Thiên này có 2 phần: Thuật ý, Dẫn chứng.
Thứ nhất PHẦN THUẬT Ý
Nói lời yêu thương vừa phát ra thì Trời người đều mỉn cười, lời nói thô lỗ vừa mở miệng thì u hiển đều tức giận; sợ rằng tương lai nghe tiếng lưu truyền xấu xa vĩnh viễn ngăn cách lòng dạ nghĩ suy, thấy thiện trong lòng thân thiết mãi mãi giống như con đẻ yêu thương. Đã biết tà chánh khác biệt đường đi, thiện ác không hề chung lối, khuyên nhủ dừng lại lời lẽ hung ác của ba độc tham sân si, phát triển lòng dạ thuận theo cung kính hợp với thiện tâm. Vì lẽ đó bậc Đại Thánh dạy bảo tu dưỡng vội gốc trừ bỏ cành ngọn, chính tâm của mình là chủ ác hiểm, miệng của mình là nơi chứa đầy tai họa, bởi vì việc làm trở thành tai họa men theo dòng chảy đi vào đường ác, chưa hề có tranh tụng làm trái hình thể mà giữ lại sự cảm hóa to lớn vậy.
Thứ hai PHẦN DẪN CHỨNG
Như kinh Trung A hàm nói: Lúc bấy giờ trong Tinh xá Kỳ hoàn có hai Tỳ kheo nổi lên tranh cãi, một người mắng nhiếc chưởi bới, một người im lặng không nói gì. Người mắng nhiếc chưởi bới ấy, liền ân hận thay đổi đến sám hối nhận lỗi với người kia, nhưng Tỳ kheo kia không chấp nhận sự sám hối ấy. Bởi vì không chấp nhận cho nên rất nhiều Tỳ kheo cùng nhau khuyên nhủ can ngăn mà cao tiếng làm cho náo loạn. Lúc bấy giờ Đức Thế tôn dùng Thiên nhĩ thanh tịnh hơn hẳn tai nghe của người, nghe thấy tiếng náo loạn trong tinh xá Kỳ hoàn, nghe rồi từ trong thiền định trở lại tinh xá, ở trước đại chúng trải tọa cụ mà ngồi, bảo với các Tỳ kheo: Nay Ta vào rừng An Đà tọa thiền, nghe trong tinh xá lớn tiếng náo loạn, cuối cùng là do ai? Tỳ kheo thuật lại đầy đủ sự việc trước đó mà trình bày với Đức Phật. Đức Phật bảo với Tỳ kheo: Người ngu si làm sao, người ta hướng về sám hối nhận lỗi mà không chấp nhận sự sám hối ấy? Nếu người ta sám hối nhận lỗi mà không chấp nhận, thì đó là người ngu si, trong tâm đêm dài tăm tối sẽ nhận chịu khổ đau càng lắm. Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: Vào đời quá khứ Thích Đề Hoàn Nhân có ba mươi ba vị Trời cùng nhau tranh cãi, thuyết kệ chỉ bày nhắc nhở rằng:
Tâm không tổn hại đối với người, Sân giận cũng không thể ràng buộc, Lòng dạ căm hận không giữ lâu, Vì không dừng lại ở sân giận, Cho dù sân giận luôn hừng hực, Mà không phát ra lời thô lỗ, Không mong kềm chế được người ta, Rêu rao lỗi lầm làm xấu người. Luôn luôn nên tự phòng hộ mình, Lấy nghĩa xét kỹ tỉnh ngộ mình, Không tha thứ cũng không giả dối, Thường cùng với Hiền Thánh chung lối. Nếu như cùng người ác giống nhau, Cang cường giống như hòn núi đá, Có thể tự chế ngự sân giận, Như kềm chế ngựa xe rong ruổi, Ta nói là bậc Thầy tốt lành, Không nói là người cầm dây cương. Lúc bấy giờ Đức Thế tôn bảo với các Tỳ kheo: vào đời quá có Thiên Đế thích, cùng với Thiên A tu la dàn trận muốn đánh nhau, Thích Đề Hoàn Nhân nói với chúng ở ba mươi ba cõi Trời rằng: Hôm nay chư Thiên cùng với quân đội A tu la đánh nhau, chư Thiên đánh nhau thắng A tu la không hơn, thì sẽ bắt sống vua A tu la Ma chất Đa la dùng dây Ngũ Hệ trói lại dẫn về Thiên cung. A tu la lại nói lời như vậy: Đang lúc đánh nhau mà chư Thiên không hơn A tu la đánh thắng, thì sẽ bắt sống Đế Thích dùng dây Ngũ Hệ trói lại dẫn về cung điện chúng tôi. Lúc đánh trận ấy chư Thiên được thắng lợi mà A tu la thua trận, chư Thiên dùng dây ngũ Hệ trói vua A tu la dẫn về Thiên cung, trói ở dưới cổng cung điện Đoạn Pháp của Thiên Đế Thích. Lúc Đế Thích ra vào theo cổng này, vua A tu la bị trói ở bên cổng, mắng mỏ giận dữ, lúc ấy người đánh xe cho Đế Thích, thấy vua A tu la thân bị dây Ngũ hệ trói ở bên cổng, lúc Đế Thích ra vào thì mắng nhiếc giận dữ, thấy rồi liền nói kệ thưa với Đế Thích rằng: Đế Thích nay vì sợ người kia, Hay là không có đủ sức mạnh, Mà luôn nhẫn nhịn A tu la, Mắng nhiếc làm nhục ngay trước mặt? Đế Thích liền đáp kệ rằng: Không vì sợ hãi mà nhẫn nhịn, Cũng không phải không đủ sức mạnh, Người nào có trí tuệ thông minh, Mà cùng người ngu si đối đáp? Người đánh xe lại thưa rằng: Nếu người chỉ thực hành nhẫn nhịn, Đối với sự việc có thiếu sót, Hạng người ngu si sẽ nói rằng, Vì sợ hãi mà chịu nhẫn nhịn, Vì vậy nên trừng trị nghiêm khắc, Dùng trí để chế ngự ngu si. Đế Thích đáp rằng: Ta đang quan sát ngu si kia, Chế ngự tâm của kẻ ngu si, Thấy ngu si hừng hực giận dữ, Trí tuệ dùng im lặng điều phục, Không sức mạnh mà thành sức mạnh, Sức mạnh của hạng ngu si kia, Ngu si làm trái xa rời pháp, Đối với đạo thì chẳng có gì. Nếu như có sức mạnh to lớn, Có thể nhẫn nhịn người yếu kém, Đây chính là nhẫn nhịn cao nhất, Không có sức sao có nhẫn nhịn? Đối với người mắng nhiếc làm nhục, Người sức mạnh luôn luôn nhẫn nhịn, Đây chính là nhẫn nhịn cao nhất, Không có sức sao có nhẫn nhịn? Đối với mình và với người khác, Khéo giữ gìn vô cùng sợ hãi, Biết sân giận kia đang hừng hực, Trở lại tự giữ mình im lặng. Đối với hai nghĩa đều có đủ, Tự lợi mình cũng lợi cho người, Nghĩa là nói người ngu si ấy, Bởi vì họ không thấy giáo pháp. Người ngu si nói hơn là nhịn, Lại tăng thêm những lời độc địa, Không biết nhịn sự mắng nhiếc kia, Đối với điều ấy thường được thắng. Được thắng rồi thực hành nhẫn nhịn, Thì gọi là sợ hãi nhẫn nhịn, Đối với người ngang sức hành nhẫn, Thì gọi là nhẫn tranh với nhẫn, Đối với người thua kém mà nhẫn, Thì gọi là nhẫn nhịn cao nhất.
Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: Thích Đề Hoàn Nhân đối với ba mươi ba cõi Trời là người tự tại nhất, thường thực hành nhẫn nhục, ca ngợi đối với hạnh nhẫn nhục. Tỳ kheo các ông, chánh tín xuất gia học đạo khác với người thế tục, cũng nên như vậy thực hành nhẫn nhục, ca ngợi hướng về nhẫn nhục, cần phải chịu khó học tập!
Lại trong kinh Khởi Thế nói: Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: Xưa kia chư Thiên và A tu la nổi lên đánh nhau dữ dội. Lúc bấy giờ Đế Thích bảo với những người dẫn dắt trong ba mươi ba cõi Trời rằng: Này các vị Nhân giả! Chư Thiên các ông, nếu cùng với A tu la tiến hành đánh nhau, thì nên trang nghiêm tốt đẹp và cố gắng giữ gìn binh khí đồ dùng, nếu như Thiên thắng trận A tu la thua trận, thì các ông nên cùng nhau bắt sống vua A tu la là Tỳ ma chất đa la, dùng dây Ngũ Hệ trói lại, dẫn đến nơi chư Thiên tụ hội ở trước Thiện pháp Đường. Ba mươi ba tướng lãnh các cõi Trời nghe mệnh lệnh của Đế thích, y theo lời dặn vâng mạng thi hành. Lúc bấy giờ vua A tu la là Tỳ ma chất đa la, cũng lại bảo với các A tu la rằng: Nếu chư Thiên thua trận, thì nên bắt sống Đế Thích Thiên Vương dùng dây Ngũ Hệ trói lại, đẫn đến đứng trước ta ở nơi tụ hội của các A tu la bảy đầu. Các A tu la cũng tiếp nhận lời dạy mà thi hành. Trong trận chiến lúc ấy, quân đội Đế Thích giành được thắng lợi, tức thì bắt sống vua A tu la, dùng dây Ngũ Hệ trói lại, dẫn đến nơi chư Thiên quy tụ phía trước Thiện Pháp Đường, đứng hướng về Đế Thích. Lúc bấy giờ vua Tỳ ma chất đa la dường như dấy lên nghĩ rằng: Nguyện cầu các A tu la đều tự nhiên bình an tốt lành, nay ta không sử dụng các A tu la, ta nên ở nơi này cùng với chư Thiên chung sống, cùng hưởng thụ vui vẻ, thật là hợp với ý ta. Lúc dấy lên ý niệm này thì thấy dấy Ngũ Hệ trói chặt thân mình đều cởi ra, công đức ngũ dục đều hiện rõ ở trước mắt. Hệ lại dấy lên nghĩ rằng: nay mình không sử dụng ba mươi ba cõi Trời, nguyện cầu chư Thiên đều tự nhiên bình an tốt lành, mình nguyện trở về cung điện của A tu la. Lúc dấy lên ý niệm này thì dây ngũ hệ lập tức trở lại trói chặt thân hình, công đức Ngũ dục thoắt đã tản mác không còn. Vua A tu la có những ràng buộc vi tế như vậy, ràng buộc của các ma quân lại vi tế hơn vậy, nguyên cớ do đâu? Này các Tỳ kheo, lúc tư duy tà vạy thì bị ràng buộc, lúc tư duy chính đáng thì được giải thoát. Lúc bấy giờ vua A tu la là Tỳ ma chất đa la, trước khi chưa đánh nhau dấy lên ý nghĩ như vậy: Mình có uy thần công đức sức mạnh như vậy, cung điện mặt trăng mặt Trời và ba mươi ba cõi Trời, tuy ở phía trên mình vận chuyển lưu hành vòng quanh, mà sức mạnh của mình có thể lấy để làm cái khuyên tai, đi khắp nơi không bị gây trở ngại. Lúc bấy giờ vua A tu la đến gọi La hầu la, tự mặc các loại trang nghiêm trên thân và mang binh khí đồ dùng, cùng với vua Bính Ma chất Đa la hăng hái biến hóa kỳ ảo, các Tiểu Vương và quyến thuộc vây tròn trước sau, từ trong thành trì của A tu la đi theo mà ra ngoài, muốn cùng nhau đến khiêu khích gây chiến sự dữ dội với chư Thiên cõi Đao Lợi. Lúc bấy giờ hai Đại Long Vương là Nan đà Ưu ba nan đà từ cung điện của mình đi ra, tất cả đều dùng thân vòng quanh núi Tu di, quấn quanh bảy vòng làm chấn động trong một lúc, chấn động rồi lại tiếp tục chấn động, dùng đuôi đập vào biển cả, khiến cho một cột nước vọt lên ở giữa hư không phía trên đỉnh núi Tu di. Lúc này Đế Thích bảo với chư Thiên rằng: Các ông thấy đất bằng nơi đây chấn động như vậy hay không? Giữa bầu Trời mờ mịt giống như mây cuộn mưa tuôn, lại tựa như sương mù lớp lớp phủ che, nay Ta biết chắc chắn các A tu la muốn đánh nhau với chư Thiên. Ngay sau đó các rồng từ trong biển đều trang bị binh khí đồ dùng mà xuất hiện. Lại hướng về nói với chư Thiên 6 cõi Dục, tất cả đều trang bị binh khí đồ dùng vượt hư không mà đến. Tu Dạ Ma Thiên Vương cùng với vô lượng trăm ngàn vạn số chư Thiên tùy thuộc, đi đến tại phía Đông trên đỉnh núi Tu di, dựng đứng ngọn cờ Nan Hàng Phục thuần màu xanh, dựa vào đỉnh núi mà đứng. Lúc bấy giờ Đâu Suất Đà Thiên Vương cùng với vô lượng trăm ngàn vạn chúng tùy thuộc, trong một lúc tập hợp trên đỉnh núi Tu di, ở tại phía Nam đỉnh núi, dựng thẳng ngọn cờ Nan Hàng Phục thuần màu vàng, dựa vào đỉnh núi mà đứng. Lúc bấy giờ Hóa lạc Thiên Vương cùng với vô lượng trăm ngàn vạn chư Thiên tùy thuộc, xuống đến đỉnh núi Tu di, ở phía Tây đỉnh núi, dựng thẳng ngọn cờ Nan Hàng Phục thuần màu đỏ, dựa vào đỉnh núi mà đứng. Lúc bấy giờ Tha Hóa Tự Tại Thiên Vương cùng với vô lượng trăm ngàn chư Thiên tùy thuộc, xuống đến đỉnh núi Tu di, ở tại phía Bắc đỉnh núi, dựng thẳng ngọn cờ Nan Hàng phục thuần màu trắng, dựa vào đỉnh núi mà đứng.
Lúc bấy giờ Đế Thích thấy chư Thiên phía trên đầu đến tập hợp, thậm chí Dọa Xoa giữa hư không cũng cùng nhau tùy thuận đi theo đứng ở trước Đế Thích. Ngay lúc đó Đế Thích tự mình mặc giáp phục, cùng với chúng chư Thiên vây tròn trước sau, từ thiên cung đi ra sắp cùng nhau đánh trận dữ dội, các loại binh khí đồ dùng đều nhiều màu sắc đáng yêu, đều làm thành từ bảy báu. Dùng dao gươm binh khí này từ xa ném vào thân của A tu la thì không có gì không xuyên thủng, nhưng mà không làm tổn hại, ở trên thân thể của đối phương không thấy dấu vết của lằn sẹo vết thương, chỉ vì nhân duyên xúc chạm cho nên phải chịu đau đớn vô cùng. Binh khí đồ dùng của các A tu la cũng là từ bảy báu làm ra, xuyên thủng thân thể của chư Thiên cũng đều dễ dàng, mà không có lằn sẹo vết thương, chỉ vì nhân duyên xúc chạm mà nhận chịu đau đớn.
Lại trong kinh Tăng Nhất A hàm nói: Ngày xưa chư Thiên và A tu luân luôn luôn đánh nhau, khi chư Thiên giành nhau được chiến thắng, vua A tu luân thua trận, thì trong lòng sợ hãi, biến hóa thân hình rất nhỏ theo lỗ trống giữa thân ngó sen mà đi qua, Phật nhãn nhìn thấy được, chứ không phải người khác mà nhìn thấy được.
Lại trong kinh Đại tập nói: Lúc bấy giờ Đức Thế tôn bảo với các Long chúng và A tu la rằng: Các ông đừng đánh nhau, mà nên tu hạnh nhẫn nhục. Người nhân ái nếu luôn luôn xa rời nóng giận thì thành tựu nhẫn nhục mau chóng đến được mười nơi. Những gì là mười nơi? Đó là: 1. Được làm vua, làm vị Luân Vương tự tại đứng đầu bốn thế giới; 2. Làm Thiên Vương Tỳ lâu Bác Xoa; 3. Làm Thiên Vương Tỳ lâu lặc Xoa; 4.. Làm Thiên Vương Đề Đầu lại tra; 5. Làm Thiên Vương Tỳ Sa
Môn; 6. Làm Thiên Vương Đế Thích; 7. Làm Thiên Vương Tu Dạ Ma; 8. Làm Thiên Vương Đâu Suất Đà;9. Làm Thiên Vương Hóa Lạc; 10. Làm Thiên Vương Tha Hóa Tự Tại. Này những người nhân ái, nếu như có đầy đủ nhẫn nhục, thì người này nhanh chóng đạt được mười nơi như vậy và tiến gần kết quả nhẫn nhục.
Lại trong kinh Trung A hàm nói: Đức Thế tôn thuyết bài tụng rằng:
Nếu như có tranh chấp luận bàn,
Ý lẫn tạp lòng đầy cao ngạo,
Chẳng phải Thánh phá hủy đức này,
Tất cả đều mong cầu dễ dàng,
Chỉ mong cầu người khác sai lầm,
Ý muốn làm người ta hàng phục,
Thì cùng nhau mà cầu thắng lợi,
Bậc Thánh không cói điều như vậy.
Lại trong Kinh trung A hàm nói: Đức Thế tôn bảo với các Tỳ kheo: Các ông đừng đấu tranh với nhau, nguyên cớ do đâu? Bởi vì:
Nếu lấy tranh chấp ngăn tranh chấp,
Đến cuối cùng không ngăn lại được,
Chỉ nhẫn nhịn ngăn được tranh chấp,
Pháp này thật sự tôn quý nhất.
Ngay sau đó Đức Thế tôn không đồng ý, Các Tỳ kheo Câu Xá Di tranh cãi xong, Liền từ chỗ ngồi đứng dậy mà nói tụng rằng: Dùng biết bao ngôn từ lời lẽ, Phá hoại Tăng chúng tôn nghiêm nhất, Lúc phá hoại Thánh chúng trang nghiêm, Không ai có thể ngăn lại được, Tan thân nát thịt đến mất mạng, Tổn thất tài sản voi ngựa trâu, Phá tan đất nước hủy diệt hết, Người kia hãy còn cố hòa giải, Huống hồ các ông mắng đôi lời, Mà không thể làm cho hòa hợp? Nếu không suy nghĩ nghĩa chân thật, Thì oán kết nào được chấm dứt, Mắng chưởi chỉ trích nhiều lần nói, Mà có thể kềm chế hòa hợp; Nếu suy nghĩ nghĩa lý chân thật, Thì oán kết được dừng lại, Nếu lấy tranh chấp ngăn tranh chấp, Đến cuối cùng không ngăn lại được, Chỉ nhẫn nhịn ngăn được tranh chấp, Pháp này thật sự đáng tôn quý. Sân hận hướng về người trí tuệ, Miệng nói không dựa vào ngôn từ, Phỉ báng bậc Thánh Giả Mâu Ni, Là người hèn mạt chẳng có trí.
Lại trong Kinh Phật Bổn Hạnh nói: Đức Phật vì năm Tỳ kheo thuyết kệ rằng:
Trong một tháng hơn ngàn lần tranh chấp,
Khi tranh chấp trăm phần thắng được người,
Nếu có thể tin theo Phật Thế tôn,
Luôn hơn hẳn mười sáu phần như thế.
Trong một tháng hơn ngàn lần tranh chấp,
Khi tranh chấp trăm phần thắng được người, Nếu có thể tin theo pháp chân thật, Luôn hơn hẳn mười sáu phần như thế. Trong một tháng hơn ngàn lần tranh chấp, Khi tranh chấp trăm phần thắng được người, Nếu có thể tin theo tăng thanh tịnh, Luôn hơn hẳn mười sáu phần như thế. Trong một tháng hơn ngàn lần tranh chấp, Khi tranh chấp trăm phần thắng được người, Nếu có thể tư duy Pháp tánh Không, luôn hơn hẳn mười sáu phần như thế.
Lại trong kinh Tạp Bảo Tạng nói: Xưa có một người hầu gái, bẩm tánh ngay thẳng cẩn thận, thường vì chủ nhân trông coi lúa mạ, đậu mè. Lúc ấy trong nhà có một con dê đực đã thiến chờ khi không có ai liền trộm ăn thóc lúa đậu mè, số lượng hao hụt bị chủ trách mắng, tin mình đã không lấy mà đều do con dê ăn. Vì nguyên cớ này cho nên người hầu gái thường xuyên giữ hiềm khích, hàng ngày tự cầm gậy dùng để đánh con dê đực bị thiến. Con dê đực bị thiến cũng ngậm hờn để chống lại người hầu gái. Như vậy xúc phạm nhau trước sau không phải là ít. Nhân một hôm người hầu gái tay không lấy lửa, con dê thấy không có gậy liền lao thẳng đến húc người hầu gái, người hầu gái bởi vì khẩn cấp cho nên dùng que lửa đã lấy đánh trên gáy con dê, con dê bị lửa nóng ở chỗ tiếp xúc, chạy lao vào dốt cháy thôn xóm của người, lan ra cho đến núi rừng ao đầm. Lúc ấy trong núi có năm trăm con khỉ, ngọn lửa lan đến rừng rực nên không kịp chạy tránh chỗ khác, lập tức đều trong một lúc bị lửa thiêu chết. Chư Thiên thấy rồi bèn nói kệ rằng:
Nóng giận trong thời gian đấu tranh, Không chịu dừng lại cứ kéo dài, Dê đực cùng hầu gái đánh nhau, Làm chết bầy khỉ người trong thôn. Tụng rằng: Giàu sang tranh chấp nhau nhân ngã, Nghèo hèn tự nhiên cảm thấy nhục, Mạnh yếu không tương xứng với nhau, Tranh chấp chưa bao giờ dừng nghỉ, Nhục nhã căm hận xâm đoạt nhau, Tìm kiếm cơ hội trả mối thù, Oán kết luôn luôn tìm gặp lại, Nhiều kiếp thường khổ đau sầu muộn.
NHÂN DUYÊN CẢM ỨNG
Sơ lược dẫn ra hai chuyện: 1. Thời Hán Cảnh Đế có quạ cổ trắng đánh nhau với quạ đen; 2. Giữa thời Hán Trung Bình có chim tước đánh nhau.
1. Tháng 11 năm thứ 3 thời Hán Cảnh Đế, có bầy quạ cổ trắng cùng với bầy quạ đen đánh nhau ở huyện Lữ nước Sở, quạ cổ trắng không hơn nên rơi vào trong dòng sông Tứ chết đến mấy ngàn con. Lưu Hướng cho rằng mấy ngày qua có điều không tốt. Sở Vương Mậu bạo nghịch vô đạo làm nhục Thân công bằng hình phạt, cùng với Ngô mưu phản. Bầy quạ đánh nhau ấy là hiện tượng của quân đội đánh nhau vậy. Quạ cổ trắng là nhỏ, rõ ràng nhỏ thì thất bại. Rơi vào nước thì sẽ chết nơi sông nước. Vương mâu không hiều được, liền cử binh thuận theo Ngô cùng với Hán đánh nhau dữ dội, binh lính tan tác mà chạy, đến nơi Đan Đồ bị người Việt chém chết, quả là rơi xuống sông Tứ. Kinh Phòng Bị Truyện nói: Chống lại cha mẹ thì cha mẹ của mình như mặt Trời xế bóng, quạ đen đánh nhau ở trong đất nước, Yên Vương lại mưu phản vậy. Lại có một con quạ và một con chim khách, đánh nhau ở trong cung nước Yên, quạ rơi xuống đất mà chết. Ngũ Hành Chí cho rằng Sở yên rời bỏ ruột thịt, bề tôi ngoại tộc kiêu ngạo buông thả mà mưu mô bất nghĩa, đều có điềm của quạ và chim khách đánh nhau đến chết, việc làm giống nhau mà xem bói thì thật khớp nhau, đây là bày tỏ rõ ràng quan hệ của Trời và người vậy. Âm mưu của Yên Vương chưa phát ra, một mình Vương tự sát ở trong cung, cho nên một con quạ mà màu sắc của nước ấy là cái chết. Sở Cang Dương dấy binh, binh tướng thất bại nặng nề ở đồng hoang, vốn là bầy quạ mà màu sắc như vàng ấy là cái chết, chính hiệu quả tinh vi của lẽ Trời. Kinh Phòng Dị truyện nói: Ngu muội chinh phạt để giết chóc là yêu tà hôn mê khiến cho quạ và chim khách đánh nhau vậy.
2. Tháng 8 năm thứ 3 thời Hán Trung Bình, trong vùng Hoài Lăng có hơn vạn con chim tước, trước đó đã kêu lên vô cùng đau thương, vì vậy đánh nhau hỗn loạn mà tàn sát nhau, đều đứt đầu treo lơ lửng trên cành cây táo chua. Đến năm thứ 6 Linh Đế băng hà. Nói đến Lăng ấy là hiện tượng của sự cao lớn. Tước ấy là tước vị. Thiên Giới Nhã nói: Ôm ấp tước vị và bổng lộc mà tôn sùng sâu nặng, tự trở lại tàn hại nhau đến nỗi diệt vong vậy.
Hai chuyện trên đây trích từ Sưu Thần Ký.