh với Phật được; Con cái quá thân thiết, Phật không thân thiết bằng con cái!  Vì ông có nghe băng giảng của lão hòa thượng, Ngài dạy nhất định phải buông xuống, nhất định phải thay đổi, nhưng phải làm sao mới thay đổi được? 

Lão hòa thượng dạy: “Chúng ta thương con cái, chăm sóc con cái có thể chăm sóc tới bao giờ?  Cho dù có thể chăm sóc suốt đời, đến đời sau có thể chăm sóc nữa hay không?  Đời sau là hết rồi, mỗi người đi một ngả, đời sau có gặp con mình cũng không nhận ra được”. 

Do vậy, chúng ta chăm sóc con cái chỉ trong một thời gian rất ngắn, không thể nào chăm sóc đời này qua đời khác được. Nếu không thể thì tình thương đó là giả, chẳng phải thiệt. Như thế nào mới thật sự thương yêu con cái, như thế nào mới thiệt?  Vãng sanh Cực Lạc thế giới. Khi vãng sanh Cực Lạc thế giới, chúng ta sẽ có thiên nhãn thông, thiên nhĩ thông, tha tâm thông, thần túc thông. Bất luận nguời nhà quyến thuộc của chúng ta sanh tới cõi nào, chúng ta đều có thể biết rõ ràng, họ nói chuyện gì chúng ta đều có thể nghe rõ ràng, họ nghĩ gì chúng ta cũng biết rõ, được vậy mới có thể chăm sóc cho họ mãi mãi, đó mới là thật, thật sự quan tâm, thật sự thương yêu chăm sóc.

Nếu chúng ta thật sự quan tâm, thật sự thương yêu, thật sự hiếu thuận, thì phải vãng sanh tới Cực Lạc thế giới. Nếu không sanh tới Cực Lạc thế giới, có hiếu thuận cha mẹ cũng chỉ được một đời, đời sau cha mẹ luân hồi trong lục đạo, sanh đến cõi nào chúng ta không làm sao biết được. Phải bó tay thôi! Do vậy tuy có tâm [hiếu thuận cha mẹ], nhưng chúng ta không có trí huệ, không có khả năng, chẳng giúp gì được. Nếu thật sự hiểu được những chân tướng sự thật này, chúng ta nhất định phải vãng sanh Cực Lạc thế giới. Chỉ có vãng sanh thì mới có thể giải quyết vấn đề này. Do vậy, trước mắt chúng ta chuyện gì cũng phải nhịn, phải nhẫn nại, tạm thời phải buông xuống, đừng tham ái. Khi sanh tới Cực Lạc thế giới, chúng ta mới có thể quan tâm. Do vậy, trước hết phải buông xuống rồi sau đó mới nhấc lên, chúng ta mới có thể thật sự chăm sóc [cha mẹ, con cái, thậm chí] hết thảy chúng sanh.
 
Trích từ: Nhìn Thấu Là Trí Huệ Chân Thật

Từ Ngữ Phật Học
Vãng sanh
(徃生): sau khi mạng chung sanh vào thế giới khác; thông thường từ này được dùng thay thế cho từ “chết”. Nếu nói về nghĩa rộng, vãng sanh có nghĩa là thọ sanh vào Ba Cõi, Sáu Đường cũng như Tịnh Độ của chư Phật; nhưng sau khi thuyết Di Đà Tịnh Độ (彌陀淨土) trở nên thịnh hành, từ này chủ yếu ám chỉ thọ sanh về thế giới Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Vãng sanh được chia làm 3 loại:
(1) Cực Lạc Vãng Sanh (極樂徃生), căn cứ vào thuyết của Vô Lượng Thọ Kinh (無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經); tức là xa lìa thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆), đi về cõi Cực Lạc Tịnh Độ của đức Phật A Di Đà ở phương Tây, hóa sanh trong hoa sen của cõi đó.
(2) Thập Phương Vãng Sanh (十方徃生), căn cứ vào thuyết của Thập Phương Tùy Nguyện Vãng Sanh Kinh (十方隨願徃生經), tức vãng sanh về các cõi Tịnh Độ khác ngoài thế giới của đức Phật A Di Đà.
(3) Đâu Suất Vãng Sanh (兜率徃生), y cứ vào thuyết của Di Lặc Thượng Sanh Kinh (彌勒上生經) cũng như Di Lặc Hạ Sanh Kinh (彌勒下生經); có nghĩa rằng Bồ Tát Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒) hiện đang trú tại Nội Viện Đâu Suất (s: Tuṣita, p: Tusita, 兜率), đến 16 ức 7 ngàn vạn năm sau, Ngài sẽ giáng sanh xuống cõi Ta Bà để hóa độ chúng sanh. Người tu pháp môn này sẽ được vãng sanh về cung trời Đâu Suất, tương lai sẽ cùng Bồ Tát Di Lặc xuống thế giới Ta Bà. Phần nhiều hành giả Pháp Tướng Tông (法相宗) đều tu theo pháp môn này.
Ngoài ra, còn có các tín ngưỡng vãng sanh khác như người phụng thờ đức Phật Dược Sư (s: Bhaiṣajyaguru, 藥師) thì sẽ được vãng sanh về thế giới Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) của Ngài; người phụng thờ Bồ Tát Quán Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) thì được vãng sanh về cõi Bổ Đà Lạc Ca (s: Potalaka, 補陀洛迦); người tín phụng đức Phật Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦) thì được sanh về Linh Thứu Sơn (靈鷲山); người tín phụng Hoa Nghiêm Kinh (s: Buddhāvataṃsaka-nāma-mahāvaipulya-sūtra, 華嚴經) thì được vãng sanh về Hoa Tạng Giới (華藏界); tuy nhiên, các tín ngưỡng này rất ít, nên vẫn chưa hình thành tư trào. Như đã nêu trên, Cực Lạc Vãng Sanh và Đâu Suất Vãng Sanh là hai dòng tư tưởng chủ lưu của Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, v.v. Đối với Tam Luân Tông, Thiên Thai Tông, Hoa Nghiêm Tông, Thiền Tông, v.v., Cực Lạc Vãng Sanh là phương pháp tự lực thành đạo. Riêng đối với Tịnh Độ Tông, tư tưởng này nương vào sự cứu độ của đức giáo chủ Di Đà làm con đường thành Phật, nên được gọi là Tha Lực Tín Ngưỡng. Còn Đâu Suất Vãng Sanh là tư tưởng thích hợp đối với Pháp Tướng Tông, được xem như là pháp môn phương tiện tu đạo. Tại Nhật Bản, trong Tây Sơn Tịnh Độ Tông (西山淨土宗) có lưu hành 2 thuyết về vãng sanh là Tức Tiện Vãng Sanh (卽便徃生) và Đương Đắc Vãng Sanh (當得徃生). Tịnh Độ Chơn Tông thì chủ trương thuyết Hóa Sanh (化生) vãng sanh về Chân Thật Báo Độ (眞實報土), và Thai Sanh (胎生) vãng sanh về Phương Tiện Hóa Độ (方便化土), v.v. Một số tác phẩm của Trung Quốc về tư tưởng vãng sanh như An Lạc Tập (安樂集, 2 quyển) của Đạo Xước (道綽, 562-645) nhà Đường, Vãng Sanh Luận Chú (徃生論註, còn gọi là Tịnh Độ Luận Chú [淨土論註], 2 quyển) của Đàm Loan (曇鸞, 476-?) thời Bắc Ngụy, v.v. Về phía Nhật Bản, cũng có khá nhiều thư tịch liên quan đến tư tưởng này như Vãng Sanh Thập Nhân (徃生拾因, 1 quyển) của Vĩnh Quán (永觀); Vãng Sanh Yếu Tập (徃生要集) của Nguyên Tín (源信); Nhật Bản Vãng Sanh Cực Lạc Ký (日本徃生極樂記) của Khánh Tư Bảo Dận (慶滋保胤); Tục Bản Triều Vãng Sanh Truyện (續本朝徃生傳) của Đại Giang Khuông Phòng (大江匡房); Thập Di Vãng Sanh Truyện (拾遺徃生傳), Hậu Thập Di Vãng Sanh Truyện (後拾遺徃生傳) của Tam Thiện Vi Khang (三善爲康); Tam Ngoại Vãng Sanh Truyện (三外徃生傳) của Liên Thiền (蓮禪); Bản Triều Tân Tu Vãng Sanh Truyện (本朝新修徃生傳) của Đằng Nguyên Tông Hữu (藤原宗友); Cao Dã Sơn Vãng Sanh Truyện (高野山徃生傳) của Như Tịch (如寂), v.v. Thần chú trì tụng để được vãng sanh về cõi Tịnh Độ là Bạt Nhất Thiết Nghiệp Chướng Căn Bản Đắc Sanh Tịnh Độ Đà La Ni (拔一切業障根本得生淨土陀羅尼), còn gọi là Vãng Sanh Quyết Định Chơn Ngôn (徃生決定眞言) hay Vãng Sanh Tịnh Độ Thần Chú (徃生淨土神呪). Trong Tịnh Độ Chứng Tâm Tập (淨土證心集) của Vạn Liên Pháp Sư (卍蓮法師) nhà Thanh có câu: “Tam Giáo đồng nguyên, thống Nho Thích Đạo, câu kham niệm Phật, nhất tâm quy mạng, cụ Tín Nguyện Hạnh, tận khả vãng sanh (三敎同源、統儒釋道、俱堪念佛、一心歸命、具信願行、盡可徃生, Ba Giáo cùng gốc, cả Nho Thích Đạo, đều chung Niệm Phật; một lòng quy mạng, đủ Tín Nguyện Hạnh, thảy được vãng sanh).”

Chuyển Phước Đức Thành Công Đức
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không