Tất cả các mê lầm, điên đảo đều phát khởi từ kiến chấp.  Hễ dẫm chân lên đó thì chính là dẫm chân lên rừng rậm phiền não.  Hễ đắm chìm trong đó thì chính là đắm chìm trong biển nước sôi sùng sục, như con tằm làm kén, cái kén lại là nguyên nhân để trói buộc con tằm; như con bướm đâm đầu vào ngọn lửa, vì ưa thích ánh sáng mà tan thân mất mạng.  Bậc tiền bối nói: “Khi hạ thủ công phu thì phải quét sạch các kiến giải”.  Vì vậy, hành giả muốn bước vào nhà của bậc thánh thì trước tiên phải bước vào cửa Phổ Hiền.  Hành giả muốn tu chánh nhân thì trước tiên phải chặt đứt mạng lưới tà kiến.  Có người cho rằng không có một pháp nào có thể xả bỏ, kiến giải ấy phải bị quở trách.  Kẻ tha phương mới biết thương người lưu lạc.  Thư sinh nghèo hèn thi hỏng thì mới biết hết đủ điều cay đắng.  Mong  mỏi mọi người thuận theo lời Phật, chớ nên dựa vào lời dạy của  ma!  Nay đứng về phương diện những kẻ bị lọt vào kiến chấp lầm lạc, tôi trình bày đại khái mười tắc:

  1. Đoạn diệt đọa.
  2. Khiếp liệt đọa.
  3. Tùy ngữ đọa.
  4. Cuồng tứ đọa.
  5. Chi li đọa
  6. Si không đọa.
  7. Tùy duyên đọa.
  8. Duy tâm đọa.
  9. Đốn ngộ đọa.
  10. Viên thật đọa.

1-  Đoạn diệt đọa

Đoạn diệt đọa có hai thứ:

* Nho sinh vì chấp chặt vào cái thân hiện tại nên nghi rằng đời vị lai hoàn toàn không có gì hết.

* Người mới phát tâm học đạo vì chấp chặt vào cái tướng rỗng không nên nghi rằng tất cả các pháp đều đoạn diệt.

Những người ấy còn không tin thuyết tái sinh, luân hồi thì làm sao có niềm tin vãng sinh với các việc trong Tịnh Độ?

1. Giải thích cho Nho sinh vì chấp chặt vào cái thân hiện tại nên nghi rằng đời vị lai hoàn toàn không có gì hết.

Kinh Lăng nghiêm ghi: “Phật hỏi vua Ba Tư Nặc:

– Hiện nay, ông đau xót vì tóc đã bạc, mặt đã nhăn.  Gương mặt của ông dĩ nhiên già nua tàn tạ hơn thuở ấu thơ.  Vậy, bây giờ, ông thấy sông Hằng so vói thuở nhỏ thấy sông Hằng thì cái thấy có già, trẻ gì chăng?

Ba Tư Nặc bạch Phật:

– Bạch đức Thế tôn, cái thấy không có già, trẻ.

Phật bảo:

– Đại vương, tuy gương mặt của ông bị nhăn nheo, nhưng mà cái thấy đó chưa từng bị nhăn nheo.  Có bị nhăn nheo thì có âm thầm biến đổi, không bị nhăn nheo thì không bao giờ biến đổi.  Có âm thầm biến đổi thì chịu sự vô thường sinh diệt, còn cái không biến đổi kia vốn không có sinh diệt.  Vậy, lấy gì để thọ nhận sinh tử cho ông, ông còn dẫn tà thuyết của bọn Mạt Già Lê cho rằng cái thân này chết rồi thì diệt hẳn”.

Luận Trí độ có đoạn hỏi rằng, con người chết rồi thì trở về sự hoại diệt.  Sự hoại diệt  có ba thứ:

a.  Thân này bị thiêu đốt trở thành tro bụi.
b.  Thân này bị loài côn trùng ăn trở thành phân nhơ.
c.  Cuối cùng, thân này trờ thành cát bụi.

Bây giờ, tôi chỉ thấy sự hoại diệt chứ  không thấy có cái gì đi ra để nhận lầy hình hài ở đời sau.  Vì không thấy, cho nên biết cái thân này chết rồi thì không có gì hết, phải không?

Đáp: Nếu ông nói như thế thì tại sao lại có những nỗi buồn, niềm vui, sự sợ hãi, v.v…mà ở đời trước, chúng sanh đã huân tập?

– Như đứa bé mới sinh ra, nó òa khóc hoặc tươi cười.  Đó là do nó huân tập những nỗi khổ, niềm vui ở đời trước, cho nên đời này không ai dạy nó mà tâm lý nó có những trạng thái như vậy.

– Như con nghé mới sinh ra, nó biết sà vào vú mẹ.

– Như con dê, con lợn sinh ra chẳng bao lâu mà con cái, con đực biết giao phối với nhau.

– Như những đứa con có cùng cha, cùng mẹ mà có người xinh đẹp, có  người xấu xí, có người giàu sang, có người bần cùng, có người thông minh, có người dốt nát, mỗi người mỗi khác.

Nếu không có nhân duyên của đời trước thì quyết không có sự khác biệt như thế. Vì có những nhân duyên ấy, cho nên biết có đời sau.

Lại nữa, ở đoạn trước, ông nói rằng, không thấy có cái gì đi ra.  Cái thân của con người không chỉ con mắt mới có thể thấy mà ở trong thân, sáu căn căn nào cũng có cái biết.  Có pháp, con người có thể nghe, có thể ngửi, có thể nếm, có thể chạm đến, có thể biết.  Có pháp, con người có thể nghe mà không thể thấy, huống chi có thể biết.  Các pháp có sinh, có diệt, cũng có thể thấy, biết.  Vì nhục nhãn của ông không thấy mà thiên nhãn có thể thấy rõ ràng như thấy người ra khỏi căn phòng này, bước vào căn phòng khác.  Chúng sinh bỏ thân cũ thọ thân mới cũng theo đây suy ra mà biết.  Nếu nhục nhãn có thể thấy được những việc ấy thì đâu cần vận dụng thiên nhãn.  Nếu như thế thì nhục nhãn, thiên nhãn, người ngu, bậc thánh không có gì khác biệt.  Vậy thì ông với súc sinh thấy cũng như nhau, đâu có thế thấy đời sau; như việc sống chết của con người dù không có đến, không có đi nhưng mà phiền não không dứt hết.  Ở nơi thân, tâm tương tục lại sinh ra thân tình ý.   Thân tình ý tạo nghiệp cũng không phải đến đời sau mà từ nhân duyên này sinh ra nữa để chịu quả báo ở đời sau,  như trong sữa có độc tố, đem sữa ấy chế biến thành lạc, lạc chế biến thành tô.  Sữa không phải là lạc, tô; lạc, tô cũng không phải là sữa. Tuy sữa, lạc đã chế biến nhưng những thứ ấy đều có độc tố. Cái thân này cũng như thế, nhân duyên ngũ uẩn của đời này lại sinh khởi ngũ uẩn của đời sau.  Vì hành nghiệp nối nhau không khác cho nên chịu quả báo, như mùa đông giá buốt tuy cây cối chưa khai hoa nở nhụy nhưng gặp thời tiết thích hợp, nó sẽ đơm bông kết trái.  Vì lý do ấy, nên biết có việc sống chết.

Lại nữa, đời hiện tại có người biết túc mệnh cũng như trong giấc chiêm bao người ấy thấy mình đi lang thang mỏi  mệt. Khi giật mình tỉnh dậy thì nhớ rõ những chỗ đã đi qua.  Kinh sách nội điển, ngoại điển của tất cả các bậc thánh nhân đều khẳng định có đời sau.

Lại nữa, đời hiện tại con người  phát động quá nhiều về các pháp chẳng lành nên phát sinh ra những giận hờn, ghen ghét, nghi hối vào trong bộ não khiến cho thân thể khô gầy, vẻ mặt buồn sầu ảm đạm.  Vì chất chứa các pháp chẳng lành nên họ cam chịu hậu quả như thế, huống chi nghiệp của thân, miệng bộc phát.  Nếu nhân duyên nghiệp sinh khởi pháp lành và niềm tin thanh tịnh thì tâm tư thanh tịnh, được trí tuệ như thật.  Tâm được an vui thì thân thể nhẹ nhàng, sắc mặt tươi tắn.  Vì có nhân duyên khổ, vui cho nên có điều lành, điều dữ.  Bây giờ đã tin chắc có điều lành, điều dữ thì phải tin chắc có đời sau.  Vì nhục nhãn của chúng sinh không thấy, vì trí tuệ kém cỏi, cho nên sinh ra những mối nghi ngờ lệch lạc. Dù có tu tập phước lành nhưng mà họ thực hành được chút ít, như y sĩ trị bệnh cho nhà vua, nhà vua âm thầm xây cất nhà cửa cho y sĩ mà y sĩ không hay biết.  Khi trở về thấy nhà cửa xây cất xong, y sĩ mới hổ thẹn vì không tận tâm, tận lực chữa bệnh cho nhà vua.

Lại nữa, thánh nhân nói về những việc hiện tại thật đáng tin, cho nên nói về những việc ở đời sau cũng đáng tin lắm, như kẻ cất bước trên con đường nguy hiểm vào ban đêm, được người dẫn đường đưa tay dìu dắt.  Vì tin tưởng vào người hướng dẫn, kẻ ấy đi theo.  Dựa vào tỷ lượng trí và lời của thánh nhân, nên tin chắc có đời sau.  Vì nhục nhãn tội nặng, vì tỷ lượng trí kém cỏi, vì không có thiên nhãn, vì tự mình không có trí tuệ, vì không tin lời Phật, làm sao ông biết được thân sau?  Nếu như giảng về lời của Phật có nhiều sự bí ẩn thì xin nói về thịnh đức của quỷ thần.  Đây là nói rõ về vua Võ nhà Châu thông suốt chữ hiếu, chỉ ở chỗ hiểu biết về tình trạng của quỷ thần, phụng sự vỉệc chết y như phụng sự việc sống.  Thế mà tiên sinh Khảo Đình giải thuyết quanh co rồi quy về nhị khí (khí âm và khí dương).  Nào ngờ, người ta dựa vào đó dám khinh khi bậc tiên thánh, nghi ngờ vể đời sau chăng?

Hơn nữa, sách chép chuyện vặt vãnh không đủ bàn, còn như việc Bành Sanh làm heo, Bá Hữu làm quỷ dữ, Lưu Thông làm quốc vương Giá Tu, con của Tưởng Tế xin làm quan tri huyện ở Thái Sơn, đó là chánh sử.  Bà Khương Nguyên nuốt trứng chim én sinh ra tổ nhà Thương, vua Vũ dựng lên nhà Chu, đó là chánh kinh nói.  Chim sẻ hóa làm con sò, chuột đồng hóa làm chim như, chim ưng hóa làm chim cưu, đó là chánh lịnh.

Tri thức bằng mảy bụi thì việc hiểu biết được bao nhiêu?  Lại nghĩ, muốn con ếch ngờ lượng nước biển, con đom đóm che ánh mặt trời; dối thánh, khinh trời phải mắc tội gì?  Những người bàn luận thường nói rằng: “Không phải chỗ mà con người đã từng trải qua và có cái lý không thể tin, tức là không đủ để làm bằng chứng”.  Vậy thì tại sao những tính toán về sự vận hành của mặt trời, mặt trăng, tinh tú đều đúng?  Mặc dù nơi đó không phải là chỗ con người đã trải qua, mà trời cũng không xuống đây, người cũng không lên đó!

Lại nữa, tại sao gió thổi, mây bay, trời cao, đất thấp?  Tại sao mùa xuân thì cây cối đâm chồi nảy lộc?  Tại sao mùa thu thì cây cối héo úa, tàn lụi?  Tại sao các căn trong thai mẹ không biết mà chuyển động?  Tại sao vú của người nữ căng phồng?

Những việc kể trên có cái lý nào bằng một sợi lông, một hạt bụi, một ngọn cỏ, một cành cây có thể làm bằng chứng đâu?  Nếu có cái lý nào bằng một mảy lông có thể làm bằng chứng thì xin ông hãy chỉ ra.  Chẳng qua là việc thường thấy nên cho là chuyện bình thường vậy thôi.  Thế nhưng, việc thường thấy ấy cũng là vô lý.  Do đó, không phải vì những việc chưa từng thấy mà nghi ngờ việc vãng sinh.

2. Giải thích cho người mới phát tâm học đạo vì chấp chặt cái tướng rỗng không nên nghi rằng tất cả các pháp đều đoạn diệt.

Luận ghi: “Người học đạo nghe nói rỗng không thì khởi tâm nghi ngờ đối với lý nhân duyên nghiệp sinh tử”.  Nếu tất cả các pháp tất cánh không, không có đến, không có đi, không có ra, không có vào, thì tại sao chết rồi lại có tái sinh?  Hiện tại, mắt thấy các pháp còn không thấy có, huống chi sau khi chết tái sinh vào chỗ khác.  Ở trong Phật pháp, người ấy không biết các pháp tất cánh không nhưng cũng không phải đoạn diệt.  Dù việc sinh tử nối nhau nhưng cũng không phải là thường hằng.  Trong vô lượng vô số kiếp, nhân duyên của nghiệp tuy đã đi qua nhưng cũng có thể sinh ra quả báo, chứ không bao giờ mất.  Đó là sự vi diệu khó biết.  Nếu tất cả các pháp đều rỗng không thì Phật không nói đến việc vãng sinh.  Đâu có người trí nào mà lời nói trước, lời nói sau lại mâu thuẫn với nhau.  Nếu cái tướng của sinh tử có bản chất chân thật thì tại sao Phật nói các pháp tất cánh không?  Chỉ vì trừ bỏ tâm đắm nhiễm, tà kiến, điên đảo đối với các pháp, cho nên Phật nói các pháp tất cánh không.  Nói tất cánh không khônh có nghĩa là phải phá bỏ cái thân đời sau, mà vì lấp bít nhân duyên nghiệp phát sinh ra tội lỗi.  Nói về việc vãng sinh, Phật pháp không dính mắc vào , vào không, vào cũng có cũng không, vào phi có phi không.  Ngay cả không dính mắc cũng không dính mắc.  Người biết rõ như thế thì không còn thắc mắc gì nữa, như người cầm con dao chặt mạnh vào hư không thì không có thương tích.  Đó là cái tướng tất cánh không.  Nói tất cánh không mà không có ngăn nhân duyên nghiệp sinh tử.  Cho nên, Phật pháp nói vãng sinh.  Mối nghi này rất cạn cợt, người có chút ít hiểu biết có thể đoạn trừ.  Ở thế gian có rất nhiều người khởi kiến giải này, cho nên trước tiên phải phá trừ nó.  Đó là cái chướng nạn thứ nhất cho việc cầu nguyện vãng sinh.

2- Khiếp liệt đọa

1. Nghi ngờ tập  khí phiền não sâu dày

Kẻ phàm phu chỉ biết nghiệp lực chứ không biết tánh của nghiệp vốn rỗng không.  Nếu tánh nghiệp của chúng sinh có bản chất chân thật thì khắp cõi hư không cũng không có chỗ dung chứa giống như mây đen che khuất một khoảng hư không, nếu gió thổi đến thì quét sạch mây mù.  Nếu mây đen thật có thì gió không bao giờ quét sạch mây được.  Hư không dụ cho thể tánh, mây đen dụ cho nghiệp lực, niệm Phật dụ cho gió thổi.  Vậy thì tánh của nghiệp tức là pháp tánh, nó có lực dụng rất lớn nhưng ngặt vì kiết sử che khuất nên thần lực không thể nào hiển hiện, như Ô Xô Sắc Ma nghe Phật Không Vương thuyết pháp: “Người đa dâm như đống lửa cháy ngùn ngụt”.  Về sau, Ngài quán sát khắp toàn thân, tứ chi với các hơi ấm lạnh thì thần quang ngưng tụ ở bên trong, tâm đa dâm biến thành ngọn lửa trí tuệ.  Đồng một nhiệt não, nếu tâm hướng về sự dâm dục thì thành đống lửa ngùn ngụt, đến khi xa lìa được dâm dục thì thành ánh sáng báu lớn.  Nếu tánh của dâm có bản chất chân thật thì tại sao trong đó lại được tam muội?  Cho nên, chúng sinh mê lầm thì thọ thai trong địa ngục, còn hành giả niệm Phật lập tức bước vào bào thai sen, vì tánh của bào thai sen ấy là tự tánh biến hiện chứ không phải từ bên ngoài đến, như nước trong veo không ngoài nước vẩn đục mà có.

2. Nghi ngờ năng lực niệm Phật kém cỏi

Chúng sinh mê muội tin hạnh nghiệp hữu hình thì lớn, chứ không tin niệm lực (năng lực của  niệm) vô hình càng lớn lao hơn nữa.  Tại sao vậy?  Vì niệm lực là cội nguồn của hạnh nghiệp.  Nếu không có niệm lực thì tất cả sự nghiệp không thể nào thành tựu, như người vô tâm tạo tội dù tội lỗi nặng nề nhưng mà chịu quả báo nhẹ.  Nếu cố ý tạo tội thì người ấy chịu quả báo ngược lại, vì niệm lực là trọng yếu; như khi vô ký, tâm tư trôi dạt theo chuyện đê hèn thế tục; tuy tai có nghe, tuy mắt có thấy nhưng người ấy cũng không ghi nhớ được gì.  Đối với những việc khó nhớ, khi âm thanh lướt qua thính giác, nếu có sự chú ý thì suốt đời không bao giờ quên, vì niệm lực vững chắc.  Tô Tử Chiêm nói: “Phật do tánh giác viên mãn vĩ đại mà trùm khắp mười phương cõi nước.  Còn ta do chấp chặt tư tưởng điên đảo mà nổi chìm trong biển sinh tử”.  Vậy thì tại sao do một niệm mà được vãng sinh về Tịnh Độ?  Bởi lẽ, từ vô thỉ, ta đã tạo nghiệp vốn từ một niệm sinh khởi.  Đã từ một niệm sinh khởi thì cũng phải từ một niệm chấm dứt.  Khi niệm niệm sinh diệt diệt hết, ta bước lên địa vị ngang bằng với Phật, như dòng nước tuôn chảy về biển cả, như tiếng trống luồng trong gió.  Dù cho có trí của bậc đại thánh nhưng mà cũng không thể nào phân biệt được. Tịnh Độ quyết nghi ghi: “Cái niệm của con người trói buộc rất nhanh”, như nước của trăm ngàn dòng sông dĩ nhiên chảy về biển cả, như trên ngọn lửa bùng cháy dĩ nhiên nóng hừng hực,  như vung thanh gươm bén dĩ nhiên có tổn thương, như thuốc độc uống vào dĩ nhiên bị chết.  Vì vậy, không phải không có hiệu lực.  Mỗi niệm niệm Phật cũng theo đây suy ra  mà biết; như người nam dâm dục, chính niệm dâm mãnh liệt ấy biến thành ngọn lửa đốt cháy miếu thờ thần; như đồng tử Nguyệt Quang quán tưởng nước, có người đệ tử lén nhìn vào thất thì chỉ thấy toàn là nước; như Thanh Biện và ngoại đạo nghị luận, vì chấp chặt kiến giải của mình nên bỗng nhiên ngoại đạo biến thành tảng đá.  Thanh Biện còn viết nghị luận trên tảng đá.  Sáng mai đến xem cũng thấy có lời đáp lại.  Sau đó, bỗng nhiên, tảng đá vỡ tung, rống những âm thanh khủng khiếp trong hư không.  Những việc ấy đều chỉ do niệm lực vững mạnh sinh ra, chứ không có nguyên nhân nào khác, thì đâu lý nào niệm Phật mà Phật không hiện!

Nên biết, niệm lực là vua trong tất cả pháp, như Ma Ha Na Già là đại lực dũng sĩ.  Mỗi khi bùng lên cơn giận dữ, trán anh ta có vết nhăn.  Nếu vết nhăn ấy chưa hết thì ở cõi Ta Bà, mọi người không có ai chống cự nỗi.

3. Nghi ngờ Cực Lạc cách xa vạn ức cõi nước

Kẻ phàm phu chấp chặt Cực Lạc cách xa mười vạn ức cõi nước.  Dù cho ngựa chạy rất nhanh, thuyền bơi rất lẹ, nhưng mà suốt ngày chạy không được ngàn dặm.  Tại sao trong giây phút được sinh về cõi nước kia?

Họ không nghĩ đến cõi nước xa, gần là từ thân phần đoạn này suy lường việc vãng sinh hay từ nhục nhãn này suy lường việc vãng sinh?  Người được vãng sinh là thân phần đoạn được vãng sinh hay tâm được vãng sinh?  Nếu nói thân phần đoạn được vãng sinh thì nó là một khối vật chất, làm sao được vãng sinh?  Nếu nói tâm được vãng sinh thì tâm này trùm khắp pháp giới, Tịnh Độ sẵn ở trong tâm, đâu có đến, đi, như người ở Trường An nhớ về quê hương hoặc nhớ về tỉnh Phúc Kiến (Trung Quốc), hoặc tỉnh Vân Nam ( Trung Quốc), tùy theo sự nhớ nghĩ, hình ảnh kia hiện đến chứ đâu có đường đi.  Lại như người nằm chiêm bao, tuy thân ở trên giường nhưng tâm, ý, thức lang thang đến phương nào đó.  Cư sĩ Vô Công nói: “Tuy Cực Lạc cách xa  mười vạn ức cõi nước, nhưng đến  khi lâm chung, trong giây phút, kẻ phàm phu liền đến vì tự tâm sẵn mầu nhiệm vậy”.  Kinh Lăng nghiêm ghi:  “Ông còn chưa hiểu được các tướng huyễn hóa của tất cả pháp hữu vi là tùy duyên sinh ra, cũng tùy duyên hoại diệt.  Nhân duyên hòa hợp thì hư vọng thấy có sinh ra.  Nhân duyên tan rã thì hư vọng gọi là hoại diệt”.  Vận dụng lý này mà suy xét: ngay khi lâm chung, vì duyên huyễn tan rã nên hành giả huyễn diệt ngay cõi Ta Bà; vì duyên tịnh hòa hợp nên hành giả huyễn sinh ngay cõi Cực Lạc.  Đây diệt, kia sinh, không ngăn cách đường tơ kẽ tóc, cũng đâu khoảnh khắc nào để mà luận.

Xưa kia, ở quê tôi có người biết dời cơ tiên.  Người ấy chính là anh của tôi.  Sau đó, anh ấy được tuyển đến thủ đô.  Anh tôi và những người bạn có việc cần phải cầu cơ, nhưng người cầm cơ tiên ở đất Ngu, xa xôi, không thể đi đến được.  Bất đắc dĩ, họ viết vào lá bùa, đọc những lời muốn nói.  Giây phút sau, người ở đất Ngu liền đến.  Những người ấy còn nghiệp hệ  mà đến được nhanh chóng như thế, huống chi năng lực của niệm không thể nghĩ bàn nương nhờ công đức bổn nguyện của A Di Đà như thuận nước trương buồm, có gì chướng nạn.

Vì vậy, hành giả niệm Phật nên dứt trừ ba điều nghi ngờ ở trên.  Nếu không dứt trừ nó thì thật là phiền não, tập khí sâu dày, năng lực của niệm kém cỏi.  Đó là đường xa mười vạn ức cõi, như người muốn ra khỏi cửa ngõ mà tự mình đóng cửa gài then.  Chính người ấy không muốn cất bước, chứ chẳng phải không có cửa để đi ra.

3- Tùy ngữ đọa

Lục Tổ nói: “Người Đông phương tạo tội thì niệm Phật cầu sinh về Tây Phương.  Còn người Tây Phương tạo tội thì niệm Phật cầu sinh về nước nào?”

Cư sĩ Bàng Uẩn nói: “Đứng về phương diện sự tướng thì cõi Phật cách đây mười vạn dặm, biển cả mênh mông không bờ bến, theo cuồng phong dậy sóng”.

Có bọn người ngu si dựa vào câu nói này mà rao truyền những lời bậy bạ: “Pháp môn Tịnh Độ không cần tu”.  Lời nói ấy đã làm chướng ngại mình và người khác.  Thật đáng thương xót làm sao!

Bàn luận về việc đề xướng của Tông môn còn không nói có Phật, huống chi có cõi Phật.  Sỡ dĩ Tông môn nói như vậy là vì phá tướng minh tâm, quét sạch cả thị phi như lưỡi gươm bén, hễ chạm đến thì liền đứt tay; như hạt kim cương, hạt dẻ, cây gai, đâu phải là trà, cơm thường dùng trong nhà.  Hơn nữa, trong Tông môn, những ngữ cú ấy có rất nhiều.  Nếu ngữ cú nào cũng đều chấp chặt vào thì ông già Thích Ca có ra đời sẽ bị đập chết liệng cho con chó của Vân Môn ăn.  Cổ đức nói: “Như thế nào là Phật?” – “Đồ chùi phân”.

Nếu thực như vậy, mỗi khi thấy xe phân, gánh phân, hố xí thì phải nên lễ lạy, cúng dường.  Di Đà sớ sao ghi: “Tây Phương cách đây mười vạn ức cõi nước”.  Đàn kinh nói: “mười vạn tám ngàn”.  Đó là điều sai lầm, vì cho Ngũ Thiên Trúc, v.v… là Cực Lạc.  Lời nói ấy gần đúng, vì Lục Tổ chưa từng xem qua Đại Tạng nên nghe người khác nói Tây Phương liền cho là Ngũ Thiên Trúc.  Trong giáo nói rõ ràng: “Người sinh về Cực Lạc thì ba độc không còn sinh khởi, được bất thoái chuyển”.  Bây giờ lại nói: “Người Tây Phương tạo tội thì cầu sinh về nước nào?”.  Đây cũng là một dẫn chứng về sự sai lầm như trên.  Thế nhưng, trong Tông môn, những lời nói nhất thời ấy có rất nhiều, cũng không cần biện luận nữa.

Ôi!  Quả thực người học đạo có thể đốn ngộ, đốn tu, kiến giải và thực hành đi đôi với nhau như Lục Tổ; như cư sĩ Bàng Uẩn ném vàng xuống sông Hán, tham quan tự do trong ngục tù sinh tử.  Tuy những vị ấy không cầu vãng sinh, nhưng cũng đâu có hại gì đối với việc vãng sinh.

4- Cuồng tứ đọa

Có bọn dân ma chuyên rêu rao trí tuệ ngông cuồng.  Chẳng những chúng không chịu trì giới, tu hành mà còn bậy bạ dẫn những ngôn ngữ tương tự trong kinh, như chúng nói : “Phiền não tức là bồ đề, những thứ dâm dục, giận dữ, si mê tức là phạm hạnh”.  Chúng dựa vào ngôn ngữ phát sinh tri giải, dựa vào tri giải phát sinh những sự độc hại.  Nếu như lời nói đó thì:

– Phật Thích Ca Văn ngộ đạo lẽ ra phải gần gũi cung phi mỹ nữ.

– A Nan bị dẫn vào nhà dâm, đâu cần Văn Thù đến cứu hộ!

– Khi chưa thọ giới, sống chung với những người thợ săn, tội gì mà Lục Tổ chỉ ăn rau ở bên thịt!

Kinh nói còn không có sát sinh, không trộm cướp, không dâm dục; huống chi lại có những việc sát, đạo, dâm… Đâu có người nào khinh chê hương trầm thủy mà ưa thích ở hố xí.

Ngày xưa, ở Ngũ Thiên Trúc có Đạt Ma Đạt có trí tuệ, biện tài.  Ngài thờ thầy là tôn giả Sư Tử.  Tôn giả biết rõ trình độ giải ngộ của đệ tử mình.  Trước đại chúng, tôn giả trao truyền Tổ vị cho Bà Xá Tư Đa.  Ma Đạt ôm lòng oán hận, nói rằng: “Tôn giả vốn biết kiến giải thâm sâu của ta.  Tại sao không căn cứ vào kiến giải để trao truyền Tổ vị?”

Một ngày kia, đi một mình qua bờ sông, gặp người con gái đang giặt giũ để trần bắp chân ra ngoài.  Ma Đạt thầm nghĩ:  “Bắp chân của nàng trắng nõn quá chừng!”.  Bỗng nhiên, ở bên cạnh Ma Đạt, tôn giả nói rằng: “Tâm ngày nay của ông có đáng trao truyền Tổ vị chăng?”.  Ma Đạt bèn nhiếp tâm, lạy chân tôn giả, cầu xin sám hối.  Từ một giới dâm này có thể suy ra các hạnh khác.  Kinh Bát Nhã ghi: “Vì cả tội và phi tội đều không có bản chất chân thật, nên phải thực hành trì giới ba la mật một cách đầy đủ”.

Giải thích: Cả tội và phi tội đều không có bản chất chân thật, không phải là lời nói của bọn thô tâm, tà kiến.  Nói không có bản chất chân thật vì bồ tát thâm nhập thật tướng của các pháp, vì thực hành pháp Không tam muội, vận dụng tuệ nhãn quán chiếu, cho nên thấy tội không có bản chất chân thật vì tội vốn không, mà phi tội cũng không có bản chất chân thật.  Nếu người đắm nhiễm vào phi tội, thấy người tạo tội, phá giới thì sinh tâm khinh miệt, thấy người lành trì giới thì sinh tâm cung kính.  Nếu trì giới như thế thì đó là nhân duyên để phát sinh tội lỗi, không được gọi là trì giới trọn vẹn.  Vì thế, nên biết, người chấp vào giới tức là phá giới, huống chi người hủy phạm giới.  Chấp vào việc trì giới cũng phải ngăn cấm mới gọi là trì giới.  Các Đại kinh nói: “Phạm hạnh không có bản chất chân thật…”  đều là nghĩa này.  Vĩnh Minh nói:  “Còn tập khí thì bị ngoại cảnh lôi kéo, có hiện hành thì đâu trốn khỏi các duyên trói buộc, như con voi say không có câu móc, như con vượn ngu  nắm được cành cây; hễ nó bôn ba thì phải lập tức giữ lại, cũng như con chim đang sống bị nhốt trong lồng.  Do vậy, bồ tát tôn kính giới như bậc thầy, thường gìn giữ và rất sợ mất giới”. Lại nói: “Thời mạt pháp, trong Tông môn, người học đại thừa phần nhiều khinh thường giới luật”.  Vì thế, trong kinh Niết bàn, Phật đà lại tuyên thuyết giới luật để trợ giúp cho pháp  môn giới  luật thì thừa, giới đều nhanh.  Cho nên, kinh này vô cùng quý báu để kéo dài sinh mệnh của thường trụ.  Tại sao vậy?  Vì nếu không có lời dạy này thì những người ấy chỉ nói chuyện giải thoát trên đầu môi chót lưỡi, hoàn toàn không có tu hành gì hết.  Vậy thì thừa, giới đều mất.  Thừa nghĩa là ngộ đệ nhất nghĩa đế.  Giới nghĩa là dừng tất cả nghiệp ác.  Ở đây, tổ sư phân ra Tứ liệu giản:

1. Giới cấp thừa hoãn (Dừng nghiệp ác nhanh nhưng ngộ đệ nhất nghĩa đế chậm).

Vì dừng nghiệp ác nhanh nên chúng sinh sinh trong cõi trời, cõi người như người bắn mũi tên thẳng lên hư không, khi lực tác động vào mũi tên hết rồi, mũi tên rơi xuống đất. Tuy có nghe đại pháp nhưng người ấy cũng như kẻ câm, kẻ điếc, vì ngộ đệ nhất nghĩa đế chậm.

2. Thừa cấp giới hoãn (Ngộ đệ nhất nghĩa đế nhanh nhưng dừng nghiệp ác chậm).

Vì dừng nghiệp ác chậm nên chúng sinh sinh trong đường dữ.  Vì ngộ đệ nhất nghĩa đế nhanh nên chúng sinh thường nghe pháp đại thừa, như tám bộ loại quỷ thần trên hội Hoa Nghiêm.

3. Thừa giới câu cấp (Ngộ đệ nhất nghĩa đế và dừng nghiệp ác đều nhanh).

Vì ngộ đệ nhất nghĩa đế và dừng nghiệp ác đều nhanh, nên chúng sinh sinh trong cõi trời, cõi người và thường nghe pháp đại thừa.

4. Giới thừa câu hoãn (Ngộ đệ nhất nghĩa đế và dừng nghiệp ác đều chậm).

Vì ngộ đệ nhất nghĩa đế và dừng nghiệp ác đều chậm, nên chúng sinh sinh trong ba đường dữ, vĩnh viễn không nghe được pháp.

Do đó, hai pháp dừng nghiệp ác và ngộ đệ nhất nghĩa đế như chiếc xe có hai bánh xe, hễ phế bỏ một bánh thì không thể được.  Long Thọ nói: “Người phá giới cũng như cái ao nước sạch, mát mẻ mà có rắn độc, không thể tắm gội trong đó được. Nhà cửa của người ấy cũng như nấm mộ, không có ai dám bén mảng đến.  Người ấy bị tiêu mất các công đức như cành cây khô héo, như mảnh ruộng bị  mưa đá, không thể nào trông mong thu hoạch gì, như người mắc bệnh trầm trọng thì không ai dám đến gần, như người ói ra thì không bao giờ ăn trở lại”.  Bồ tát lắm lời quở trách như thế, có từng chấp nhận cho người phá giới chăng?  Cho nên, dù học giải cả ngàn ngày nhưng  mà không bằng một ngày trì giới.  Đâu được tham cái hư danh ngộ đạo mà cam chịu thảm họa ở chốn địa ngục; khinh mình, dối người bị chính quyền trừng trị một cách không thương tiếc.

Ôi! Nếu con người sủa bừa bãi thì không có cái gì mà không phá hoại.  Vì ngọn lửa tà kiến hung tàn thiêu hủy giới bảo trước tiên, nên nay chỉ nói về giới.  Giới là nền tảng của tịnh nghiệp, vì tất cả pháp lành thanh tịnh đều do giới phát sinh ra.

5- Chi li đọa

Có nhiều pháp sư  nghiên cứu giáo điển, ghi chú chương cú, chấp chặt vào cái giả danh của pháp thân, phân tích phạm vi của danh tướng, tìm Đông bắt Tây, suốt tháng quanh năm.  Những vị ấy đùa với hình tượng Tỳ lô trên giấy mực, ngồi nơi pháp giới được phô bày trong kinh sách, rồi sinh ra kiêu ngạo, ngông cuồng, được chút ít cho là đủ.  Nghe  người niệm Phật, họ nói rằng: “Pháp môn Niệm Phật là pháp nhiếp vọng tưởng trong tiểu thừa”, hoặc nói: “Nghĩa giáo hải rất sâu, các ông độn căn niệm Phật cũng được”, hoặc nói: “Trong ba tạng, pháp môn Niệm Phật thuộc về tạng nào?”.  Hoặc nói: “Đây thuộc về giáo nào?  Giống  như bọn trẻ con cãi vã ở xóm trên, bên nào nhiều thì bên đó thắng”.  Việc gì cũng đều đem kiến giải của mình ra để tranh cãi, chứ không có tu hành chân thật gì hết, như phạm chí Trường Trảo vận dụng năng lực nghị luận của mình để chiết phục các luận sư.  Khi chiến thắng, ông cao hứng đường đột nhảy múa, không ai có thể ngăn chặn được.  Về sau, đến chỗ Phật, phạm chí suy nghĩ: “Tất cả nghị luận đều có thể phá vỡ, tất cả cố chấp đều có thể lay chuyển.  Trong đó, cái gì là thật tướng của các pháp?  Cái gì là đệ nhất nghĩa đế?  Cái gì là tánh?  Cái gì là tướng?”.  Phạm chí tư duy điên đảo như thế rồi bạch với Phật:

– Cù Đàm, tôi không thọ tất cả pháp.

Phật hỏi:

– Ông không thọ tất cả pháp, vậy có thọ cái kiến giải này chăng?

Phạm chí đáp:

– Cù Đàm, tôi không thọ tất cả pháp, ngay cái kiến giải này cũng không thọ.

Phật hỏi:

– Ông không thọ tất cả pháp, ngay cái kiến giải này cũng không thọ.  Vậy thì không có thọ cái gì cả, ông với mọi người không có gì khác nhau.  Ông đâu cần phải kiêu ngạo, sinh tâm ngông cuồng?

Phạm chí câm lặng.

Từ đó, phạm chí hết sức tin phục đức Phật.

Thế nên, phải biết, kẻ đói khát đi ngang qua quán ăn, chỉ càng thấy thèm thuồng mà không no được bụng đói.

Xưa kia, ở Giang Nam có  một tọa chủ căn tánh linh lợi.  Ông ta phân tích cho tôi nghe về Duy thức, và chỉ ra nghĩa lý thâm áo trong giáo pháp mà ông ta đã tiếp nhận.  Đối với các chú sớ của các bậc danh đức, phần nhiều ông ta buông lung phê bình, bài bác.

Tôi hỏi:

– Sự hiểu biết ấy có thể chống cự nổi với sinh tử không?

Tọa chủ mạnh mẽ trả lời:

– Có sinh tử gì để chống cự.

Tôi nói:

– Đúng thì đúng lắm, nhưng e rằng trước điện Diêm La, tọa chủ không chuyển dịch được chữ sống,  Diêm Vương không hiểu được ngữ ngôn tam muội của tọa chủ.

Tuy nói đùa một chút, nhưng việc ấy rất đúng với cái bệnh của giảng sư.  Kính khuyên các vị bồ tát trẻ tuổi, chương ngắn thiên dài, bị lôi kéo bởi văn tự, ngữ ngôn; miệng đọc, tâm nhớ nghĩ đến nỗi nhức óc, mờ mắt.  Thế nhưng, xét kỹ sự hiệu nghiệm của nó chẳng qua là mấy lần bước lên pháp tòa, mấy lần giảng kinh, được bao nhiêu kẻ si mê lễ lạy?  Nếu không có công hạnh chân thật thì những việc ấy chỉ gánh thêm nợ nần, nghiệp chướng mà thôi.  Đâu bằng một tiếng A Di Đà tiến thẳng lên địa vị bất thoái, chỉ có một việc niệm Phật mà thành công cả trăm việc, như Đàm Mô Tối giảng kinh Hoa nghiêm, kinh Niết bàn, thủ lĩnh cả ngàn người, lại bị Diêm La trách rằng: “Người giảng kinh mà tâm còn chấp chặt nhân ngã và kiêu ngạo, lấn  hiếp người khác.  Đây là hạnh thô bậc nhất trong các vị tỳ kheo, phải giao phó cho ty ngục”.  Ngày nay, chúng ta có thể lấy việc này để răn nhắc.

Tuy nhiên cũng có bậc xuất cách am tường giáo nghĩa, do tham cứu giáo điển mà ngộ việc vĩ đại không thể nghĩ bàn của Tây Phương.  Vì việc tự lợi, lợi tha mà đem lại lợi ích cho đời sau, như người đốt đuốc trong đêm dài tăm tối, được vô lượng công đức.  Đâu phải vì thấy người ăn cơm mắc nghẹn mà tự mình không ăn, thấy người khác ngã nhào mà tự mình dừng xe lại.

6- Sĩ không đọa

Người học đạo vừa thấy được chút ít về lý các pháp vốn rỗng không, nghe người khác niệm Phật, vội nói: “Các pháp xa lìa văn tự, nếu theo cái giả danh thì càng thêm hư vọng.  Tại sao vậy?  Vì ngôn ngữ, văn tự còn rỗng không, huống chi danh hiệu”.

Đáp:  Kinh Pháp cú ghi: “Phật dạy bồ tát Bảo Minh: Ông hãy quán sát danh tự của các đức Phật kia.  Nếu danh tự có, khi nói về thức ăn với người khác thì họ phải được đỡ đói.  Nếu danh tự không thì Định Quang Như Lai không thọ ký cho ta và tên của ông.  Nếu như không có người thọ ký thì lẽ ra ta không thành Phật.  Nên biết, danh tự đã như như lâu rồi, và cái như của ta đủ để hiển bày tánh rỗng không của danh tự, của các pháp, chứ không mắc kẹt vào có, vào không”.  Kinh Hoa nghiêm ghi: “Các pháp không có phân biệt tự tánh, không có phân biệt âm thanh, nhưng mà tự tánh không có xả bỏ, danh tự không có dứt hết”.  Luận Quần nghi ghi: “Nếu nói danh tự vô dụng thì không thể nói về thể của các pháp, cũng không thể nào gọi tên lửa, nước được”.  Nên biết, nôm bẫy chẳng phải rỗng không, nhờ có nôm bẫy mà bắt được cá, thỏ.  Cũng vậy, nếu  hành giả niệm danh hiệu A Di Đà thì dĩ nhiên sinh về Tịnh Độ, làm sao được nói niệm Phật là hư dối?

Thiên Thai Trí Giả nói rằng: “Thế gian có những người tu cái hạnh không.  Do chấp chặt vào cái si không kia, nên không phù hợp với khế kinh.  Khi nghe pháp quán tâm này, họ cật vấn rằng: Quán tâm là bình đẳng với pháp thân.  Đã bình đẳng thì chỗ nào cũng đều bình đẳng.  Tại sao lại cung kính kinh tượng mà khinh thường giấy, gỗ?  Vì có  sự cung kính, khinh thường khác biệt, nên không phải bình đẳng.  Vì không phải bình đẳng, cho nên nghĩa pháp thân không đứng vững được”.

Đáp: Tôi cho rằng, ở địa vị phàm phu, quán tướng như thế là muốn hiển bày cái thật tướng này.  Cung kính kinh tượng khiến cho trí tuệ không bị trói buộc.  Giả sử vô lượng người tôn kính pháp lành, xa lìa pháp ác thì khiến cho không bị trói buộc vào phương tiện.  Chẳng lẽ ngang bằng với ông sao?”  Sách Thượng đô nghi ghi: “Quy mạng về ngôi Tam Bảo cần phải chỉ phương, lập tướng.  Nếu trụ tâm, chấp cảnh thì không rõ vô tướng, lìa  niệm”.  Phật biết trước kẻ phàm phu buộc tâm còn không được, huống chi lìa tướng sao?  Như người không có phép thuật thần thông mà muốn xây cất nhà ở giữa hư không.  Kinh Pháp hoa ghi: “Ông chứng các pháp của Phật như nhất thiết trí, thập lực,…đủ cả ba mươi hai tướng mới là tịch diệt chân thật”.  Đại sư Nam Tuyền nói: “Pháp thân thanh tịnh, vi diệu, đầy đủ ba  mươi hai tướng nhưng không cho có tâm suy lường, phân biệt mà thôi.  Nếu không có tâm như thế thì tất cả chỗ tu tập cho đến búng  móng tay, chắp tay đều là chánh nhân”.  Hòa thượng Bách Trượng nói: “Hành đạo, lễ lạy, tâm từ, bi, hỷ, xả là việc căn bản của sa môn”.  Rõ ràng là dựa vào lời Phật dạy nhưng không cho dính mắc.  Tịnh độ chỉ quy ghi: “Hành giả tu tập bên giáo viên đốn thì khi nói, nín, động, tịnh đều tuân theo thánh giáo, đều phù hợp với tâm Phật”.

Nếu cho niệm Phật là khởi tâm động niệm thành ra vọng tưởng thì kẻ chấp vào trạng thái dừng tâm, vô niệm cũng là vọng tưởng.  Kinh Thủ lăng nghiêm ghi: “Dù cho ông diệt tất cả cái thấy, nghe, hay, biết nhưng  mà bên trong ông còn  chấp vào trạng thái u nhàn thì vẫn là bóng dáng phân biệt của pháp trần”.

Nếu cho rằng niệm Phật là dính mắc vào tai họa hữu vi thì người chấp chặt vào cái rỗng không, tai họa ấy càng nghiêm trọng hơn nữa.  Vĩnh Gia nói: “Nếu người chấp cái rỗng không mà bài bác nhân quả, tung hoành phóng túng thì chuốc lấy tai họa hiểm nghèo”.

Nếu cho rằng cầu Phật khác ở bên ngoài là chưa tỏ ngộ thì kẻ chấp chặt cái tâm ở bên trong lại càng mê lầm hơn nữa.  Huyền Sa nói: “Người học đạo không biết cái chân thật, chỉ vì từ xưa đến nay chấp nhận cái thần thức.  Đó là nguồn gốc sinh tử từ vô lượng kiếp đến nay mà người ngu gọi là bản lai nhân (tự tánh)”.

Nếu cho rằng cầu sinh về tịnh độ nào khác là biên kiến thì người chấp chặt tịnh độ ở trước mắt là điều hết sức sai lầm. Kinh Lăng Nghiêm ghi: “Người lạc vào con đường của ma đều chỉ cái trước mắt đã là cõi Phật, chứ không có tịnh độ và đức Phật nào khác.  Họ thích nói: “Mắt, tai, mũi, lưỡi đều là tịnh độ.  Hai căn nam, nữ là bồ đề, niết bàn”.  Vì vậy, đệ tử cùng thầy đều bị chính quyền trừng trị.  Do họ mê lầm, không biết nên bị rơi vào địa ngục Vô Gián”.

Nếu người chấp chặt có tu, có chứng là quyền thuyết thì người chấp chặt không tu, không chứng là lạc vào ngoại đạo, tai họa ấy càng nghiêm trọng hơn nữa.  Kinh Lăng Nghiêm ghi: “Thiện nam tử, trong khi thiền định, nếu thấy sắc ấm mất rồi, thọ ấm rõ ràng, tự cho sự tu hành của mình đã đầy đủ thì họ bị ma Đại Ngã Mạn xâm nhập, nói rằng: “Một  niệm có thể vượt qua ba vô số kiếp”.  Trong tâm, họ còn khinh miệt Như Lai khắp cả mười phương, huống chi các vị thanh văn, duyên giác.  Họ không lễ chùa, tháp, phá hủy kinh tượng, nói với Phật tử rằng: “Tượng Phật là loại vàng, đồng, đồ gỗ, kinh sách là lá bối hoặc giấy, lụa.  Xác thân này là chân thường, sao không cung kính lại sùng bái loại cây, loại gỗ, thật là điên đảo.  Do gieo rắc nghi ngờ, lầm lạc cho chúng sinh, nên họ bị rơi vào địa ngục Vô Gián”.

Vì thế, nên biết, chấp không, phá tướng đều là quyến thuộc của ma.  Luận Trí độ ghi: “Như anh nhà quê ban đầu không biết muối, thấy người khác sử dụng muối nêm vào thức ăn, anh ta hỏi:

– Tại sao như vậy?

Người kia đáp:

– Muối này có thể làm cho vị của thức ăn ngon hơn.

Anh ta suy nghĩ rằng, muối này có thể làm cho vị của thức ăn ngon hơn.  Vậy, ta cần phải ăn muối cho thật nhiều, liền hốt muối vào đầy cả miệng.  Vị mặn của muối làm tổn hại cái miệng.  Anh ta hỏi:

– Tại sao ông nói muối có thể làm cho vị của thức ăn ngon hơn?

Người kia trả lời:

– Đồ ngu, ông không biết sử dụng muối vừa phải nêm vào thức ăn để cho vị của thức ăn ngon hơn.  Tại sao ôngchỉ ăn muối mà thôi?”

Kẻ ngu nghe người khác nói Không giải thoát pháp môn mà dứt hết các căn lành cũng theo đây suy ra mà biết.

Suy đi nghĩ lại, mặc tình cho ông nói tất cả pháp đều không, sinh tử cũng không, nhưng ngặt vì đại vương Diêm La KHÔNG chẳng được, thì sao?

7- Tùy duyên đọa

Người xưa nói: “Tùy duyên tiêu nghiệp cũ, hồn nhiên mặc áo xiêm”. Chỉ cần thuận theo thiên chân thì vạn hạnh tự viên mãn.  Mỗi khi nhấc chân lên, để chân xuống, cái gì không phải là tịnh nghiệp? Vậy đâu cần phải dụng công tu tập?

Đáp  Tiên đức cũng có đặt câu hỏi: “Nếu ngay nơi tâm là Phật thì đâu cần phải nhờ vào tu hành?”. Ở đây tôi xin trình bày:

Chính vì lẽ ấy, cho nên hành giả cần phải tu tập cũng như quặng sắt, tuy có luyện lọc nhưng sắt không thể nào thành vàng được.  Quốc sư Hiền Thủ nói: “Ngày nay, ba thân Phật, mười ba la mật cho đến các hạnh lợi tha của bồ tát, v.v…đều dựa vào sự dung thông trong pháp sẵn có của chính mình mà thực hành.  Vì trong tâm của chúng sinh có chân như, có thể đại, có tướng đại, có dụng đại, cho nên ngày nay tu tập sẽ hiển hiện được pháp thân, báo thân…Vì trong tâm của chúng sinh có chân  như, có pháp tánh, tự không tham lam, cho nên ngày nay tu tập thuận theo pháp tánh không tham lam sẽ hiển hiện được bố thí ba la mật…”.  Trong kinh Niết bàn, Phật bảo bồ tát Sư Tử Hống: “Tất cả chúng sinh đều có các pháp niệm tâm, tuệ tâm, phát tâm, chuyên cần tinh tiến tâm, tín tâm, định tâm.  Các pháp như thế tuy niệm niệm sinh diệt nhưng thấy dường như nối nhau không gián đoạn gọi là tu đạo”; điều này như ngọn lửa bùng cháy tuy lửa sinh diệt trong từng giây phút nhưng tỏa sáng phá tan bóng đêm đen tối, như chúng sinh ăn uống tuy sinh diệt trong từng giây phút nhưng khiến cho người đói được no đủ, như thuốc hay thượng hạng tuy sinh diệt trong từng giây phút nhưng có công hiệu làm cho hết bệnh, như mặt trời chiếu sáng, mặt trăng soi tỏ tuy sinh diệt trong từng giây phút nhưng làm cho cây cỏ, rừng rậm được sum suê tươi tốt.  Kinh Bảo tích ghi: “Nếu không có chánh tu thì lẽ ra mèo, thỏ,…cũng thành Phật”.  Đại sư Ngưu Đầu Pháp Dung nói: “Nếu cho rằng do tu tập mà sinh thì đó là tạo tác, không phải chân.  Nếu cho rằng sẵn có thì vạn hạnh thiết lập một cách hư vọng”. Luận Trưởng giả ghi: “Nếu tất cả đều ngang bằng nhau thì người không có tâm tu đạo phải tu đến trình độ vô tu”.  Từ Mẫn tam tạng lục ghi: “Nếu nói Thế Tôn thuyết các pháp hữu vi như hoa đốm ở giữa hư không thì tại sao Thế Tôn lại dạy các đệ tử chuyên cần tu cái nhân tuyệt diệu của lục độ vạn hạnh sẽ chứng đắc quả vị bồ đề, niết bàn?” .  Đâu có người trí nào tán dương thành Càn Thác Bà cao đẹp, cứng chắc, lại còn khuyên bảo kẻ khác lấy sừng thỏ làm cầu thang để bước lên đó.  Vì lý do ấy, tuy hành giả tu tập pháp hữu lậu nhưng cũng là thật, là chánh, còn như lời của Đạt Ma nói với Lương Võ Đế chính là phá bỏ tâm tham chấp vào pháp hữu vi của vua, cũng như y sĩ tùy bệnh cho thuốc.  Đâu được nắm lấy lời nói nhất thời mà phế bỏ các hạnh nghiệp Phật đạo.  Hơn nữa, trong các kinh, Phật nói không chấp vào tướng bố thí, trì giới,… nghĩa là có tạo tác mà không dính mắc vậy. Nay ông cho rằng vốn không là không dính mắc, như đứa ăn xin thấp hèn nói với người khác rằng: “Tôi không vì sự giàu sang mà kiêu ngạo”. Chẳng lẽ không phải là nói mớ sao?

Lại nữa, người chấp vào vô tác rồi không nhúc nhích như pho tượng bằng vàng…hay vẫn còn giao tiếp như người bình thường?  Nếu còn giao tiếp thì không phải là vô tác.  Nếu nói giao tiếp không trái với vô tác thì quán Phật, lễ niệm vốn tự thiên chân cũng đâu có trái với vô tác.  Vì vậy, hai nghĩa: vô tác rồi không nhúc nhích và vô tác mà còn giao tiếp đều không đứng vững được.  Đó là đại vọng ngữ.

Vì thế, nên biết, tùy duyên hồn nhiên không phải là vô ngại. Nếu vô ngại là tùy duyên thì như con giun chui xuống đất, con ếch ở trong bùn cũng là tùy duyên. Tại sao chúng không thành Phật? Người nhận lầm cơ của tổ sư, cầm gạch ngói cho là ngọc ngà so với kẻ ngu si tôn sùng giáo vô vi theo cái nghĩa không làm gì hết, thì đâu có gì khác biệt.

8- Duy tâm đọa

Có người cho rằng tự tánh tịnh độ tức là ngay nơi cõi đời trần tục mà hằng chân. Thất bảo, ngói đá đều bình đẳng như nhau, chỉ tâm mình thanh tịnh thì đâu cần phải phân biệt gì nữa?

Đáp: Ông nói tâm thanh tịnh thì cõi nước thanh tịnh, không cần phân biệt gì nữa. Vậy thì tôi dẫn ông vào nhà xí, ông có thể ở đó lâu được chăng? Khi vào bãi tha ma có mùi hôi thối nồng nặc xộc lên, ông không bịt mũi được chăng? Ông có thể sử dụng chung đồ đạc, giường nệm với những người có bệnh ghẻ, có bệnh hủi dính đầy máu mủ được chăng? Nếu không thể được, thì cái tướng này là tướng đầy cả năm yếu tố ô nhiễm đáng nhàm chán. Nếu chỗ cư trú, ông còn cần ngôi nhà sạch sẽ, khi vui chơi, ông còn lựa chọn bạn lành, thì cái tướng này là tướng tịnh độ đáng ưa. Ưa, chán đã quá rõ ràng, tại sao ông lại nói bình đẳng? Dù cho ông có thể chịu được những việc khó chịu như chịu đựng những thứ nhơ uế đã nói ở trên, nhưng mà con bọ hung, con quạ, con chó cũng có thể gần gũi những thứ ấy, chẳng lẽ chúng đều đắc đạo hết sao?  Dù cho ông buông bỏ ý niệm về tịnh, về uế, nhưng mà ông còn y nguyên nắm lấy cái xả, thì đối với nghĩa duy tâm cũng không phù hợp.

Vì thế, nên biết, các đức phật vì duy tâm mà khởi lên sự ưa thích, nhàm chán, vì duy tâm mà giảng pháp bình đẳng, vì duy tâm mà trang nghiêm cõi Phật.  Nếu không phải duy tâm thì đâu thể tùy niệm.  Nếu không bình đẳng thì phàm phu đều vô phần.  Nhơ uế còn không buông bỏ được thì tại sao ông chỉ buông bỏ trong sạch?  Buông bỏ đã là tâm thì nắm lấy cũng là tâm, đâu có trái nghịch.  Tất cả đều do không hiểu rõ được yếu chỉ của Phật mới sinh ra vọng chấp này. Hành giả chỉ cần biết lý duy tâm thì ý nghĩ nghi ngờ chấm dứt.

9- Đốn ngộ đọa

Những người tu thiền đời nay đều nói: “Một khi vượt lên trên và nhảy thẳng vào thì không cần công phu tu tập nữa”.  Họ không cầu làm Phật, huống chi nguyện cầu vãng sinh.

Đáp: Họ nói không cầu làm Phật.  Vậy thì sau khi xả bỏ thân mạng sẽ vĩnh viễn dứt hết như tro tàn nguội lạnh hay còn nhận lấy hình hài ở đời sau nữa?  Nếu còn nhận lấy hình hài ở đời sau thì họ sinh về tịnh Độ hay sinh vào ba cõi?  Nếu sinh vào ba cõi thì chi bằng sinh về Tịnh Độ.  Nếu sinh về Tịnh Độ thì chính là vãng sinh.  Tiên đức bảo rằng: “Tuy thiện tri thức nói thấy Phật tánh thì ngang bằng với Phật, nhưng bàn luận về công phu của người ấy thì chưa bằng các vị thánh.  Vì vậy, ngày hôm nay phải từng bước huân tu”.  Lại nói: “Người chưa tỏ ngộ mà tu thì không phải là chân tu”.  Chỉ có lý đốn ngộ, tiệm tu này đã hợp với Phật thừa, không trái với ý chỉ viên đốn.  Nói đốn ngộ, đốn tu cũng là do nhiều đời đã tiệm tu, đến đời này liền được thuần thục.  Việc ấy, hành giả phải tự nghiệm xét. Nếu lời nói và thực hành đi đôi với nhau, lượng tận cùng bờ mé của pháp giới thì tâm hành giả mới hợp với lý hư không.  Tám gió bất động, ba thọ rỗng lặng, chủng tử hiện hành đều tiêu tan, căn bản phiền não, tùy phiền não đều dứt hết, như người không bệnh thì không cần uống thuốc.

Nếu hiện hành chưa dứt hết mà phiền não, tập khí lại sâu dày thì khi mắt vừa xem qua, hành giả khởi tâm động niệm; khi tiếp xúc với trần cảnh, hành giả vẫn còn dính mắc.  Tuy rõ cái nghĩa vô sinh, nhưng mà năng lực ấy chưa được đầy đủ; hành giả không thể nói rằng: “Ta đã ngộ rồi, tánh của phiền não thì rỗng không. Nếu khởi tâm tu tập thì lại trở thành điên đảo”.  Mặc dù tánh của phiền não rỗng không, nhưng mà nó có thể sai khiến hành giả thọ nghiệp.  Tuy kết quả của nghiệp là vô tánh, nhưng nó cũng gây ra cái nhân khổ.  Nỗi khổ tuy hư vọng nhưng tại sao lại khó chịu?  Cũng như người mắc bệnh trầm trọng, bệnh cũng hoàn toàn rỗng không, tại sao phải rước y sĩ chữa trị, uống thuốc khắp nơi?  Tổ sư nói: “Đem cái tâm như hư không hợp với lý của hư không, cũng không có cái lượng của hư không, công phu tu tập như thế mới không đền trả quả báo”.  Thiền sư Phần Dương Vô Nghiệp nói rằng: “Thiên hạ ngày nay hiểu thiền, hiểu đạo như số cát sông Hằng; nói Phật, nói tâm có trăm ngàn vạn ức, nhưng mảy bụi không hết thì khó tránh khỏi chu kỳ tiếp nối của sinh tử; niệm vi tế vẫn còn thì bị trầm luân đọa lạc”.  Những người ấy không thể tự biết kết quả của nghiệp, lại còn dối nói tự lợi, lợi tha.  Tự cho mình là bậc thượng lưu, bắt chước lời của tiên đức mà phát ngôn: “Mắt tiếp xúc với trần cảnh đều là Phật sự, chân cất bước khắp chốn cùng nơi đều là đạo tràng”.

Thật ra, sự dụng công tu hành của những người ấy không bằng người giữ năm giới, làm mười điều lành.  Xét lại lời của họ chính là khinh khi nhị thừa, bồ tát thập địa.  Đề hồ có vị ngon bậc nhất được mọi người ưa thích, nhưng rơi vào tay những người ấy thì trở thành độc dược.  Giả sử họ có tài giỏi như Mã Minh, tri giải ngang bằng Long Thọ, thì chỉ là một đời, hai đời không bị mất thân người mà thôi.  Đến khi lâm chung, mảy may tình lượng thánh phàm không hết, sự suy nghĩ nhỏ nhiệm như hạt bụi còn chưa quên, họ sẽ theo ý niệm mà chịu sự tái sinh, nhận lấy hình hài nặng, nhẹ khác biệt: hoặc đâm đầu vào thai lừa, bụng ngựa để gởi thân, hoặc bị thiêu đốt trong vạc nước sôi sùng sục, hoặc trong lò than hồng.  Một khi mất hết kiến giải, ức tưởng đã ghi nhớ trước kia thì vẫn y như cũ, họ trở lại làm con dế nhũi, con kiến, rồi làm con ruồi, con muỗi.  Tuy có gieo cái nhân lành, nhưng họ gặt hái quả báo ác.  Hòa thượng Viên Ngộ nói rằng: “Ở chỗ sinh tử mà an lành không phải là chuyện dễ, chỉ có bậc đại triệt ngộ, siêu chứng, một khi dứt khoát được thì mới không khó.  Tuy có căn khí và năng lực của chính mình, nhưng những vị ấy cũng cần phải nhờ vào phương tiện”.

Đối với cảnh giới nhỏ nhặt trong khi bình thường, hành giả phải chuyển cho được, phải thấu suốt triệt để.  Cứ như thế mà thực hành, bồi dưỡng tinh thần đó cho thuần thục, đến khi duyên đời chấm dứt thì tự nhiên hành giả không còn sợ hãi gì nữa.  Cho nên, cổ đức có vị ngồi mà viên tịch, có vị đứng mà xả thân.  Sự ra đi của những vị ấy dễ dàng cũng như con ve lột vỏ, mới có thể được thong dong tự tại.  Đó là do cổ đức gột rửa thân tâm trong khi bình thường, như Hương Lâm hạ thủ công phu suốt bốn mươi năm mới nhồi thành một khối, Dũng Tuyền dụng công tu tập suốt bốn mươi năm mà tâm còn rong ruổi.  Vì lý do đó, Thạch Sương khuyên nhủ mọi người hãy dứt bỏ tất cả và giữ tâm mình như lò hương trong ngôi miếu cổ!  Vĩnh Gia nói: “Thể tức vô sinh, liễu vốn không chóng”.  Vì vốn chăm chăm cẩn trọng, niệm ở nơi đây, tâm tư đặt trọn vẹn ở nơi đây, nên hành giả mới được tự tại vô ngại.  Sau khi xả bỏ thân đời này, hành giả được ý sinh thân, nghĩa là theo ý niệm của mình để đi thọ thân ở đời sau.  Vì vận dụng lý trí khiển trừ, nên không bị nghiệp lôi kéo.  Người tu tập đến trình độ này mới được gọi là thấu thoát sinh tử. Nên biết, các đại sư tu hành miên mật là muốn dự bị cho chỗ sinh tử tốt đẹp.  Tuy đường lối có khác biệt, nhưng cuối cùng chỉ là sự thanh tịnh mà thôi.

Trước đây, có một cuồng tăng tự kiêu về kiến giải của mình.  Tôi hỏi:

– Sau khi xả bỏ thân mạng này, thầy có tin chắc rằng thầy sẽ được xuất gia hay không? Có tin chắc rằng thầy còn ở Trường An hay không?

Vị tăng ngạc nhiên hỏi:

– Đâu thể không tin.

Tôi hỏi:

– Trong chiêm bao, hoặc khi thầy thấy chính mình chưa xuất gia, hoặc khi thấy cha mẹ, anh em, hoặc khi thấy mình làm trẻ con đùa giỡn; khi ấy, thầy có biết chính mình đang là khách chăng?

Vị tăng đáp:

– Không biết.

Tôi nói:

– Bàn luận về việc sau khi xả bỏ thân mạng, thầy tin chắc mình sẽ được xuất gia và hành cước, có thể nói là hết sức sáng suốt.  Dù cho thầy thấy đạo rõ ràng nhưng mà không qua điều này.  Thế nhưng, vừa tựa đầu vào gối, thầy là vị tăng trở lại làm người thế tục, đổi khách làm chủ mà thầy cũng không biết, huống chi đêm dài sinh tử.  Nếu dựa vào kiến giải còn non kém của thầy thì đâu có thể bảo đảm chính mình không bị điên đảo.

Bấy giờ, vị tăng bàng hoàng sợ hãi.

10- Viên thật đọa

Hỏi: Trong thế giới Hoa Tạng, một cõi nước, một mảy bụi cũng đủ dung chứa vô lượng cõi nước; vốn không có nhơ, sạch thì đâu có đến, đi?  Lý trưởng giả nói: “Tịnh độ phương Tây của Phật A Di Đà là quyền chứ không phải thật, vì còn tình chấp, thủ xả nên không phải là thể của pháp giới như như”.

Đáp: Nếu đứng về phương diện chân để bàn luận thì thế giới Hoa Tạng cũng là quyền thôi, đâu phải chỉ có Tây Phương là quyền. Luận nói: “Lý trí vô biên gọi là Phổ, biết tùy theo căn cơ để làm lợi ích cho chúng sinh gọi là Hiền”.  Bồ tát Phổ Hiền kia cũng là quyền. Văn Thù Sư Lợi là trí tuệ tuyệt diệu khéo giản trạch của tự tâm.  Bồ tát Giác Thủ, bồ tát Mục Thủ, v.v…là lý trí hiện tiền đi theo niềm tin trong tâm. Bồ tát Văn Thù kia, v.v…cũng là quyền.  Lại nữa, các vị thánh hiền ở Trung Quốc như Khổng Tử, Nhan Uyên, v.v…trong Luận đều nói là biểu pháp, vốn không có những người ấy sao?  Tất cả thánh hiền đều là quyền. Bây giờ, ông thử suy nghĩ, xác định Văn Thù, Phổ Hiền và các vị thánh hiền ở Trung Quốc là quyền hay thật? Nếu ông nói là quyền thì hiện tại có các vị ấy và có những lời di ngôn nói về hạnh của người xưa. Nếu ông nói là thật thì trưởng giả kia đánh lừa kẻ phàm phu, hủy diệt các bậc thánh, phạm tội đại vọng ngữ. Ở đây, tôi xin được biện luận:

– Cõi Tây Phương nhập vào trong vô số cõi nước và vô số cõi nước cũng bao hàm cõi Tây Phương.  Vậy thì đâu có quyền, thật.  Lại nữa, Luận ghi: “Thể của Liên Hoa Tạng là cái đáp lại của pháp thân vận hành theo trí thể vô trụ.  Cung điện là cái đáp lại của toàn thể tâm đại bi nuôi dưỡng.  Lầu các là cái đáp lại của trí quán chiếu căn tánh thuận theo tâm đại bi để cứu giúp chúng sinh.  Đất kim cương kia là cái đáp lại của tự tánh pháp thân bình đẳng.  Ma ni trang sức là cái đáp lại của giới thể pháp thân vận hành.  Bánh xe kim cương bao quanh núi là cái đáp lại của nghiệp giới phòng hộ trong tâm đại bi.  Các loại hoa trang sức là cái đáp lại của vạn hạnh làm lợi ích cho chúng sinh được mở bày.  Cây báu được thành lập là cái đáp lại của hạnh lợi sinh che chở cho loài hữu tình”.

Thế nhưng, nghiệp không hợp nhau thì chúng sinh ở chung mà không thấy nhau, như thần linh và các loại quỷ ở chung với con người mà con người không thể thấy được. Nếu nói như vậy thì thế giới Hoa Tạng và vô số cõi nước mà ông đã thấy là giống nhau hay khác biệt?  Nếu ông nói giống nhau thì cái thấy, nghe của Mục Liên, Thu Tử còn bị hạn chế.  Nếu ông nói khác biệt thì tại sao gọi là nhất chân?  Lại như Linh Cán lập nguyện phụng trì kinh Hoa nghiêm, trứ tác Hoa nghiêm quán và Di Lặc thiên cung quán, đến khi lâm bệnh trầm trọng, Ngài nhìn lên hư không như thấy có cái gì.  Sa di bèn hỏi, Ngài đáp:

– Ta thấy đồng tử dẫn ta đến thiên cung Đâu Suất.  Ta nói: –  Cái vui của cõi trời chẳng được bao lâu, rốt cuộc bị rơi trở lại luân hồi sinh tử, ta ưa thích Liên Hoa Tạng.

Ngài nói xong rồi tắt thở.  Giây phút sau, Ngài bỗng nhiên sống lại.  Sa di hỏi:

– Dạ thưa, hòa thượng thấy cái gì ạ?

Linh Cán đáp:

– Ta thấy nước tràn ngập mênh mông, ta ngồi trên hoa sen như bánh xe, sở nguyện của ta đã viên mãn.

Ngài nói xong rồi qua đời.

Quốc sư Thanh Lương nói: “Quán hạnh thì thấy thiên đồng đến rước, và có nước tràn ngập mênh mông thì tôi cho là được vãng sinh về cõi Tây Phương”.  Như vậy là giống nhau hay khác biệt?

Vì thế, nên biết, nếu người sử dụng cái chén lủng để tát nước biển bao la, sử dụng đom đóm để thiêu đốt ngọn núi cao ngất thì chỉ uổng công mà thôi.  Người có trí không nên làm những việc bậy bạ như thế.

Trích từ: Tây Phương Hiệp Luận

Từ Ngữ Phật Học
kiến chấp
Chỉ những quan điểm, định kiến sai lầm, cố chấp và vướng mắc vào chỗ thấy biết hiện có của mình, cho đó là tuyệt đối và không chấp nhận mọi quan điểm khác. Do kiến chấp mà người ta không thể nhận biết Chánh pháp.
kiến
(見) .. Phạm: Dfwỉi hoặc Darzana. Dịch âm: Đạt lợi sắc trí. Xem xét, suy tính. Chỉ cho cái thấy biết nhất định đối với một sự vật nào đó mà mắt thấy hoặc suy tưởng. Kiến có chính kiến, tà kiến. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 95, thì Kiến có 4 nghĩa: Xem xét, tính lường quyết đoán, nắm chắc và thâm nhập; hoặc có 2 nghĩa: Nhìn kĩ, tìm cầu. Còn luận Câu xá quyển 2, quyển 26 thì cho rằng Kiến được chia làm 8 loại. Năm kiến nhiễm ô, chính kiến thế gian, chính kiến hữu học và chính kiến vô học: Năm kiến nhiễm ô chỉ cho thân kiến, biến kiến, tà kiến, kiến thủ và giới cấm thủ kiến. Chính kiến thế gian chỉ cho sinh đắc tuệ, văn tuệ, tư tuệ và tu tuệ, thuộc tuệ hữu lậu. Chính kiến hữu học chỉ cho các loại kiến vô lậu trong thân hữu học; còn chính kiến vô học thì chỉ cho các loại kiến vô lậu trong thân vô học. Bởi vì tông Câu xá cho các loại kiến này đều là tính của tuệ, trước xem xét, tính lường rồi sau mới quyết đoán, cho nên gọi là Kiến. Trong đó, 5 kiến nhiễm ô là bất chính kiến, còn lại đều thuộc chính kiến. Luận sư Thế hữu cho rằng mắt tiếp lấy sắc cảnh, có tác dụng quán chiếu, cho nên chủ trương căn mắt thấy, đây là nghĩa chính thống của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Còn Đại chúng bộ và luận Thành thực quyển 4 thì chủ trương thức mắt thấy, gọi là thức thấy; Đại thừa thì cho rằng căn và thức hòa hợp thì mới thấy được. Ngoài ra, tông Duy thức gọi là hành tướng của 8 thức tâm vương và tâm sở năng duyên là Kiến phần, hoặc tương đương với nghĩa xem xét. Trong các kinh luận thường căn cứ vào nghĩa suy tính mà chia Kiến thành các loại như: Nhị kiến, Thất kiến, Thập kiến, v.v... 1. Nhị kiến: Hữu kiến và vô kiến, hoặc đoạn kiến và thường kiến. Đây thuộc Biên kiến trong 5 kiến. 2. Thất kiến: -Tà kiến: Phủ định lí nhân quả. -Ngã kiến: Thấy có thực ngã. -Thường kiến: Chấp trước thân tâm thường trụ bất biến. -Đoạn kiến: Chấp trước thân tâm đoạn diệt. -Giới đạo kiến(cũng gọi Giới cấm thủ kiến): Chấp trước những giới luật không chính đáng. -Quả đạo kiến: Chấp trước kết quả do tà hạnh đạt được là chân chính. -Nghi kiến: Nghi ngờ đối với chân lí. 3. Thập kiến: Năm kiến thêm vào Tham kiến, Khuể kiến, Mạn kiến, Vô minh kiến và Nghi kiến nữa thì thành Thập kiến. Ngoài ra, những kiến giải sai lầm của ngoại đạo thì có 4 kiến, 62 kiến(theo kinh Phạm võng), chẳng hạn như chủ trương tà nhân tà quả, không có nhân quả, có nhân không quả, không nhân không quả, v.v... đều là những kiến giải sai lầm. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.25, Q.27 (bản Bắc); kinh Lăng già Q.1 (bản 10 quyển); luận Đại trí độ Q.7; luận Đại thừa khởi tín; luận Phẩm loại túc Q.3; luận Đại tì bà sa Q.13, Q.49; luận Thành thực Q.10; luận Tạp a tì đàm tâm Q.1; luận Thành duy thức Q.6; Thành duy thức luận thuật kí Q.3 thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.6; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.2]. (xt. Nhất Thủy Tứ Kiến, Nhị Kiến, Thập Tùy Miên, Ngũ Kiến, Nhân Quả).
vô ký
Chỉ các hành vi không thuộc về thiện cũng không thuộc về bất thiện.
phiền não
(煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].
nghiệp
(業) Phạm: Karman. Pàli: Kamma. Hán âm: Yết ma. Nghĩa là sự tạo tác, tức chỉ cho những hoạt động của thân tâm như hành vi, hành động, tác dụng, ý chí, hoặc chỉ cho những hoạt động của thân tâm do ý chí sinh ra. Nếu kết hợp với quan hệ nhân quả thì nghiệp là năng lực được hình thành bởi những hành vi từ quá khứ kéo dài đến hiện tại và cho mãi tới vị lai. Ngoài ra, Nghiệp cũng bao hàm tư tưởng nhân quả báo ứng về hành vi thiện ác như khổ vui và tư tưởng luân hồi trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai. Nghiệp vốn là tư tưởng cố hữu của Ấn độ, Phật giáo dùng nó làm căn cứ để khuyên con người nỗ lực hướng tới vị lai.

Trong Phật học, hàm ý và giới thuyết của nghiệp được chia làm 3 loại: Thân nghiệp, Ngữ nghiệp, và Ý nghiệp. Thuyết nhất thiết hữu bộ thuộc Tiểu thừa tiến thêm bước nữa mà giải thích rằng, ý chí trong nội tâm muốn làm 1 việc gì đó gọi là ý nghiệp; còn dùng hành động và lời nói của thân thể để bày tỏ ý chí thì gọi là Thân nghiệp, Ngữ nghiệp (Khẩu nghiệp). Nghiệp cũng còn được chia làm 2 loại là Tư nghiệp và Tư dĩ nghiệp. Tư nghiệp chỉ cho những hoạt động của ý chí; Tư dĩ nghiệp chỉ cho trong Tư nghiệp đã có các hành động. Ở đây, Tư nghiệp đồng với Ý nghiệp, Tư dĩ nghiệp đồng với Thân nghiệp và Ngữ nghiệp. Về bản thể (nghiệp thể, nghiệp tính) của 3 nghiệp thì Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng Ý nghiệp thuộc về tâm pháp (ý chí), còn Thân nghiệp, Ngữ nghiệp thì thuộc về sắc pháp (vật chất). Nhưng Phật giáo Đại thừa và Kinh bộ thì chủ trương tất cả các nghiệp đều thuộc về hoạt động của tâm, đây mới chính là lập trường cơ bản của Phật giáo.Thuyết nhất thiết hữu bộ còn chia Thân nghiệp và Ngữ nghiệp làm 2 loại là Biểu nghiệp và Vô biểu nghiệp. Biểu nghiệp là nghiệp biểu hiện ra bên ngoài khiến người khác thấy được, còn Vô biểu nghiệp là không hiện bày ra bên ngoài, người khác không thấy được.

Vô biểu nghiệp cũng gọi là Vô biểu sắc, bản thể của nó là 1 loại sắc pháp, khởi lên nghiệp thiện, ác rất mãnh liệt, nhưng về tính chất thì bao hàm cả Thân biểu nghiệp, Ngữ biểu nghiệp và Định. Vô biểu nghiệp được chia làm 3 loại: 1. Luật nghi: Thiện nghiệp do giới, định phát khởi. 2. Bất luật nghi: Ác nghiệp do tập quán phát khởi và có tính quyết đoán rất mạnh. 3. Phi luật nghi phi bất luật nghi: Nghiệp thiện, nghiệp ác tùy lúc mà phát khởi theo tác dụng vô biểu. Thiện vô biểu có tác dụng ngăn ngừa điều ác, ác vô biểu có tác dụng chướng ngại việc thiện, chính do đây mà tính cách hậu thiên của con người được hình thành. Thân nghiệp và Ngữ nghiệp, mỗi nghiệp đều có biểu nghiệp và vô biểu nghiệp, cộng với Ý nghiệp thành là 5 nghiệp. Nếu tạo ác nghiệp, thiện nghiệp thì về sau chắc chắn sẽ chiêu cảm quả báo (dị thục) khổ, vui tướng ứng. Vì có nghiệp nhân cho nên chiêu cảm nghiệp quả. Còn nghiệp vô kí chẳng thiện chẳng ác thì không có sức chiêu cảm quả báo. Về mối quan hệ giữa nghiệp nhân và nghiệp quả thì quan điểm của Thuyết nhất thiết hữu bộ như sau: Nghiệp có liên quan đến 3 đời là nghiệp hiện tại có khả năng trở thành nhân quyết định (thủ quả) dẫn đến quả báo vị lai. Mặt khác, nghiệp từ quá khứ do sức tác dụng mãnh liệt mà mang lại quả báo (dữ quả)trong hiện tại.

Ở đây, Kinh lượng bộ cho rằng nghiệp tiêu diệt trong khoảnh khắc, nhưng nó đã gieo chủng tử (hạt giống) chiêu cảm quả báo vào trong tâm thức, lại do chủng tử này dẫn sinh ra quả báo. Loại tư tưởng chủng tử này rất giống với thuyết Vô biểu nghiệp của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Có nhiều cách phân loại nghiệp, nhưng nói một cách tổng quát thì quả báo trong 1 đời người hoàn toàn do nghiệp dẫn dắt, tức Dẫn nghiệp (khiên dẫn nghiệp, tổng báo nghiệp, dẫn nhân) có sức tác dụng mạnh mẽ và có thể khiến cho người sinh vào 1 cõi nào đó như người, súc sinh hoặc các loài khác... Nếu sinh vào cõi người thì sự khác nhau về các căn, hình lượng, sắc lực trang nghiêm... của mỗi cá thể là do Mãn nghiệp (viên mãn nghiệp, biệt nghiệp) hình thành. Quả báo của Dẫn nghiệp gọi là Tổng báo, quả báo của Mãn nghiệp gọi là Biệt báo, 2 nghiệp này hợp lại gọi chung là Tổng biệt nhị báo. Thuyết nhất thiết hữu bộ cho rằng 1 Dẫn nghiệp dẫn sinh ra 1 lần, nhưng lại có rất nhiều Mãn nghiệp để hoàn thành đời sống con người, bởi thế, nhiều nghiệp dẫn sinh 1 đời hoặc 1 nghiệp dẫn sinh nhiều đời là việc tuyệt đối không thể có. Nghiệp lại có 2 loại là Cộng nghiệp và Bất cộng nghiệp. Cộng nghiệp chỉ cho quả báo chung, như núi sông đất đai (thế giới vật lí), vô số sinh vật v.v...

Còn Bất cộng nghiệp là quả báo riêng của mỗi sinh vật (như thân thể đẹp, xấu, giàu nghèo, sang hèn v.v...). Lại nữa, nghiệp có 3 tính chất: Thiện (nghiệp yên ổn) do tâm thiện sinh khởi, Bất thiện (nghiệp không yên ổn) do tâm ác sinh khởi; Vô kí (không thiện không ác) do tâm vô kí sinh khởi. Nghiệp ác chắc chắn sẽ bị trừng phạt, cho nên gọi là Phạt nghiệp(hoặc là phạt), 3 nghiệp thân, khẩu, ý gọi là Tam phạt. Trong 3 nghiệp thì Ý nghiệp quan trọng nhất. Nghiệp được tạo tác qua 1 quá trình suy tư chín chắn rồi mới quyết đoán thực hiện, gọi là Cố tư nghiệp, Cố tác nghiệp (cố ý làm). Ngược lại, nghiệp do lầm lỡ, không cố ý gây ra, gọi là Bất cố tư nghiệp, Bất cố tác nghiệp. Vô kí nghiệp và Bất cố tư nghiệp đều không dẫn sinh quả báo. Cố tư nghiệp được thực hiện với tinh thần tích cực, mạnh mẽ, gọi là Tăng trưởng nghiệp; còn Cố tư nghiệp được tạo tác với tâm yếu ớt, không nhiệt thành thì cùng với Bất cố tư nghiệp gọi chung là Bất tăng trưởng nghiệp. Nghiệp tăng thêm sức mạnh dần dần gọi là Tăng thượng nghiệp, Tăng trưởng nghiệp, trái lại thì gọi là Tạo tác nghiệp. Nghiệp ác do chúng sinh tạo tác ở cõi Dục thường chiêu cảm quả báo khổ khiến cho 5 thức: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân phải chịu, cho nên gọi là Thân thụ nghiệp.

Còn nghiệp thiện do chúng sinh tạo tác ở cõi Sắc (ngoại trừ Sơ thiền thiên) và cõi Vô sắc thường chiêu cảm quả báo vui khiến ý thức hưởng thụ, cho nên gọi là Tâm thụ nghiệp. Thân thụ nghiệp và Tâm thụ nghiệp gọi chung là Nhị thụ nghiệp. Lại nữa, nghiệp thiện mang lại hạnh phúc, nên gọi là Phúc nghiệp, còn nghiệp ác dẫn đến bất hạnh, khổ đau, nên gọi là Phi phúc nghiệp. Thiện nghiệp cũng gọi Bạch nghiệp, ác nghiệp cũng gọi là Hắc nghiệp, còn Vô kí nghiệp thì gọi là Phi hắc phi bạch nghiệp. Lại tùy theo sự chịu báo mau hay chậm mà nghiệp được chia ra 4 loại: Đời này tạo nghiệp, đời này chịu báo gọi là Thuận hiện nghiệp, Thuận hiện pháp thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp, đời sau chịu báo gọi là Thuận sinh nghiệp, Thuận thứ sinh thụ nghiệp. Đời này tạo nghiệp đến đời thứ 3 về sau mới chịu báo gọi là Thuận hậu nghiệp, Thuận hậu thứ thụ nghiệp. Sự chịu báo của 3 thời nghiệp nói trên có thời kì nhất định, cho nên cũng gọi là Định nghiệp. Còn nghiệp mà quả báo không xác định thời gian thì gọi là Bất định nghiệp, Thuận bất định nghiệp. Y cứ vào nội dung quả báo (định hoặc bất định) của Bất định nghiệp, lại có 2 loại khác nhau: Xác định quả báo nhưng không xác định lúc nào thì chịu báo, gọi là Dị thục định thời bất định. Quả báo và thời gian chịu báo đều không xác định, gọi là Dị thục thời câu bất định. Ba thời nghiệp và 2 nghiệp Bất định gọi chung là Ngũ nghiệp. Ba thời nghiệp, mỗi nghiệp chia ra 2 loại là Thời định dị thục định (thời gian xác định, quả báo cũng xác định) và Thời định dị thục bất định (thời gian nhất định, quả báo không nhất định), cộng chung có 6 loại, 6 loại này cộng chung với 2 nghiệp Bất định nói trên thành là 8 nghiệp. Chỗ y cứ của tác dụng nghiệp là con đường chung dẫn đến quả báo khổ, vui của loài hữu tình, gọi là Nghiệp đạo(Căn bản nghiệp đạo), có 2 loại là Thập thiện nghiệp đạo và Thập ác nghiệp đạo. Vấn đề này, Thuyết nhất thiết hữu bộ, Kinh lượng bộ và Duy thức Đại thừa trình bày có hơi khác nhau. Nghiệp là nhân sinh ra quả báo (dị thục), vì thế cũng gọi là Nghiệp nhân, hoặc Nhân nghiệp.

Quả do nghiệp mang lại, gọi là Nghiệp quả, Nghiệp báo. Cái sức dắt dẫn nghiệp quả, gọi là Nghiệp lực. Do nghiệp mà đưa đến quả báo khổ, gọi là nghiệp khổ. Ác nghiệp và phiền não gọi chung là Nghiệp kết, Nghiệp não. Chướng ngại do nghiệp ác sinh ra, gọi là Nghiệp chướng, Nghiệp lụy. Vì nghiệp có khả năng chiêu cảm báo ứng, cho nên cũng gọi là Nghiệp cảm. Nghiệp được tạo tác ở đời quá khứ, gọi là Túc nghiệp, hoặc Tiền nghiệp. Thọ mệnh do túc nghiệp đền trả, gọi là Nghiệp thọ, Nghiệp thụ. Trọng bệnh do nhân của Túc nghiệp gây ra, gọi là Nghiệp bệnh. Những tai ách do ảnh hưởng của túc nghiệp, gọi là Nghiệp ách. Lại vì nghiệp đeo theo con người giống như bóng với hình, cho nên cũng gọi là Nghiệp ảnh. Nghiệp có năng lực trói buộc chúng sinh ở cõi mê, cho nên gọi là Nghiệp hệ, Nghiệp quyên, Nghiệp phược, Nghiệp thằng. Nghiệp giống như tấm lưới vít kín chúng sinh trong cõi mê, vì thế gọi là Nghiệp võng. Ác nghiệp giống như bụi nhơ, hay làm bẩn thân người nên gọi là Nghiệp cấu, Nghiệp trần. Cũng có chỗ ví dụ tác dụng của Nghiệp ác giống như lửa, ma, giặc, cho nên gọi là Nghiệp hỏa, Nghiệp ma (1 trong 10 loại ma), Nghiệp tặc v.v... Tấm gương, cái cân, cuốn sổ... trong địa ngục dùng để soi rọi, cân lường và ghi chép nghiệp thiện, ác của chúng sinh được gọi là Nghiệp kính, Nghiệp xứng, Nghiệp bạ... Sức của Nghiệp ác mạnh như gió, cho nên gọi là Nghiệp phong. Sức thần thông có được nhờ túc nghiệp, gọi là Nghiệp thong (Báo thông).

Nghiệp có năng lực chiêu cảm (quả báo) địa ngục Vô gián, gọi là Vô gián nghiệp. Nghiệp trói buộc hữu tình chúng sinh trong 3 cõi, gọi là Tam giới hệ nghiệp. Nghiệp chiêu cảm quả báo khiến hữu tình chúng sinh sinh vào các cõi trong vị lai, gọi là Nhuận nghiệp, Nhuận sinh nghiệp. Ngoài ra, nghiệp do mình tự tạo, mình chịu quả báo, gọi là Tự nghiệp tự đắc. Chi Hữu trong 12 nhân duyên được gọi là Nghiệp hữu. Sau hết, pháp tu niệm Phật A di đà nguyện cầu vãng sinh Tịnh độ được gọi là Tịnh nghiệp. [X. kinh Tạp a hàm Q.13, 37, 49; kinh Trung a hàm Q.3, 58; kinh Trường a hàm Q.11; kinh Bản sự Q.1; kinh Chính pháp niệm xứ Q.34; Duy thức luận đồng học sao Q.1; Phật pháp khái luận chương 7 (Ấn thuận); Thành Phật chi đạo Ngũ thừa cộng pháp chương (Ấn thuận); Phật học Kim thuyên (Trương trừng cơ); Nguyên thủy Phật giáo tư tưởng luận thiên 2 chương 4 (Mộc thôn Thái hiền); Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận thiên 5 chương 5 (Mộc thôn Thái hiền)]. (xt. Nghiệp Đạo).