Đoạn văn diễn bày: Đức Như Lai Di Đà không chọn các pháp tu khác làm Bổn nguyện, mà chỉ duy nhất chọn pháp Niệm Phật làm Bổn nguyện vãng sanh.

“Kinh Vô Lượng Thọ” ghi: “Giả như khi Con thành Phật, chúng sanh nào trong mười phương chí tâm tin tưởng vui thích muốn sanh về thế giới của Con, dù chỉ niệm mười niệm mà không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh giác”.

Trong “Quán Niệm Pháp Môn” trích dẫn đoạn văn trên như sau: “Nếu Con thành Phật, chúng sanh nào trong mười phương nguyện sanh về thế giới của Con, nên xưng niệm danh hiệu của Con tối thiểu mười niệm, nương vào nguyện lực của Con, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh Giác”.

Tương tợ, trong “Vãng Sanh Lễ Tán” cũng trích dẫn đoạn văn trên như sau: “Nếu Con thành Phật, chúng sanh nào trong mười phương xưng niệm danh hiệu của Con tối thiểu chỉ mười niệm, nếu không được vãng sanh thì Con không giữ ngôi Chánh Giác”.

Hiện giờ, đức Phật ấy đã thành Phật, do thế chúng ta cần hiểu rõ rằng, Bổn nguyện – lời thề vĩ đại ấy, không một chút dối trá; tức là, bất cứ chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu của Ngài, tất nhiên sẽ được vãng sanh.

Nói thêm rằng: Hết thảy chư Phật, mỗi vị đều có nguyện chung và nguyện riêng. Nguyện chung chính là “Tứ hoằng thệ nguyện”, về nguyện riêng, như đức Phật Thích Ca có Năm trăm đại nguyện, đức Phật Dược Sư có Mười hai thượng nguyện; hiện tại, Bốn mươi tám Đại nguyện trong kinh Vô Lượng Thọ chính là nguyện riêng của đức Phật A Di Đà vậy.

Hỏi: Đức Như Lai Di Đà phát thệ nguyện này vào thời gian nào, vào thời đức Phật nào?

Đáp: “Kinh Vô Lượng Thọ” ghi: “Đức Phật bảo A Nan rằng, vào thời quá khứ thật quá lâu xa, không thể tính toán là bao nhiêu kiếp, thời ấy có đức Như Lai Đỉnh Quang thị hiện ra đời, giáo hoá độ thoát vô lượng chúng sanh đều chứng đạt đạo quả, rồi Ngài mới diệt độ. Kế đến, có đức Như Lai danh hiệu Quang Viễn… Kế đến có đức Như Lai danh hiệu Xử Thế, các đức Phật tuần tự như thế đến Năm mươi ba vị, và các Ngài đều đã tịch diệt. Bấy giờ, đức Như Lai danh hiệu Thế Tự Tại Vương ứng hiện, trong thời gian này có vị quốc vương được nghe đức Phật thuyết pháp, tâm tư khai mở, hỷ lạc dâng trào liền phát tâm Vô thượng Bồ Đề, lìa bỏ ngôi vua xa lánh trần tục xuất gia làm Sa-môn, đạo hiệu là Pháp Tạng. Ngài vốn là bậc trí đức siêu phàm, sau khi tu học một thời gian, Ngài đến hầu đức Như Lai Thế Tự Tại Vương… Đức Phật Thế Tự Tại Vương vì Tỷ-kheo Pháp Tạng mà giảng rộng về Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật, mọi sự kiện thiện ác của hàng Trời, Người; mọi sự tốt đẹp, thô xấu của các thế giới ấy theo tâm nguyện của Tỷ-kheo Pháp Tạng đều được hiện bày rất rõ ràng. Bấy giờ, Tỷ-kheo Pháp Tạng được nghe đức Phật thuyết minh các thế giới trang nghiêm thanh tịnh, sau khi đã thấy rõ, Tỷ-kheo liền phát tâm nguyện thù thắng Vô Thượng. Kể từ đây, tâm niệm của Tỷ-kheo hoàn toàn thanh tịnh, ý thức không chấp thủ vướng mắc bất cứ điều gì, trong thế gian không ai có thể sánh bằng. Với hạnh nguyện thanh tịnh ấy, Tỷ-kheo Pháp Tạng tinh tấn trải qua Năm kiếp tu quán kiến lập một cõi Phật trang nghiêm thù thắng. A Nan bạch đức Phật rằng: Đức Phật ở thế giới ấy có thọ mạng dài bao lâu?- Đức Phật bảo: Thọ mạng của đức Phật ấy dài lâu đến Bốn mươi hai kiếp. Bấy giờ, Tỷ-kheo Pháp Tạng thâu nhiếp những pháp tu thanh tịnh của Hai trăm mười ức thế giới vi diệu của chư Phật”.

Lại nữa, “kinh Đại A Di Đà”[[7]] ghi: “Khi đức Phật Lâu-Di-Cắng-La[[8]] thuyết giảng Kinh xong, tâm niệm Tỷ-kheo Đàm-Ma-Ca[[9]] được thanh tịnh, chứng đắc thiên nhãn, tự mình thấy rõ mọi sự kiện thiện ác của hàng Trời-Người và mọi sự tốt đẹp thô xấu của Hai trăm mười ức thế giới ấy, liền theo sở nguyện lựa chọn một thế giới theo như kinh Nhị Thập Tứ Nguyện[[10]] diễn tả”.

Ở trên, hai từ “Lựa-chọn” chính là ý nghĩa “Chọn lấy và Buông bỏ”. Tức là, trong Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật, buông bỏ hàng Trời-Người ác độc mà chọn lấy hàng Trời-Người hiền thiện; đồng thời, buông bỏ mọi sự thô xấu của các thế giới mà chọn lấy mọi sự tốt đẹp trong các thế giới ấy. Ý nghĩa hai từ “Lựa-chọn” trong Kinh Đại A Di Đà cũng như hai Kinh[[11]] kia là như thế. Nghĩa là “Sử-dụng” các pháp tu thanh tịnh và các sự tốt đẹp trong Hai trăm mười ức thế giới của chư Phật. “Lựa-chọn” và “Sử-dụng” trên âm thanh thì sai khác, nhưng trên ý nghĩa thì giống nhau, chúng ta cứ dựa theo đây để hiểu.

Dưới đây sẽ luận bàn về ý nghĩa “Lựa chọn” và “Sử dụng” các Đại nguyện tiêu biểu cho 48 Đại nguyện:

– Nguyện thứ nhất, “Nguyện không có ba đường ác dữ”: Tức là, khi được thấy rõ trong Hai trăm mười ức thế giới, mà trong các thế giới ấy, hoặc có ba đường ác dữ hay không có ba đường ác dữ, thì chọn bỏ các thế giới có ba đường ác dữ và thô xấu, mà chọn lấy các thế giới không có ba đường ác dữ và tốt đẹp; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Nguyện thứ hai, “Nguyện không tái sanh vào ba đường ác dữ”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, dù các thế giới ấy không có ba đường ác dữ, nhưng khi thọ mạng của hàng Trời-Người chấm dứt, có thể tái sanh vào các thế giới có ba đường ác dữ, hay không có ba đường ác dữ, thì chọn bỏ tái sanh vào các thế giới có ba đường ác dữ và thô xấu, mà chọn lấy tái sanh vào các thế giới không có ba đường ác dữ và tốt đẹp; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Nguyện thứ ba, “Nguyện tất cả sắc thân màu vàng ròng”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, hoặc có một thế giới mà thân thể của hàng Trời – Người có hai màu vàng-trắng sai khác; hoặc có một thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người chỉ thuần màu vàng ròng, thì chọn bỏ thế giới mà thân thể hàng Trời-Người có hai màu vàng-trắng thô xấu sai khác, mà chọn lấy thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người chỉ một màu vàng ròng tốt đẹp mà thôi; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Nguyện thứ tư, “Nguyện không có đẹp-xấu sai khác”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, hoặc có một số thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người đẹp-xấu khác nhau, hoặc có một số thế giới mà thân thể của hàng Trời-Người hoàn toàn giống nhau, không có sự đẹp-xấu sai khác, thì chọn bỏ các thế giới có hàng Trời-Người đẹp-xấu khác nhau, mà chọn lấy thế giới có hàng Trời-Người hoàn toàn tốt đẹp giống nhau; như thế được gọi là “Lựa chọn”.

– Cho đến nguyện thứ mười tám, “Nguyện niệm Phật được vãng sanh”: Tức là, ở trong các thế giới của chư Phật, hoặc có thế giới lấy tu Bố thí để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Trì Giới để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Nhẫn nhục để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Tinh tấn để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Thiền định để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy tu Trí tuệ để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy phát tâm Bồ Đề để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy xưng niệm sáu chữ (Nam mô A Di Đà Phật) để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy trì Kinh để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy trì Chú để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới lấy việc xây dựng chùa tháp tạc tượng, cúng dường thực phẩm cho hàng Sa-môn, cho đến các việc phụng sự Sư trưởng, hiếu dưỡng cha mẹ v.v… để cầu vãng sanh, hoặc có thế giới chỉ xưng niệm danh hiệu đức Phật của thế giới ấy để cầu vãng sanh, hoặc tu tập một hạnh tương xứng với đức Phật của thế giới ấy để cầu vãng sanh, hoặc trong thế giới ấy chỉ có một đức Phật lấy tu tập nhiều hạnh của Ngài để cầu vãng sanh, hoặc trong thế giới ấy có nhiều đức Phật lấy tu tập một hạnh mà dung thông với chư Phật ấy để cầu vãng sanh; tóm lại, các pháp tu tập để cầu vãng sanh Tương tợ như thế có rất nhiều phương diện, không thể nói hết được. Bây giờ, chọn bỏ các hạnh từ Bố thí, Trì Giới cho đến hiếu dưỡng Cha mẹ mà chỉ chọn lấy “Chuyên xưng niệm danh hiệu đức Phật A Di Đà”; như thế được gọi là “Lựa chọn”. Tựu trung, ở trên vừa luận bàn về ý nghĩa “Lựa chọn” của năm Đại nguyện tiêu biểu, các Đại nguyện còn lại dựa theo đây để hiểu.

Hỏi: Tổng quát để nói, trong các Đại nguyện thì chọn bỏ sự thô xấu mà chọn lấy sự tốt đẹp, điều này khá rõ rồi. Còn, tại sao trong Đại nguyện thứ mười tám lại chọn bỏ hết thảy các pháp, mà chỉ duy nhất chọn lấy pháp Niệm Phật làm Bổn nguyện vãng sanh?

Đáp: Ý của đức Phật thì khó hiểu rõ được, không có thể tự ý giải thích; tuy nhiên, tại đây thử dùng ý nghĩa của hai cặp thuật ngữ này để giải bày, một là “Thắng-Liệt”, hai là “Nan-Dị”.

Trước hết, bàn về ý nghĩa “Hơn-Kém” (Thắng-Liệt): Niệm Phật là “Hơn”, các hạnh khác là “Kém”, tại sao như thế?- Bởi Danh hiệu là chỗ quy tụ vô lượng công đức; nghĩa là, hết thảy những công đức nội-chứng như: Bốn trí, Ba thân, Mười lực, Bốn Vô-uý v.v… và, tất cả các công đức ngoại-dụng như: Tướng hảo, Hào quang, Thuyết pháp, Lợi ích chúng sanh v.v… đều quy tụ trong Danh hiệu đức Phật A Di Đà; vì vậy, công đức của danh hiệu rất tối ưu, nên gọi là “Hơn”. Ngược lai, các hạnh khác chỉ chiếm một phần các công đức trên, chính thế được gọi là “Kém”. Tương tợ, như các tên gọi trong phạm vi nhà cửa thì hết thảy đồ dùng trong nhà đều được thâu nhiếp dưới đòn dong và hai mái nhà, nếu xét riêng từng cái, như đòn dong, cột nhà v.v… thì không có khả năng thấu nhiếp hết thảy đồ đạc trong nhà. Qua trên để thấy rằng, công đức danh hiệu đức Phật A Di Đà là thù thắng vượt trội công đức của hết thảy pháp tu khác; chính thế, cần “Bỏ Kém-Lấy Hơn” làm Bổn nguyện.

Kế đến, bàn về ý nghĩa “Khó-Dễ” (Nan-Dị): Niệm Phật (A Di Đà) là pháp tu “Dễ”, tu các pháp khác là “Khó”, vì thế trong “Vãng Sanh Lễ Tán” ghi:

“Hỏi: Tại sao không khuyến khích tu Quán mà khẳng định phải tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật, là bởi ý nghĩa gì?

Đáp: Bởi lẽ, chúng sanh vốn có nghiệp chướng quá sâu nặng, đối tượng để Quán thì rất vi tế, tâm thức thì luôn vọng động và nông cạn, nên tu Quán khó có kết quả. Do thế, bậc Đại Thánh (Phật) với lòng bi mẫn của mình, khẳng định và khích lệ hành giả hãy tinh chuyên niệm danh hiệu đức Phật, chính vì niệm danh hiệu là “Dễ”, và nếu niệm liên tục thì sẽ được vãng sanh”.

Lại nữa ”Vãng Sanh Yếu Tập” ghi:

“Hỏi: Hết thảy các pháp tu thiện, pháp nào cũng có lợi ích, pháp nào cũng có thể cầu vãng sanh, tại sao chỉ khích lệ duy nhất pháp Niệm Phật?

Đáp:Vấn đề khích lệ pháp môn Niệm Phật không hẳn phủ nhận mọi pháp tu vi diệu khác; chỉ vì pháp Niệm Phật không phân biệt nam-nữ, giàu-nghèo; không luận là thời gian, không gian hay duyên sự gì; không kể là đang đi-đứng-nằm-ngồi, tất cả mọi trường hợp đều tu tập được không trở ngại; kể cả đến giờ phút lâm chung, pháp tu thuận tiện nhất cho việc cầu nguyện vãng sanh thì không có pháp nào bằng pháp Niệm Phật.”

Thế nên, cần hiểu rằng Niệm Phật là “Dễ”, vì thích ứng với mọi căn cơ; còn các pháp tu khác là “Khó”, vì không dung nhiếp mọi căn cơ. Qua đây, để giúp hết thảy chúng sanh “Bình đẳng vãng sanh” thì phải “Bỏ Khó-Lấy Dễ” làm Bổn nguyện.

Giả như lấy việc “Tạo tượng, xây dựng chùa tháp” làm Bổn nguyện, thì hạng bần cùng nghèo khó tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người giàu sang thì rất ít mà kẻ nghèo hèn thì chiếm đa phần.

Giả như lấy “Trí tuệ tài cao” làm Bổn nguyện, thì hạn trí hèn ngu độn tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người trí thì rất ít mà kẻ ngu si thì chiếm đa phần.

Giả như lấy việc “Nghe nhiều thấy rộng” làm Bổn nguyện, thì hạng nghe ít thấy ít tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người nghe nhiều thì ít mà kẻ nghe ít thì chiếm đa phần.

Giả như lấy việc “Trì Giới, trì Luật” làm Bổn nguyện, thì hạng phá giới, không thọ giới tuyệt đối không thể hy vọng được vãng sanh; hơn nữa, người trì Giới thì rất ít mà kẻ phá giới, không thọ giới thì chiếm đa phần.

Qua trên, các pháp tu tập khác theo đây để hiểu. Tóm lại, chúng ta cần hiểu rằng, lấy các pháp tu vừa kể trên làm Bổn nguyện, hy vọng được vãng sanh thì rất hạn hữu, mà nhất định không được vãng sanh thì chiếm đa phần.

Thế nên, xưa kia Tỷ-kheo Pháp Tạng – Như Lai Di Đà, với tâm từ bi bình đẳng thúc đẩy, muốn hoá độ hết thảy chúng sanh, nên Ngài không dạy lấy các pháp tu Tạo tượng, xây dựng chùa tháp v.v… làm Bổn nguyện tu tập, mà chỉ dạy lấy một pháp “Xưng niệm danh hiệu đức Phật” làm Bổn nguyện tu tập. Chính thế, trong “Ngũ Hội Pháp Sự Tán” Thiền sư Pháp Chiếu ghi:

“Đức Phật ấy vốn lập nguyện rộng:
Ai niệm tên Tôi, Tôi đến đón,
Không kể bần cùng hay phú quý,
Không kể trí hèn hay thông thái,
Không kể đa văn, giữ tịnh giới,
Không kể phá giới tội nặng sâu,
Chỉ cần hồi tâm chuyên niệm Phật,
Sỏi đá có thể biến thành vàng”.

Hỏi: Sự lập nguyện của hết thảy chư vị Bồ Tát, thì có những vị đã thành tựu, cũng có những vị chưa thành tựu; tuy vậy, chưa cứu xét Bốn mươi tám Đại nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng là đã thành tựu hay chưa?

Đáp: Tất cả Đại nguyện của Bồ Tát Pháp Tạng, nguyện nào cũng đã thành tựu, sao vậy?- Bởi lẽ, tại thế giới Cực Lạc không có ba đường ác dữ, nên biết rằng, “Nguyện không có ba đường ác dữ” đã thành tựu. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi nguyện ấy đã thành tựu rằng: “Cũng không có các tai nạn của ba đường Địa ngục, Ngạ quỉ, Súc sanh”. Lại nữa, sau khi thọ mạng của hàng Trời-Người trong thế giới ấy kết thúc cũng không tái sanh vào ba đường ác dữ, nên biết rằng, “Nguyện không tái sanh vào ba đường ác dữ” đã thành tựu. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi nguyện ấy đã thành tựu rằng: “Hơn nữa, các vị Bồ Tát ấy cho đến khi thành Phật cũng không còn tái sanh vào con đường ác dữ”. Lại nữa, hàng Trời-Người ở thế giới Cực Lạc không có một vị nào là không đầy đủ Ba mươi hai tướng tốt, nên biết rằng, “Nguyện đủ Ba mươi hai tướng tốt” đã thành tựu. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi nguyện ấy đã thành tựu rằng: “Ai vãng sanh về thế giới ấy thì tất cả đều đầy đủ Ba mươi hai tướng tốt”. Như thế, từ Đại nguyện đầu tiên – “Nguyện không có ba đường ác dữ” đến nguyện cuối cùng – “Nguyện chứng Ba pháp nhẫn”, tất cả thệ nguyện ấy đều đã thành tựu. Do vậy, Đại nguyện thứ mười tám – “Nguyện người Niệm Phật được vãng sanh” há độc nhất không được thành tựu hay sao?- Qua đây, hết thảy người niệm Phật đều được vãng sanh. Tại sao biết được?- Vì đoạn văn ghi về “Nguyện người niệm Phật được vãng sanh” ấy đã thành tựu rằng: “Có những chúng sanh được nghe danh hiệu đức Phật ấy, khởi tâm tin tưởng hoan hỷ, dù chỉ niệm một niệm rồi chân thành hồi hướng nguyện cầu vãng sanh về thế giới của đức Phật đó, liền được vãng sanh chứng quả Bất thối chuyển”. Phàm trong Bốn mươi tám Đại nguyện để trang nghiêm Tịnh Độ Cực Lạc, như hồ sen báu, lầu gác báu v.v… không có sự kiện gì là không do nguyện lực, sao lại có thể nghi ngờ độc nhất “Nguyện người niệm Phật được vãng sanh”? Hơn nữa, khi kết thúc mỗi thệ nguyện đều có lời này: “…Nếu không như thế thì Con không giữ ngôi Chánh giác”, và đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay đã mười kiếp (Đại kiếp); như vậy, thệ nguyện thành Phật của Ngài đã thành tựu viên mãn, và mỗi mỗi câu thệ nguyện của Ngài không thể là hư dối. Chính thế, Đại sư Thiện Đạo bảo: “Đức Phật ấy hiện nay đã thành Phật tại thế giới ấy, cho nên biết rằng Bổn nguyện thâm trọng đó không chút hư dối, nếu chúng sanh nào xưng niệm danh hiệu Ngài thì tất nhiên được vãng sanh”.

Hỏi: Kinh gọi là “Thập Niệm”, giải thích là “Thập Thanh”, ý nghĩa của Niệm và Thanh là như thế nào?

Đáp: Niệm và Thanh là giống nhau. Tại sao biết được? – Vì đoạn văn trong Hạ phẩm Hạ sanh của “Quán Kinh” ghi: “Khiến tiếng niệm, xưng “Nam mô A Di Đà Phật” không gián đoạn đầy đủ trong mười niệm; nhờ xưng danh hiệu đức Phật nên trong từng niệm trừ diệt được những tội nặng trong đường sanh tử tám mươi ức kiếp”. Căn cứ vào đoạn văn này, thì ý nghĩa của Thanh và Niệm đã quá rõ; tức là, Thanh chính là Niệm, Niệm chính là Thanh. Thêm nữa, “kinh Đại Tập Nguyệt Tạng” ghi: “Niệm lớn thấy Phật lớn, niệm nhỏ thấy Phật nhỏ”. Pháp sư Hoài Cảm chú thích: “Niệm lớn tức lớn tiếng niệm Phật, niệm nhỏ tức nhỏ tiếng niệm Phật”. Thế nên, “Niệm” là xướng lên, cất tiếng lên vậy.

Hỏi: Kinh gọi là “Nãi chí” (Cho đến), giải thích là “Hạ chí” (Dưới đến), ý nghĩa đó như thế nào?

Đáp: Ý nghĩa của Nãi chí và Hạ chí là giống nhau. Khế Kinh bảo: “Nãi chí” là ý nghĩa từ Nhiều giảm xuống Ít; Nhiều là trên từ suốt đời, Ít là dưới đến mười tiếng (niệm) hay một tiếng v.v…

Giải thích rằng: “Hạ chí” là ý nghĩa Dưới đối với Trên; Dưới là dưới đến mười tiếng hay một tiếng v.v… Trên là trên từ suốt đời; chữ Trên và Dưới được sử dụng đối nhau trong Kinh khá nhiều. Như ở “Nguyện Túc Mạng Thông” ghi: “Giả như Con được thành Phật mà hàng Trời-Người trong thế giới của Con không chứng Túc mạng thông, “Cho đến” không biết rõ nhân quả trong trăm ngàn ức vô số kiếp, thì Con không giữ ngôi Chánh giác”. Tương tợ, trong các Đại nguyện về “Ngũ thần thông”, “Hào quang”, “Thọ mạng” v.v… nguyện nào cũng dùng thuật ngữ “Hạ chí”, là ý nghĩa từ Nhiều giảm đến Ít, lấy Dưới đối nghĩa với Trên. Qua trích dẫn tám Đại nguyện trên cho chúng ta thấy rằng, ý nghĩa “Nãi chí” và “Hạ chí” chỉ là một; do vậy, tại đây Đại sư Thiện Đạo sử dụng thuật ngữ “Hạ chí” thì không có sự trái nghĩa.

Tuy nhiên, ý kiến của Đại sư Thiện Đạo và các Đại sư khác có sự bất đồng; sự giải thích của các Đại sư thì mang tính riêng biệt, đó là: “Nguyện người niệm mười niệm được vãng sanh”; chỉ riêng ý kiến của Đại sư Thiện Đạo thì mang tính tổng quát, đó là: “Nguyện người Niệm Phật được vãng sanh”. Xét về “Nguyện người niệm mười niệm được vãng sanh” mang tính riêng biệt của các Đại sư, thì ý nghĩa không rốt ráo; bởi lẽ, vì Trên thì bỏ mất suốt đời niệm Phật, Dưới thì bỏ mất niệm Phật một niệm. Xét về “Nguyện người Niệm Phật được vãng sanh” mang tính tổng quát của Đại sư Thiện Đạo, thì ý nghĩa thật rốt ráo; bởi lẽ, vì Trên thì lấy cả suốt đời niệm Phật, Dưới thì lấy cả chỉ niệm Phật một niệm.

————————–

[7] Kinh Đại A Di Đà: Tức kinh Phật thuyết A Di Đà, 2 quyển, do Chi Khiêm đời Ngô dịch. Nói đủ là kinh Phật Thuyết A Di Đà Tam Da Tam Phật Tát Lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo. Ngoài ra, lại có kinh Đại A Di Đà, 2 quyển, do Vương Nhật Hựu soạn vào đời Triệu Tống.

[8]]Đức Phật Lâu-Di-Cắng-La: Tức đức Phật Thế Tự Tại Vương.

[9] Tỷ-kheo Đà-Ma-Ca: Tức Tỷ-kheo Pháp Tạng.

[10] Kinh Nhị Thập Tứ Nguyện: Tương đương với kinh Vô Lượng Thanh Tịnh Bình Đẳng Giác, 4 quyển, do Chi Lâu Ca Sấm dịch đời Hậu Hán (gọi tắt là kinh Bình Đẳng Giác). Hai Kinh này với kinh Đại A Di Đà được dịch trước kinh Vô Lượng Thọ, trong ba Kinh này chỉ lược ghi 24 lời nguyện của Tỷ-kheo Pháp Tạng mà thôi.

[11] Hai Kinh: Tức kinh Nhị Thập Tứ Nguyện và kinh Bình Đẳng Giác.
 

Trích từ: Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập

Từ Ngữ Phật Học
bồ đề
(菩提) I. Bồ đề. Phạm, Pàli: bodhi. Dịch ý là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đã đạt được ở quả vị của các ngài. Trong ba loại bồ đề này, bồ đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dịch là vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng bồ đề. Về bồ đề của Phật, theo luận Đại trí độ quyển 53, có năm loại sau: 1. Phát tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín phát tâm bồ đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả bồ đề. 2. Phục tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng v.v... tu các hạnh ba la mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình. 3. Minh tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Đăng địa biết rõ thực tướng các pháp rốt ráo trong sạch, là tướng bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, ở trong bát nhã ba la mật, diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến nhất thiết trí, nên gọi là xuất đáo bồ đề. 5. Vô thượng bồ đề, nghĩa là bậc Đẳng giác, Diệu giác chứng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là giác trí của quả Phật.Trên đây gọi chung là năm loại bồ đề. Còn Pháp hoa kinh luận quyển hạ ở nơi ba thân pháp, báo, hóa của Phật, lập ba loại bồ đề là Pháp Phật Bồ đề (Pháp thân Bồ đề), Báo Phật Bồ đề (Báo thân Bồ đề), và Ứng Phật Bồ đề (Ứng thân Bồ đề), gọi là tam chủng Bồ đề. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 thì chia Vô lượng bồ đề làm hai thứ là Phương tiện bồ đề và Tính tịnh bồ đề. Ngoài ra, trong mười thứ Ba Pháp của tông Thiên thai cũng có ba bồ đề, đó là: 1. Thực tướng bồ đề, cũng gọi Vô thượng bồ đề: chân tướng bồ đề ngộ lí thực tướng, tương đương với đức pháp thân. 2. Thực trí bồ đề, cũng gọi Thanh tịnh bồ đề: trí tuệ ngộ lí khế hợp, tương đương với đức bát nhã. 3. Phương tiện bồ đề, cũng gọi Cứu kính bồ đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với đức giải thoát. Lại cứ theo luận Vãng sinh tịnh độ nói, thì: 1. Chấp trước tự ngã. 2. Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn. 3. Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình. Ba điều trên đây trái với cửa bồ đề, gọi là ba tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa bồ đề. Cùng sách đã dẫn lại nêu ra ba thứ tâm thanh tịnh: 1. Không cầu yên vui cho bản thân mình (Vô nhiễm thanh tịnh tâm) 2. Trừ khổ cho chúng sinh khiến họ được yên vui (An thanh tịnh tâm) 3. Khiến chúng sinh đến bồ đề và cho họ yên vui vĩnh viễn (Lạc thanh tịnh tâm). Đây là ba thứ tâm thuận theo cửa bồ đề. Người tu Đại thừa cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Bồ đề tát đỏa, gọi tắt là Bồ tát. Tâm cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo ý hoặc Bồ đề tâm. Hướng tới 73 đạo phẩm bồ đề, gọi là Bồ đề phần pháp. Nơi đức Phật thành đạo, gọi là Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng, cây ở đạo tràng ấy gọi là Bồ đề thụ. Tu phúc cầu nguyện cho tổ tông thành Phật, gọi là Tăng thượng bồ đề. Kết khóa niệm Phật, nguyện cầu chúng sinh tăng tiến Phật đạo, gọi là Bồ đề giảng. Các chùa viện thuộc về đàn na (thí chủ), gọi là Bồ đề tự, Bồ đề sở. [X. kinh Bồ tát địa trí Q.3 phẩm Vô thượng bồ đề; kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; kinh Bồ đề tâm Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.38, Q.52; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.70; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.1, Q.27; luận Đại trí độ Q.44; luận Thành duy thức Q.1]. II. Bồ đề. Tức là ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc vào đời nhà Đường. (xt. Bồ Đề Tiên Na).
bồ tát
(菩薩) Từ gọi tắt của Bồ đề tát đỏa. Bồ đề tát đỏa, Phạm: bodhi-sattva. Pàli: bodhisatta. Cũng gọi Bồ đề sách đa, Mạo địa tát đát phược, Phù tát. Dịch ý: Đạo chúng sinh, Giác hữu tình, Đại giác hữu tình, Đạo tâm chúng sinh. Hàm ý là người cầu đạo, cầu đại giác, người có tâm cầu đạo rộng lớn. Bồ đề nghĩa là giác, trí, đạo. Tát đỏa nghĩa là chúng sinh, hữu tình. Bồ tát cùng với Thanh văn, Duyên giác gọi chung là Tam thừa. Cũng là một trong 10 giới. Bồ tát là chỉ cho người tu hành trên cầu vô thượng bồ đề bằng trí tuệ, dưới hóa độ chúng sinh bằng tâm từ bi, tu các hạnh ba la mật và trong vị lai sẽ thành tựu quả Phật. Cũng tức là người dũng mãnh cầu bồ đề, tròn đủ hai hạnh lợi mình và lợi người. Nếu đứng trên quan điểm cầu bồ đề (trí giác ngộ) mà nói, thì Thanh văn, Duyên giác cũng có thể được gọi là Bồ tát; bởi vậy, để phân biệt, mới gọi những người tu hành Đại thừa cầu vô thượng bồ đề là Ma ha tát đỏa (Phạm: mahà-sattva, maha nghĩa là lớn), Ma ha tát, Bồ tát ma ha tát, Bồ đề tát đỏa ma ha tát, Ma ha bồ đề chất đế tát đỏa v.v...… Những tên khác của Bồ tát được ghi trong kinh điển là: Khai sĩ (Bồ đề tát đỏa), Đại sĩ (Ma ha tát đỏa), Tôn nhân (Đệ nhất tát đỏa), Thượng nhân (Thượng tát đỏa), Vô thượng (Vô thượng tát đỏa), Lực sĩ (Lực tát đỏa), Vô song (Vô đẳng tát đỏa), Vô tư nghị (Bất tư nghị tát đỏa), Phật tử, Phật trì, Đại sư, Đại thánh, Đại công đức, Đại tự tại, Chính sĩ, Thủy sĩ, Cao sĩ, Đại đạo tâm thành chúng sinh, Pháp thần, Pháp vương tử, Thắng sinh tử, Quảng đại tát đỏa, Cực diệu tát đỏa, Thắng xuất nhất thiết tam giới tát đỏa, Thân nghiệp vô thất ngữ nghiệp vô thất ý nghiệp vô thất (ba nghiệp không có lỗi), Thân nghiệp thanh tịnh ngữ nghiệp thanh tịnh ý nghiệp thanh tịnh, Thân nghiệp vô động ngữ nghiệp vô động ý nghiệp vô động, Thành tựu giác tuệ (Phạm: dhìmat, người có trí tuệ), Tối thượng chiếu minh (Phạm:uttama-dyuti, thành tựu cao tột), Tối thắng chân tử (Phạm: jina-putra, người con hơn hết, người con hàng phục), Tối thắng nhậm trì (Phạm: jinàdhàra, chỗ nương tựa hơn hết, nắm giữ hàng phục), Phổ năng hàng phục (Phạm: vijetf, người sai khiến hơn hết, hay hàng phục), Tối thắng manh nha (Phạm: jinàíkura, cái mầm mống hơn hết), Dũng kiện (Phạm: vikrànta, mạnh mẽ), Tối thánh (Phạm: paramàzcarya, bậc thầy khuôn phép cao hơn hết, Thượng thánh), Thương chủ (Phạm:sàrthavàha, thầy dẫn đường), Đại xưng (Phạm: mahà-yazas, bậc có danh tiếng lớn), Lân mẫn (Phạm:kfpàlu, thành tựu tình thương), Đại phúc (Phạm: mahàpuịya, phúc đức lớn), Tự tại (Phạm: ìzvara), Pháp sư (Phạm:dhàrmika) v.v…...

Lại vì Bồ tát là những vị phát đại Bồ đề tâm, đầy đủ các nguyện thù thắng thế gian và xuất thế gian, cho nên gọi chúng Bồ tát là Thắng nguyện Bồ đề đại tâm chúng. Bồ tát được chia làm nhiều chủng loại, tùy theo sự liễu ngộ có cạn có sâu không giống nhau mà Bồ tát có những giai vị bất đồng. Ngoài điểm khác biệt này ra, kinh Bồ tát địa trì quyển 8 phẩm Bồ tát công đức còn nêu ra mười loại Bồ tát: Chủng tính (Phạm: gotra-stha), Nhập (Phạm: avatìrịa), Vị tịnh (Phạm:a-zuddhà-zaya), Vị thục (Phạm:a-paripakva), Thục (Phạm: paripakva), Vị định (Phạm: a-niyatipatita), Định (Phạm: niyati-patita), Nhất sinh (Phạm:eka-jàti-pratibaddha), Tối hậu thân (Phạm: carama-bhavika). Trong mười loại Bồ tát trên đây, loại chưa được tâm thanh tịnh, gọi là Chủng tính; phát tâm tu học, gọi là Nhập (vào); vào rồi mà chưa đạt đến địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Vị tịnh (Chưa thanh tịnh); đã vào địa vị tâm thanh tịnh, gọi là Tịnh; người tâm đã thanh tịnh nhưng chưa vào được địa vị rốt ráo, gọi là Vị thục (chưa chín); đã vào địa vị rốt ráo, gọi là Thục; thục rồi nhưng chưa vào địa vị định, gọi là Vị định (chưa Định); vào địa vị định rồi thì gọi là Định. Thục lại có hai loại: 1. Nhất sinh, là theo thứ lớp được Vô thượng bồ đề. 2. Tối hậu thân, là được Vô thượng bồ đề ngay trong đời này. Ngoài ra, Bồ tát cũng còn được chia làm tại gia và xuất gia, bệ bạt trí (trở lui) và a bệ bạt trí (không trở lui), sinh thân (người chưa dứt phiền não), và pháp thân (người đã đoạn trừ phiền não, được sáu thần thông), sinh tử nhục thân và pháp tính sinh thân, đại lực và tân phát tâm, đốn ngộ và tiệm ngộ, trí tăng và bi tăng v.v…...

Thuyết trí tăng bi tăng là chủ trương của tông Pháp tướng, nghĩa là theo sự phân loại Bồ tát từ địa vị thứ tám trở về trước, thì Bồ tát Trực vãng (bồ tát đốn ngộ) chế phục sự hiện hành của phiền não Câu sinh khởi, liền chịu thân Biến dịch, thành là Trí tăng thượng Bồ tát. Đến địa vị thứ bảy (Mãn tâm), sau khi chế phục hết phiền não, chịu thân phần đoạn, thì thành là Bi tăng thượng Bồ tát hoặc Đại bi Bồ tát. Đối với các Bồ tát hồi tâm (hướng về Đại thừa, tức các Bồ tát tiệm ngộ), thì người hồi tâm từ Bất hoàn và A la hán, do đã dứt hết phiền não ở cõi Dục, cho nên là Trí tăng; còn người hồi tâm từ Dự lưu và Nhất lai thì là Trí tăng hoặc Bi tăng. Ngoài ra, còn có Bồ tát Trí bi bình đẳng. Đồng thời, Bồ tát của giai vị Thập tín gọi là Tân phát ý Bồ tát, Trụ tiền tín tướng Bồ tát, Giả danh Bồ tát v.v...… Hạnh Bồ tát tu, gọi là Bồ tát hạnh, tất cả phép tắc nghi thức liên quan đến Bồ tát, gọi là Bồ tát pháp thức; giáo pháp nhằm đạt đến quả vị Phật, gọi là Bồ tát thừa; kinh điển của Bồ tát thừa, gọi là Bồ tát tạng. Kinh Phạm võng nói về giới Bồ tát do Bồ tát nhận giữ. Tên các vị Bồ tát thường được nói đến trong các kinh gồm có các bồ tát Di lặc, Văn thù, Quán thế âm, Đại thế chí v.v…...

Trong giới tăng sĩ hoặc cư sĩ thuộc Đại thừa, cũng có các vị được tôn thành Bồ tát, như các học giả Long thụ, Thế thân v.v... …của Phật giáo Đại thừa Ấn độ đã được tôn là Bồ tát. Ở Trung quốc thì ngài Trúc pháp hộ được tôn là Đôn hoàng Bồ tát, ngài Đạo an là Ấn thủ Bồ tát. Tại Nhật bản cũng có các vị cao tăng được vua ban hiệu Bồ tát. [X. kinh Phóng quang bát nhã Q.5; kinh Đại phương đẳng đại tập Q.12; kinh Đại a di đà Q.thượng; kinh Hoa nghiêm (dịch cũ) phẩm Li thế gian; kinh Hoa nghiêm (dịch mới) phẩm Phổ hiền hạnh; kinh Bồ tát địa trì Q.4; kinh Bồ tát anh lạc bản nghiệp Q.thượng; kinh Tiệm bị nhất thiết trí đức; kinh Đại bảo tích Q.3; kinh Đại thừa bản sinh tâm địa quán Q.7; kinh Phạm võng Q.hạ; luận Đại tì bà sa Q.176; luận Đại trí độ Q.4, Q.41, Q.44, Q.71, Q.94; luận Du già sư địa Q.46; Đại nhật kinh sớ Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.17; Khuyến phát bồ đề tâm tập Q.hạ; Đại tống tăng sử lược Q.hạ]. (xt. Tam Thừa, Bồ Tát Giai Vị).
Chân không diệu hữu

Cái không của chẳng phải không, không mà không không, không phải như cái ngoan không mà hàng tiểu thừa thiên chấp, cho nên gọi là “chân không”. Cái có của chẳng phải có, có mà không có, không phải như cái thật có mà hàng phàm phu vọng chấp, cho nên gọi là “diệu hữu”. Chân không mà sinh khởi vạn pháp, diệu hữu mà tất cả đều “như”, đó là ý nghĩa sâu xa của “chân không diệu hữu”.

Chúng Sanh
Đại khái chia làm chín loại:

1. Trứng-Sanh: Do nơi trứng sanh ra, như các loài chim, gà, vịt…

2. Thai-Sanh: Do thai nghén sanh ra, như loài người, trâu, bò, dê, chó…

3. Ướt- Sanh: Nương chỗ ẩm ướt mà sanh, như các loại côn trùng v.v…

4. Hóa-Sanh: Do biến hóa sanh ra, như lăng quăng hóa làm muỗi, cỏ mục hóa đom đóm…

5. Có-Sắc: Chúng-sanh ở cõi Dục-giới, Sắc-giới có hình sắc thấy được.

6. Không-Sắc: Chúng-sanh ở cõi vô-sắc, không có hình sắc thấy được.

7. Có-Tưởng: Tất cả chúng sanh ở trong ba cõi, chỉ trừ ra chúng-sanh cõi trời vô-tưởng ( cõi nầy ở về từng tứ-thiền trong sắc-giới).

8. Không-Tưởng: Chúng-sanh ở cõi trời vô-tưởng. đây là chúng-sanh ở cõi dục, cho rằng: Các sự khổ-não đều phát sanh từ nơi tư-tưởng, nên tu theo phép định vô-tưởng, được sanh lên cõi trời vô-tưởng, rồi tự cho là đã chứng quả giải-thoát. Nhưng sự thật thì không hẳn như vậy, vì trải qua sau 500 kiếp, khi phước báo đã hết rồi, lại cũng bị luân-hồi sanh-tử nữa.

9. Chẳng Phải Có Tưởng Chẳng Phải Không Tưởng: Chúng-sanh ở từng trời Phi-phi-tưởng trong cõi vô-sắc. Chúng-sanh ở cõi nầy đồng như hư-không, không có thân thể và thế-giới. Chỉ có định mà không có huệ; sống lâu đến 80.000 (tám muôn) kiếp, rồi cũng bị đọa lạc trở lại trong tam-đồ lục-đạo.
Tứ Độ
(四土): còn gọi là Tứ Phật Độ (四佛土), Tứ Chủng Phật Độ (四種佛土), Tứ Chủng Tịnh Độ (四種淨土), Tứ Chủng Quốc Độ (四種國土); nghĩa là 4 loại quốc độ Phật. Có nhiều thuyết khác nhau về quan niệm này. Đại Sư Trí Khải (智顗, 538-397), Tổ sáng lập ra Thiên Thai Tông Trung Quốc, lập ra 4 loại Phật Độ là Phàm Thánh Đồng Cư Độ (凡聖同居土), Phương Tiện Hữu Dư Độ (方便有餘土), Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ (實報莊嚴土), Thường Tịch Quang Độ (常寂光土).

(1) Phàm Thánh Đồng Cư Độ, còn gọi là Nhiễm Tịnh Đồng Cư Độ (染淨同居土), Nhiễm Tịnh Quốc (染淨國); chỉ quốc độ cùng tồn tại chung của hạng phàm phu thuộc hai cõi Trời người và chư vị Thánh như Thanh Văn (s: śrāvaka, 聲聞), Duyên Giác (s: pratyeka-buddha, p: pacceka-buddha, 緣覺). Trong đó, cõi này được chia thành 2 loại là tịnh và uế, như thế giới Ta Bà (s, p: sahā, 娑婆) là Đồng Cư Uế Độ (同居穢土), Tây Phương Cực Lạc (西方極樂) là Đồng Cư Tịnh Độ (同居淨土).

(2) Phương Tiện Hữu Dư Độ, còn gọi là Phương Tiện Độ (方便土), Hữu Dư Độ (有餘土); chỉ cho quốc độ của những bậc Thánh tu đạo phương tiện, đã đoạn tận Kiến, Tư, Hoặc như Bích Chi Phật (辟支佛), A La Hán (s: arhat, p: arahant, 阿羅漢), v.v.; nên được gọi là phương tiện (s, p: upāya, 方便), nhưng chưa đoạn tận sự mê mờ về vô minh trần sa, mới có tên là hữu dư (有餘, vẫn còn dư, còn sót). Cõi này còn được gọi là Biến Dịch Độ (變易土).

(3) Thật Báo Vô Chướng Ngại Độ, còn gọi là Thật Báo Độ (實報土), Quả Báo Độ (果報土), là quốc độ của chư vị Bồ Tát (s: bodhisattva, p: bodhisatta, 菩薩) đã đoạn trừ một phần của Vô Minh (s: avidyā, p: avijjā, 無明), không có hàng phàm phu của Hai Thừa. Đây là quốc độ tự tại vô ngại của đạo chân thật, nên có tên gọi như vậy.

(4) Thường Tịch Quang Độ, còn gọi là Lý Tánh Độ (理性土); là trú xứ của chư Phật đã đoạn tận căn bản Vô Minh, tức là quốc độ của chư Phật chứng quả Diệu Giác Cứu Cánh. Thường nghĩa là thường có Pháp Thân (s: dharma-kāya, 法身), vốn có thể thường trú; Tịch ở đây là giải thoát, tức hết thảy các tướng vĩnh viễn vắng lặng; Quang là Bát Nhã (s: prajñā, p: paññā, 般若), tức là trí tuệ chiếu soi các tướng; nên cõi này cũng là quốc độ của ba đức Thường Trú (Pháp Thân), Tịch Diệt (Giải Thoát) và Quang Minh (Bát Nhã). Ba đức này có tên là Bí Mật Tạng (秘密藏), là nơi nương tựa của chư Phật Như Lai; vì vậy mới được gọi là Thường Tịch Quang Độ.

Bên cạnh đó, Pháp Thường (法常, 567-645), Trí Nghiễm (智儼, 602-668), Đạo Tuyên (道宣, 596-667) và Huyền Uẩn (玄惲, ?-?, tức Đạo Thế [道世], người soạn bộ Pháp Uyển Châu Lâm [法苑珠林]) có lập ra Tứ Độ khác do chư Phật cư trú, gồm:

(1) Hóa Tịnh Độ (化淨土), do chư Phật biến hiện ra 7 loại báu, 5 Trần (Sắc, Thanh, Hương, Vị, Xúc); nhờ thần lực của Phật mà mặt đất mềm mại, không có gò trũng, cát đá, v.v., giống như cõi Tịnh Độ Tây Phương Cực Lạc, tùy theo tâm chúng sanh muốn thấy mà hóa hiện ra; và đây cũng là quốc độ của Hóa Thân (s: nirmāṇa-kāya, 化身).

(2) Sự Tịnh Độ (事淨土), lấy 7 loại báu, 5 Trần làm hình tướng của quốc độ. Trong cõi này, có đầy đủ các loại trân bảo trang nghiêm vi diệu; giả như thế giới bị bốc lửa cháy rực, đức Như Lai trú trong đó vẫn đi kinh hành, vẫn an nhiên đi đứng nằm ngồi, cõi ấy tự nhiên từ trong đất hiện ra nước có Tám Công Đức, làm cho mát mẻ. Đây là quốc độ của Tha Thọ Dụng Thân (他受用身, tức Ứng Thân [s: nirmāṇa-kāya, 應身]).

(3) Thật Báo Tịnh Độ (實報淨土), quốc độ lấy Hai Không là cửa, Ba Tuệ làm con đường ra vào; Xa Ma Tha (s: samatha, 奢摩他, Thiền Định), Tỳ Bát Xá Na (p: vipassanā, 毘鉢舍那, Quán) làm cỗ xe; Căn Bản Vô Phân Biệt Trí (根本無分別智) làm dụng. Đây là quốc độ của Tự Thọ Dụng Thân (自受用身, tức Báo Thân [s: sambhoga-kāya, 報身]).

(4) Pháp Tánh Tịnh Độ (法性淨土), quốc độ lấy chân như làm thể, là cõi của Pháp Thân.
Ngoài ra, Duy Thức Tông lại lập ra 4 loại quốc độ khác là:
(1) Pháp Tánh Độ (法性土), còn gọi là Tự Tánh Thân Y Pháp Tánh Độ (自性法身依法性土). Tự Tánh Thân tức là Pháp Thân, lấy tự tánh chân như làm thân, thể không sai biệt, không bị sắc tướng thâu nhiếp, giống như hư không, biến khắp tất cả nơi.
(2) Tự Thọ Dụng Độ (自受用土), còn gọi là Tự Thọ Dụng Thân Y Tự Thọ Dụng Độ (自受用身依自受用土), tức là Thật Báo Độ (實報土), là do đức Phật lấy Tương Ứng Tịnh Thức (相應淨識) tu mà thành tựu nên; từ khi mới thành Phật cho đến tận cùng tương lai, liên tục biến thành quốc độ Phật thuần tịnh, chu vi không giới hạn, các loại báu trang nghiêm. Tự Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú.
(3) Tha Thọ Dụng Độ (他受用土), còn gọi là Tha Thọ Dụng Thân Y Tha Thọ Dụng Độ (他受用身依他受用土), cũng là Thật Báo Độ. Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của các Bồ Tát trong Thập Địa (s: daśa-bhūmi, 十地) mà biến thành cõi Tịnh Độ. Tha Thọ Dụng Thân nương vào cõi này mà trú.
(4) Biến Hóa Độ (變化土), còn gọi là Biến Hóa Thân Y Biến Hóa Độ (變化身依變化土). Đức Phật lấy năng lực đại từ bi, tùy theo sự thích nghi của chúng sanh có duyên mà biến hóa thành.

Trong Liên Tu Khởi Tín Lục (蓮修起信錄, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 62, No. 1204) quyển 3 có đoạn: “Tứ Độ Liên Hoa Tứ Độ hương, độ trung các các kiến Từ Vương, Quan Âm thường hoán si nhân tỉnh, Đại Thế tần thôi liên ngạc phương, tự tại nhàn vân Tam Muội đắc, thanh u Cam Lộ nhất tâm lương (四土蓮花四土香、土中各各見慈王、觀音常喚癡人醒、大勢頻催蓮萼芳、自在閒雲三昧得、清幽甘露一心涼, Bốn Cõi Hoa Sen Bốn Cõi thơm, cõi ấy mỗi mỗi thấy Từ Vương, Quan Âm thường gọi người mê tỉnh, Thế Chí luôn bày sen ngát hương, tự tại mây nhàn Tam Muội chứng, an lành Cam Lộ tâm mát trong).” Hay trong Linh Phong Ngẫu Ích Đại Sư Tuyển Định Tịnh Độ Thập Yếu (靈峰蕅益大師選定淨土十要, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 61, No. 1164) quyển 9 có câu: “Nhất chân pháp giới tánh, bất biến năng tùy duyên, Tam Thân cập Tứ Độ, tất do tâm biến khởi (一眞法界性、不變能隨緣、三身及四土、悉由心變起, tánh pháp giới nhất chân, chẳng biến thường tùy duyên, Ba Thân và Bốn Cõi, tất do tâm biến hóa).”
chân không diệu hữu
(真空妙有) Tức là Tính viên thành thực trong ba tính do Duy thức thuyết minh. Tính viên thành thực là chân lí do lìa hai chấp ngã, pháp mà được hiển hiện. Vì xa lìa hai chấp nên gọi Chân không - cũng chẳng phải cái không tương đối với cái có do Tiểu thừa chủ trương, mà là cái có một chân thực, cho nên gọi là Diệu hữu. Vì là chân không, nên các pháp duyên khởi y nhiên như thế - vì là diệu hữu nên muôn pháp nhân quả nhất như. Đó là nghĩa sắc tức không, không tức sắc. Vì thế nên biết chân không và diệu hữu chẳng phải sai khác - tất cả sự tồn tại (năm uẩn) đều do các điều kiện (nhân duyên) hòa hợp mà thành, cho nên không có thể thực (không) mà chỉ là sự tồn tại giả có (hữu), nhưng quan niệm thế gian lại thừa nhận sự tồn tại ấy là có thực. Tư tưởng Chân không diệu hữu không phải chỉ giới hạn trong Duy thức học mà ngay cả tư tưởng thuộc Như lai tạng hệ cũng nhấn mạnh điều đó. Chân không trong Phật giáo chẳng phải chủ nghĩa hư vô, là tác dụng mầu nhiệm sâu kín đối với hiện thực mà được phát huy. [X. Bát nhã tâm kinh tán - Ngũ giáo chương thông lộ kí Q.23]. (xt. Hữu Vô).
thanh văn
(聲聞) Phạm:Zràvaka. Pàli:Sàvaka. Hán âm: Xá la bà ca. Hán dịch: Đệ tử. Chỉ cho các đệ tử xuất gia nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà chứng ngộ, là 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Theo Đại thừa nghĩa chương quyển 17 phần đầu thì có 3 cách giải thích về ý nghĩa tên gọi Thanh văn, đó là: 1. Giải thích theo nhân duyên đắc đạo: Nghe âm thanh thuyết giáo của Phật mà tỏ ngộ được đạo, gọi là Thanh văn. 2. Giải thích theo pháp môn được quán xét: Như Thập địa kinh luận quyển 4 nói: Ngã, chúng sinh... chỉ có tên suông, gọi là Thanh(tiếng), nhờ Thanh mà được tỏ ngộ, gọi là Thanh văn. 3. Giải thích theo phương diện hóa tha: Như phẩm Tín giải trong kinh Pháp hoa quyển 2 nói: Dùng âm thanh Phật đạo khiến tất cả đều nghe, nên gọi là Thanh văn. Trong 3 cách giải thích trên, 2 giải thích đầu là Thanh văn của Tiểu thừa, còn giải thích thứ 3 thì thuộc Bồ tát, theo nghĩa nên gọi là Thanh văn. Thanh văn vốn chỉ cho các đệ tử lúc đứcPhật còn tại thế, về sau, đối lại với Duyên giác, Bồ tát mà trở thành 1 trong 2 thừa, 1 trong 3 thừa. Thanh văn là những người quán xét lí của 4 đế, tu phẩm trợ đạo, dứt trừ Kiến hoặc, Tư hoặc, lần lượt chứng được 4 quả sa môn, chờ mong vào Niết bàn vô dư khôi thân diệt trí. Thanh văn thừa là giáo pháp chỉ được nói cho hàng Thanh văn. Còn Thanh văn tạng là những kinh điển trình bày rõ về giáo pháp ấy. Về chủng loại của Thanh văn thì trong cáckinh luận có 2 loại, 3 loại, 4 loại, 5 loại khác nhau. Theo phẩm Vô tự tính tướng trong kinh Giải thâm mật quyển 2 thì có 2 loại Thanh văn là Hướng thú tịch thanh văn và Hồi hướng bồ đề thanh văn. Theo kinh Nhập lăng già quyển 4 thì có 3 loại Thanh văn là Quyết định tịch diệt thanh văn, Phát bồ đề nguyện thiện căn danh Thiện căn thanh văn và Hóa ứng hóa thanh văn. Theo luận Du già sư địa quyển 73 thì có 3 loại Thanh văn là Biến hóa thanh văn, Thệ nguyện thanh văn và Pháp tính thanh văn. Cứ theo luận Pháp hoa quyển hạ của ngài Thế thân thì có 4 loại Thanh văn là Quyết định thanh văn, Tăng thượng mạn thanh văn, Thoái bồ đề tâm thanh văn và Ứng hóa thanh văn. Còn Pháp hoa văn cú quyển 4thượng thì chia Thanh văn làm 5 loại, gọi là Ngũ chủng thanh văn như sau: 1. Quyết định thanh văn: Tu tập Tiểu thừa đã lâu, trải qua nhiều kiếp đạo lực thành thục, chứng được tiểu quả. 2. Thoái bồ đề thanh văn: Loại Thanh văn này vốn tu tập Đại thừa, trải qua nhiều kiếp tu đạo, nhưngnửa chừng vì nhàm chán sinh tử mà lùi bỏ tâm Đại đạo để chứng lấy tiểu quả. 3. Ứng hóa thanh văn: Vì hóa độ 2 loại Thanh văn trên nên chư Phật, Bồ tát, bên trong ẩn hạnh Phật, Bồ tát, bên ngoài hiện hình tướng Thanh văn để khuyên dụ Tiểu thừa nhập vào Đại thừa. 4. Tăng thượng mạn thanh văn: Loại Thanh văn ngạo mạn vì chán ghét sinh tử, ưa thích Niết bàn, tu tập Tiểu thừa chỉ mới được chút ít đã tự cho là đủ, chưa được nói là được, chưa chứng bảo đã chứng. 5. Đại thừa thanh văn: Dùng âm thanh Phật đạo, khiến tất cả người nghe không trụ ở hóa thành(ví dụ cho Niết bàn Tiểu thừa) mà cuối cùng trở về lí thực tướng của Đại thừa. Sự phân loại trên đây là căn cứ theo giáo nghĩa Đại thừa, nhưng các bộ kinh A hàm và các luận như luận Phát trí, luận Lục túc... thì không theo thuyết này; Thanh văn, theo các kinh luận này, chỉ có 1 loại là Thú tịch thanh văn nói trên mà thôi. Ngoài ra, trong Thánh điển nguyên thủy như kinh A hàm... từ ngữ Thanh văn là chỉ chung cho cả đệ tử xuất gia lẫn tại gia. Nhưng đến đời sau, khi giáo đoàn Phật giáo đã được xác lập, thì Thanh văn chuyên chỉ cho chư tăng xuất gia tu hành. [X. kinh Tạp a hàm Q.31; kinh Trường a hàm Q.1; luận Du già sư địa Q.67, 80; Pháp hoa huyền luận Q.1, 4, 7; Đại thừa nghĩa chương Q.17, phần cuối; Đại thừa pháp uyển nghĩalâmchương Q.2; Pháp hoa văn cú Q.1, thượng].

Thế Giới Quan Của Đạo Phật
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Các Chủng Loại Thế Giới
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Biển Thế Giới Hoa Tạng
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm

Bổn Nguyện Là Gì...?
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Tín Nguyện Hạnh
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc

Ba Món Tư Lương Tín Nguyện Hạnh
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa

Khuyên Đầy Đủ Tín Nguyện
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh Kết Tập, Ấn Quang Đại Sư Giám Định