Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Khai-Thi-Tro-Niem-Phai-La-Nguoi-Co-Dao-Duc-Nguoi-An-Chay-Moi-Co-The-Lam-Duoc-Cau-Noi-Ay-Chinh-Xac-Khong...?

Khai Thị Trợ Niệm Phải Là Người Có Đạo Đức Người Ăn Chay Mới Có Thể Làm Được Câu Nói Ấy Chính Xác Không...?
Pháp Sư Tín Nguyện | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Giác Qủa

Hỏi: Có người nói: “Thực hành việc “Khai Thị Trợ Niệm” phải là người có Đạo đức, người ăn chay… mới có thể làm được”, câu nói ấy chính xác không?

Đáp: Trợ niệm là giúp khác khởi phát tâm ý thanh tịnh để niệm danh hiệu đức Phật, giúp đỡ người thì cần gì phải phân biệt người có Đạo đức hay Vô Đạo đức, người ăn chay hay ăn mặn? Nhưng mà, Đại Sư Thiện Đạo đã răn dạy: “Chớ để những người uống rượu, ăn mặn, ăn năm gia vị cay nồng (hành, tỏi, ném…) đến gần người sắp lâm chung”. Có sự kiêng cử này là sợ làm cho người sắp lâm chung mất Chánh niệm đưa đến Quỷ, Thần ác dữ lộng hành mà bị đọa vào Tam đồ Ác đạo. Vì vậy, giả như người trợ niệm đã ăn mặn, ăn năm gia vị cay nồng ấy, thì trước khi trợ niệm hãy đánh răng súc miệng thật kỹ, còn người đã uống rượu say sưa thì không nên trợ niệm, ngoài các dữ kiện ấy thì ai cũng có thể tham gia trợ niệm.

Khai thị cho người lâm chung thì cần phải khéo léo, linh động để giúp đương sự phát khởi Chánh tín, vì đương sự mà nói về Chánh báo, Y báo trang nghiêm và sự an lạc của cõi Tịnh Độ, để đương sự vui mừng cầu nguyện vãng sanh, bên cạnh cũng nên nói về Đại thệ nguyện thuở xưa của Tỷ-kheo Pháp Tạng để làm sáng tỏ phương pháp vãng sanh giúp đương sự niệm Phật cầu sanh Tịnh Độ. Do thế, những người có khả năng hiểu rõ giáo pháp Tịnh Độ thì có thể vì người khác mà trợ niệm. Một điểm cần lưu ý, trước khi Khai thị thì phải hiểu rõ tánh tình của đương sự mới có thể tùy theo tâm lý ấy để giảng giải. Mặt khác, mục đích Khai thị chính là giúp người lâm chung phát tâm cầu sanh Tịnh Độ, để đạt được mục đích ấy đòi hỏi người Khai thị phải có đường hướng khéo léo, đại khái là phải có thái độ chân thành, ngôn ngữ nhã nhặn, tùy lúc để ân cần khích lệ, tán thán giúp đương sự tin tưởng thực hiện.
 
Trích từ: Lợi Ích Thù Thắng Của Khai Thị Trợ Niệm

Từ Ngữ Phật Học
tịnh độ
(淨土) Gọi đủ: Thanh tịnh độ, Thanh tịnh quốc độ, Thanh tịnh Phật sát. Cũng gọi: Tịnh sát, Tịnh giới, Tịnh phương, Tịnh vực, Tịnh thế giới,Tịnh diệu độ, Diệu độ, Phật sát, Phật quốc. Đối lại: Uế độ, Uế quốc. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh, là nơi an trụ của Phật. Trái lại, những nơi mà chúng sinh cư trú có các phiền não ô uế nên gọi là Uế độ, Uế quốc. Tịnh độ là giáo thuyết nói trong các kinh Đại thừa, còn Tiểu thừa thì lấy Niết bàn vô dư thântro trí bặt làm lí tưởng nên không có thuyết này. Vì Phật giáo Đại thừa cho rằng Niết bàn có tác dụng tích cực, chư Phật đã được Niết bàn, mỗi vị đều ở Tịnh độ của mình giáo hóa chúng sinh, cho nên hễ nơi nào có Phật an trụ thì đó là Tịnh độ.

Kinh A súc Phật quốc quyển thượng, kinh Phóng quang bát nhã quyển 19, kinh Vô lượng thọ quyển thượng,... đều cho rằng Tịnh độ là thế giới thanh tịnh trang nghiêm do chư Phật kiến lập bằng những công đức đã được tích lũy trong vô lượng vĩnh kiếp khi các Ngài hành đạo Bồ tát ở địa vị tu nhân, đã khởi thệ nguyện tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng thì cho rằng hễ tâm tịnh thì độ tịnh, thế giới Sa bà tức là tịnh độ Thường tịch quang. Nếu tâm chúng sinh bất tịnh thì cõi này chính là cõi uế ác bất tịnh, còn chỗ Phật thấy thanh tịnh thì trở thành vô lượng công đức trang nghiêm. Tịnh độ Linh sơn của kinh Pháp hoa, thế giới liên hoa tạng của kinh Hoa nghiêm, Tịnh độ Mật nghiêm của kinh Đại thừa mật nghiêm... đều lấy thuyết Tâm tịnh độ tịnh làm gốc. Còn kinh Vô lượng thọ thì nói rằng ngoài thế giới Sa bà ra còn có các Tịnh độ khác, cũng có Tịnh độ ở vị lai được thành tựu mỗi khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật, 2 loại Tịnh độ này đều là các cõi nước được hoàn thành sau khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật qua giai đoạn tu nhân theo bản nguyện của mình, là nơi chúng sinh nguyện sinh về. Còn các Tịnh độ ở các phương khác thì có thế giới Cực lạc ở phương Tây của đức Phật A di đà, thế giới Diệu hỉ ở phương Đông của đức Phật A súc, thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông của đức Phật Dược sư,...

Vì các Tịnh độ của chư Phật nói trên cách thế giới Sa bà với một phương vị nhất định nên gọi là Thập phương tịnh độ.Thế giới Cực lạc (Phạm: Sukhàvatì) cũng gọi Diệu lạc, An lạc, An dưỡng, Lạc bang, là Tịnh độ ở phương Tây rất được tông Tịnh độ xem trọng. Tịnh độ này là chỉ cho Báo độ do Bồ tát tu nhân hạnh mà cảm được quả báo; hoặc chỉ cho Ứng hóa độ mà đức Phật giả hiện ra để cứu độ chúng sinh; hoặc chỉ cho Tịnh độ có thật ở phương Tây cách thế giới Sa bà hơn 10 vạn ức Phật độ; hoặc lại chỉ cho Tịnh độ hiện ra trong tâm chúng sinh. Ngoài ra, Tịnh độ còn có Biên địa, Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới,... là Hóa độ dành cho các người còn hoài nghi Phật trí sinh đến. Tông Tịnh độ cho rằng Báo độ thực tại ở phương Tây, những người sinh về cõi này sẽ được hưởng 10 điều lợi lạc sau đây: 1. Thánh chúng đến đón: Lúc lâm chung được đức Phật A di đà và 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đến đón về Tịnh độ. 2. Hoa sen vừa mới nở: Gá sinh trong hoa sen sinh về Tịnh độ, cho nên lúc hoa sen vừa mới nở thì liền được thấy cõi Tịnh độ rất trang nghiêm thanh tịnh. 3. Thân tướng có thần thông: Thân được 32 tướng tốt đẹp và 5 thứ thần thông như Thiên nhãn,... 4. Năm cảnh giới vi diệu: Được 5 cảnh thù thắng sắc, thanh, hương, vị, xúc. 5. Vui sướng vô lượng: Được hưởng các niềm vui vô tận. 6. Tiếp dẫn kết duyên: Được những ân nhân kết duyên từ trước thân đến Tịnh độ đón tiếp. 7. Thánh chúng cùng hội họp:Các chúng Bồ tát đều đến nhóm họp ở một chỗ.8. Thấy Phật nghe pháp: Sinh về Tịnh độ được thấy đức Phật và nghe Ngài nói pháp. 9. Tùy tâm cúng dường Phật: Tùy tâm cúng dường chư Phật ở 10 phương. 10.

Tăng tiến Phật đạo: Tu hành tinh tiến, cuối cùng chứng được quả Phật. Về vị trí Tịnh độ, sự trang nghiêm, chủng loại dân cư,... các kinh nói không giống nhau, vì khi còn ở địa vị tu nhân, các vị Bồ tát phát nguyện không đồng. Nếu đứng trên lập trường sử học mà nhận xét sự miêu tả khác nhau giữa Tịnh độ của Phật A súc và Tịnh độ của Phật A di đà thì có thể thấy được sự biến thiên của một loại phát triển, như cõi Phật A súc có người nữ, nhân dân đều mặc y phục được lấy ra từ cây, có 3 đường thềm báu đi suốt đến cõi trời Đao lợi, có thể xem đây là tư tưởng tương đối sớm. Tịnh độ của đức Phật A di đà thì không có người nữ, đều là hóa sinh, được thân thể hư vô tự nhiên. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ thì cho Tịnh độ là xứ sở vi diệu ở ngoài 3 cõi. So sánh sự hơn, kém khác nhau giữa các Tịnh độ của chư Phật, trong các kinh đều có ghi chép.

Về chủng loại Tịnh độ, ở thời đại ngài Vô trước (khoảng thế kỷ IV, V) có thuyết 3 thân là Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân. Thân biến hóa của Phật thị hiện 8 tướng ở Uế độ,thân Thụ dụng trụ trong thế giới Liên hoa tạng có 18 thứ viên mãn thanh tịnh, tức tùy theo Báo thân, Hóa thân của Phật mà có thanh tịnh, ô uế khác nhau. Luận Duy thức quyển 10 có thuyết Tứ thân tứ độ(4 thân 4 cõi); Đại thừa nghĩa chương quyển 19 chia Tịnh độ làm 3 loại là Sự tịnh độ, Tướng tịnh độ và Chân tịnh độ; Duy ma kinh lược sớ quyển 1 thì lập 4 loại Tịnh độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và Thường tịch quang độ. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, y cứ vào sự bất đồng giữa Tam thừa và Nhất thừa mà nói các Tịnh độ khác nhau. (xt. Phật Độ, Cực Lạc Thế Giới).
Tam ác đạo
xem Ba đường ác.
thần
(神) Phạm: Deva. Một thứ đối tượng của tín ngưỡng tông giáo siêu việt nhân cách. Thông thường, Thần được coi là 1 loài tồn tại không có thân thể vật chất, nhưng không phải không có hình tượng thân thể; Thần không bị hạn chế bởi qui luật tự nhiên, có thể gây ảnh hưởng đối với thế giới vật chất, ngay cả làm chúa tể 1 phần nhất định hoặc toàn bộ thế giới vật chất. Trong quá trình phát triển quan niệm về Thần từ tông giáo nguyên thủy đến tông giáo cao đẳng, lần lượt đã tiến từ: Sùng bái Tự nhiên (Animatism), sùng bái Tinh linh (Animism) đến sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Tự nhiên có nghĩa là xem bản thân thế giới tự nhiên là Thần, như sùng bái mặt trời thì có tâm tôn kính và sợ hãi đối với mặt trời. Sùng bái Tinh linh thì đối với tinh linh của vật tự nhiên sinh lòng kính sợ, mà xem như Thần. Đó là do lòng sùng bái tự nhiên dần dần tiến hóa mà thành, nhưng vẫn chưa đến giai đoạn sùng bái Nhân cách thần. Sùng bái Nhân cách thần tức là những hiện tượng tự nhiên được nhân cách hóa, hoặc linh hồn người chết được Thần hóa, do 2 trường hợp ấy mà đưa đến phong tục sùng bái Nhân cách thần; từ loại Đa thần giáo này phát triển đến Giao thế thần giáo (thần tối cao từ A được thay thế thành B), Đơn nhất thần giáo(trong nhiều thần có 1 thần là Thần tối cao), Duy nhất thần giáo(tin 1 vị Thần duy nhất tồn tại tuyệt đối). Ngoài ra, như Phiếm thần luận thì chỉ chú trọng sự phản tỉnh có tính lí luận để cầu phát triển, nhưng phủ định tính nhân cách. Sau khi người Aryans xâm nhập Ấn độ, đến thời đại Lê câu phệ đà (Phạm:Fg-veda), các hiện tượng tự nhiên được thần cách hóa mà trở thành những thần tự nhiên, lại vì chiến tranh phải tiêu diệt quân địch nên mới sản sinh ra Nhân đà la (Phạm: Indra), tính cách các thần này thuộc Đa thần giáo hoặc Giao thế thần giáo. Cho đến sau khi các sinh hoạt xã hội được ổn định, do sự chế định qui ước mà có thần Luật pháp (Phạm:Varuịa) xuất hiện. Về sau, Đa thần giáo vốn đã có từ xưa đến nay không thể nào đáp ứng được các nhu cầu thông thường một cách đầy đủ, nên lại có khuynh hướng tìm cầu một vị thần tối cao cho việc thống nhất các thần. Thời đại Phạm thư (Phạm: Bràhmaịa), một mặt do nhu cầu một vị thần tối cao tạo ra muôn vật (Phạm:Prajàpati, Tạo vật chủ) mà sản sinh thuyết Sáng tạo, mặt khác thì nảy sinh Hoài nghi luận, Vô thần luận và khuynh hướng Phiếm thần luận cũng đồng thời xuất hiện. Tiến hơn nữa cũng sản sinh Hữu (Phạm:Sat), Vô (Phạm:Asat) và nguyên lí Nhất nguyên siêu việt Hữu vô, hoặc nguyên lí vũ trụ hay cá thể như Phạm (Phạm: Brahman), Ngã (Phạm: Àtman), các nguyên lí trên thuộc tư tưởng của Bà la môn giáo (Brahmanism). Đến đời sau, các tín ngưỡng dân gian địa phương dung hợp mà hình thành Ấn độ giáo (Hinduism). Trong tông giáo này có thuyết Tam thần nhất thể (Phạm:Trimùrti, Tam vị nhất thể): Phạm thiên (Phạm:Brahàm, là Phạm được nhân cách hóa, tức thần sáng tạo của Ấn độ giáo), Tì thấp nô (Phạm:Viwịu, thần duy trì) và Thấp bà (Phạm:Ziva, thần phá hoại). Phật giáo thì phủ định thuyết Thần sáng tạo(thuyết Thần ý)mà chủ trương pháp Nhân duyên, Duyên khởi là nguyên lí căn bản của thế giới. Do điểm này mà Phật giáo bị phê bình là Vô thần luận. Đến đời sau, khi các thần Ấn độ được du nhập Phật giáo thì các loại Thiên giới cũng được thu dụng và Phạm thiên là đại biểu. Trong Bà la môn giáo và Ấn độ giáo, Phạm thiên là thần tối cao, nhưng trong Phật giáo thì Phật là tối cao. Phật giáo cho rằng Thiên giới(cõi trời)tuy cao hơn nhân giới (cõi người) nhưng vẫn thuộc mê giới(lục đạo), vẫn không thoát khỏi luân hồi chuyển sinh, một khi hết phúc đức thì lại bị rơi xuống các cõi dưới. Trái lại, Phật đã dứt mê, ngộ đạo, thoát li luân hồi chuyển sinh, cho nên vượt ra ngoài các trời, các thần mà tồn tại, gọi là Siêu thần (Phạm: Atideva), Thiên trung thiên (Phạm: Devàtideva), Thiên trung chi tối tôn, Thiên nhân sư... Nếu đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét thì từ Thần được chia làm những nghĩa sau đây: 1. Nghĩa thần ngã, linh hồn: Tiếng Phạm làÀtman, cũng tức là 1 trong 25 đế do học phái Số luận lập ra, nhưng quan điểm của Phật giáo thì khác với quan điểm của học phái Số luận. Học phái Số luận cho rằng Thần ngã, Linh hồn là tinh thần thuần túy, có thật, thường trụ và tồn tại độc lập; Phật giáo thì cho rằng Thần ngã, Linh hồn là cái ngã lìa uẩn mà chủ trương các pháp vô ngã, cho nên phản đối thuyết Thần ngã của phái Số luận. 2. Nghĩa tinh thần: Như kinh Hiếu tử (Đại 16, 780 trung): Khi mệnh chung thì Thần đi, trụ ở Thái sơn. 3. Chỉ cho các loài có sinh mệnh: Như kinh Tạp a hàm quyển 38 (Đại 2, 281 thượng) ghi: Ta đối với tất cả Thần, ngăn lòng nghĩ giết hại. 4. Chỉ cho tác dụng phân biệt của thức: Như chi Thức (Phạm: Vijĩàna, Pàli:Viĩĩàịa) trong 12 nhân duyên. 5. Chỉ cho các loài có tác dụng linh thiêng mầu nhiệm: Tiếng Phạm,Pàli là Devatà, như cácthầnRồng, thần A tu la, thần Quỉ tử mẫu, thần cây... thường được nói đến trong các kinh. Kinh Na tiên (Đại 32, 694 thượng) nói: Cây ấy lớn lên có thần. Còn kinh Quán đính quyển 12 thì ghi (Đại 12, 533 hạ): Chư thiên thiện thần...