Pháp Niết bàn là Vô thượng. Phật tự biết Niết bàn ấy, không phải nghe từ người khác, cũng dắt dẫn chúng sanh khiến đi đến Niết bàn. Như trong các pháp, Niết bàn là vô thượng, thời trong chúng sanh, Phật cũng Vô thượng.
Lại nữa, công đức trì giới, thiền định, trí tuệ, giáo hoá chúng sanh, hết thảy không có ai bằng, huống là hơn được, cho nên gọi là Vô thượng.
Lại nữa, A là không; Nậu đa la là trả lời. Hết thảy pháp ngoại đạo có thể trả lời, có thể phá hủy; vì nókhông phải là thật, không phải thanh tịnh. Còn Phật pháp không thể trả lời, không có thể phá hủy; vì nó ra ngoài con đường nói năng, cũng là thật, là thanh tịnh. Do đó nên gọi là không trả lời.
* Lại có danh hiệu là Phú lâu sa Đàm miệu Bà la đề (Purasadamysàrathi). Phú lâu sa, Tàu dịch là Trượng phu. Đàm miệu dịch là có thể giáo hóa. Bà la đề dịch là Điều ngự sư. Ấy gọi là đấng Thầy điều ngự của những người có thể giáo hoá (Điều ngự trượng phu). Phật đem đại từ đại trí, có khi nói lời êm dịu, có khi nói lời khắc khổ, có khi nói lời chi li, lấy đó điều phục chế ngự khiến không mất Chánh đạo, như kệ nói:
"Phật pháp là xe, đệ tử là Ngựa,
Bảo chủ điều ngự thật pháp là Phật,
Nếu Ngựa vượt ra ngoài lối chánh,
Thì sẽ tự sửa khiến điều phục.
Nếu căn nhỏ không điều, thì dùng pháp nhẹ trị,
Khéo léo thành lập cho vào thượng đạo,
Nếu không trị được thì vứt bỏ.
Do vậy là đấng Điều ngự vô thượng".
Lại nữa, Điều ngự sư có năm thứ: 1 Trước hết là pháp sửa trị của cha mẹ, anh chị, thân lý. 2 Thứ đến là phép của quan. 3 Dưới hết là phép của thầy. Đó là ba thứ sửa trị trong đời hiện tại. 4 Đời sau thì có Diêm la vương trị. 5 Phật thì dạy sự lợi ích an lạc cho đời này, đời sau và Niết bàn. Thế nên gọi là Điều ngự sư.
Bốn pháp sửa trị người trên kia không bao lâu tất hủy hoại, không thể thường có kết quả thật sự. Phật thành đạt cho người với ba thứ đạo, thường theo đạo, không bỏ. Như lửa không bỏ tự tướng của nó cho đến khi tắt. Phật làm cho người được thiện pháp cũng vậy, đến chết không bỏ; vì vậy cho nên Phật có hiệu là Điều ngự trượng phu.