Kinh Bách Dụ - Người Ngu Cất Sữa: Có người ngu muốn dùng sữa thiết tiệc đãi khách, nên suy nghĩ, nếu như mỗi ngày đều lấy sữa, thì lâu ngày sữa sẽ nhiều và không có chỗ chứa, hơn nữa lại sợ bị hư, chẳng bằng cứ cất chứa trong bụng bò, đợi đến khi cần vắt một thể. Nghĩ vậy rồi bắt bò con cách li với bò mẹ. Tháng sau khi đãi tiệc, mới đem bò mẹ ra vắt sữa, lúc đó sữa đã cạn, chẳng lấy được giọt nào, vì vậy thực khách người thì giận dữ kẻ thì cười chê.

Người ngu muốn bố thí nhưng hay nghĩ đợi đến lúc giầu có bố thí một lần cho nhiều, nào hay chưa kịp làm giầu đã bị thiên tai, giặc cướp, quan quân, làm tiêu tan sự nghiệp, hoặc tử thần tới dẫn, chưa kịp bố thí đã không còn cơ hội bố thí nữa.

Lời Bình: Thật pháp năng lưu xuất nhất thiết phương tiện pháp, chư Phật từ thật pháp dùng phương tiện lực, lập phương tiện pháp độ chư chúng sinh, chúng sinh nương lực phương tiện của chư Phật, tư tu phương tiện pháp, càng huân tu phương tiện, thật pháp càng lưu xuất phương tiện thậm thâm và quảng đại, tích tập từng ngày, từng sát na cho đến khi thấy được cứu cánh của phương tiện pháp, đó chính là thật pháp.

Ta có thể ví bò con như phương tiện pháp, bò mẹ như thật pháp. Phương tiện pháp là hành trì kinh luật luận, cứu cánh là chứng thật pháp. Từ bò mẹ lưu xuất sữa trưởng dưỡng bò con, bò con càng bú sữa mẹ càng lưu xuất, cho đến khi đủ lớn, nay bắt bò con rời mẹ, tất bò con phải dùng thứ khác thay sữa mẹ, còn bò mẹ do không cho bò con bú nên sữa cạn kiệt, giống như người tu đem phương tiện lìa xa cứu cánh, tức mọi sự tu hành không còn hướng đến giải thoát nữa, và tất nhiên hướng đến mục tiêu ái dục của thế gian, dụ như người tu suy nghĩ phải có tiền mới làm Phật sự được, sau đó tăng trưởng niệm này khi thấy rằng có tiền thì làm Phật sự được như vậy càng có nhiều tất càng có kết quả, nên càng nỗ lực dùng mọi phương tiện và thời gian kiếm cho nhiều tiền, bấy giờ phương tiện tu hành, dốc hết vào kiếm tiền, nên pháp phương tiện không nhắm đến cứu cánh chứng thật tướng, mà nhắm đến tiền tài, vì vậy cứu cánh phải khô kiệt với tinh thần hành sử này, như bò mẹ cạn sữa

Sữa dụ cho Phật pháp, chủ nhân dụ cho người xuất gia, khách dụ cho tín chúng, đãi sữa dụ cho bố thí pháp. Phát tâm xuất gia tức nguyện dốc hết ba nghiệp tu tập mọi phương tiện đạo, cho đến khi chứng thật đạo, bấy giờ đền ân tín chúng bằng cách bố thí pháp nhũ cho tất cả mọi người. Nhưng vì vô trí suy nghĩ rằng đợi ta lập đạo tràng dựng chùa chiền xong rồi tu hành một thể, mà không mỗi ngày tư duy rèn luyện trí huệ, tích tụ công đức. Không biết rằng xây chùa bố thí, trai tăng cúng Phật thẩy đều là phúc đức, phúc đức khác với công đức, phúc đức chỉ giúp ta tránh được nhiều khổ nạn, công đức mới diệt tận khổ, công đức sẵn có nơi pháp thân tức thật pháp, không phải ở nơi tu phúc, như lục tổ thiền tông Huệ năng nói, tạo tự bố thí, cúng Phật thiết trai, danh vi tu phúc, bất khả tương phúc dĩ vi công đức, công đức tại pháp thân trung, phi tại tu phúc. Đến khi lập xong tuổi gìa trí suy, chẳng có chút pháp giải thoát nào đãi ngộ tín chúng như tâm nguyện xuất gia ban đầu, nên bị tín chúng kẻ hủy báng người chê cười, không khác gì người ngu cất sữa này.

Tổ sư tu tập tích chứa công đức trí huệ, rồi lập đạo tràng độ hóa chúng sinh, như chủ nhân dùng sữa đãi khách, kẻ ngu ngược lại lo lập đạo tràng hết đời, không chuyên tu tập, nên chung cục đạo tràng chỉ sử dụng vào mục tiêu phi Phật pháp. Giống ngoại đạo cũng tu thiện pháp nhưng không nhắm đến giải thoát, chỉ cầu sinh thiên, nên công phu cũng bằng thánh tăng mà kết quả thì nhỏ bé hơn nhiều.

Xuất gia học đạo nhằm đạt được cứu cánh giác ngộ, xây chùa tạo tự để làm phương tiện ban cấp pháp nhũ, tích tụ được qua sự tu hành, cho tín chúng. bỏ qua sự tu học cứu cánh, chỉ lo hành phương tiện, như đem bò con xa mẹ, phương tiện không đưa đến cứu cánh thì hẳn nhiên là tà ngụy pháp. Người tu hành như vậy càng tu càng làm cạn kiệt pháp giải thoát. Chỉ một niệm vọng tưởng sinh khởi, bóng tối vô minh sẽ loang ra che phủ hết bầu trời trong sáng, như người này chỉ do một niệm ngu mà mất hết sữa, quả như đại sư Tăng xán nói, hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách (chỉ sai một ly mà kết quả khác với mong muốn như trời với đất), người trí học được điều khôn này, nên cẩn thận tư duy mọi pháp nhân duyên đang hiện hữu, kẻ vô trí loạn khởi đủ mọi vọng tưởng sinh khởi tính biến kế, mà phân biệt tắng ái đắc thất, thủ xả thuận nghịch, mà không hay chỉ nhất niệm vô minh khởi cũng đủ làm mê thất chân thân thật tướng, khiến phải chịu quả mê mờ không biết đâu là nẻo đi lối về, lang thang bao đời trong lục đạo mông mênh đầy khổ não, hà huống cử chỉ động niệm đều vun bồi thêm biết bao nhân vô minh vọng tưởng, như người mù đi trong bóng đêm trên con đường vô tận, chỉ có chông gai (khổ) và chết chóc (tử), khó có ngày chấm dứt, như kinh Địa tạng nói, chúng sinh nam diêm phù đề cang cường khó độ, do vì cử chỉ động niệm đều tạo nghiệp đau khổ (cử chỉ động niệm, vô phi thị nghiệp, vô bất thị tội). Chuyện ngu này giúp chúng ta hồi đầu, từ tạp niệm quay về với chính niệm, tạp niệm là loạn khởi vọng tưởng do phân biệt hiện tượng, chính niệm là lìa tính phân biệt hiện tượng, trở lại quán sát thật tướng của các pháp.
 
Trích từ: Kinh Bách Dụ - Người Ngu Cất Sữa

Từ Ngữ Phật Học
sát na
(刹那) Phạn: Kwaịa. Pàli:Khaịa. Cũng gọi Xoa noa. Hán dịch: Tu du, Niệm khoảnh. Từ ngữ chỉ đơn vị thời gian cực ngắn như chớp mắt, giây lát... có các thuyết sau đây: 1. Theo luận Câu xá quyển 12 thì 120 sát na là 1 đát sát na (Phạn: Tat-kwaịa), 60 đát sát na là 1 lạp phược (Phạn: Lava, cũng gọi La dự), 30 lạp phược là 1 mâu hô lật đa (Phạn: Muhùrta, Hán dịch là tu du), 30 mâu hô lật đa tức là 1 ngày đêm. 2. Theo luật Ma ha tăng kì quyển 17 thì 20 niệm là 1 chớp mắt, 20 chớp mắt là 1 cái búng móng tay, 20 cái búng móng tay là 1 la dự (lạp phược), 20 la dự là 1 tu du, 30 tu du là 1 ngày đêm. 3. Có thuyết cho rằng 1 sát na khác với 1 niệm. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng (bản dịch của ngài Cưu ma la thập) thì 90 sát na là 1 niệm. Còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì 60 sát na là 1 niệm. 4. Theo luận Đại trí độ quyển 30, 83 thì 60 niệm là 1 cái búng tay; theo luận Câu xá quyển 12 thì 65 sát na là 1 cái búng móng tay. 5. Cứ theo thứ tự 1 ngày đêm, 1 ngày, nửa ngày, 1 giờ, khoảng bữa ăn, chốc lát, giây lát, khoảng chớp mắt, hơi thở... nói trong kinh Đại bát nhã quyển 347, thì 1 sát na tương đương với khoảng bữa ăn. 6. Theo phẩm Quán không trong kinh Nhân vương quyển thượng do ngài Cưu ma la thập dịch thì trong 1 sát na có 900 lần sinh diệt; còn theo Vãng sinh luận chú quyển thượng thì trong 1 sát na có 101 lần sinh diệt. Ngoài ra, sự sinh diệt trong khoảng 1 sát na được gọi là Sát na sinh diệt hoặc Sát na vô thường. Một sát na hiện tại gọi là Hiện tại, sát na trước gọi là Quá khứ, sát na sau gọi là Vị lai, đó là Sát na tam thế. [X. luận Đại tì bá sa Q.136; luận Tạp a tì đàm tâm Q.2; luận Thuận chính lí Q.32; Hoa nghiêm kinh thám huyền kí Q.18]. (xt. Thời).
phương tiện
(方便) Phạm,Pàli: Upàya. Hán âm: Âu ba da. Cũng gọi Thiện quyền, Biến mưu. Phương pháp khéo léo để tiến triển hướng thượng, 1 trong 10 Ba la mật. Danh từ Phương tiện được các kinh luận sử dụng với ý nghĩa rất rộng, nay qui nạp lại làm 3 ý nghĩa như sau: 1. Đối với pháp chân thực thì phương tiện là pháp môn tạm thời được đặt ra để dắt dẫn chúng sinh vào pháp chân thực. Tức là Phật, Bồ tát tùy theo căn cơ, trình độ của các chúng sinh mà sử dụng những phương pháp khéo léo, thích hợp để làm lợi ích cho họ. 2. Đối với thực trí bát nhã, cứ theo Vãng sinh luận chú của ngài Đàm loan thì Bát nhã là tuệ đạt như, Phương tiện là trí thông quyền.

Dùng Quyền trí quán chiếu sự sai biệt hiển hiện trong Thực trí bình đẳng. 3. Phương tiện là gia hạnh tu tập để chứng ngộ chân lí. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 của ngài Tuệ viễn và Pháp hoa huyền tán quyển 3 của ngài Khuy cơ, nêu ra 4 thứ phương tiện:1. Tiến thú phương tiện: Chuẩn bị (gia hạnh) tiến tới bồ đề, như 7 phương tiện trước giai vị Kiến đạo. 2. Quyền xảo phương tiện: Trí phương tiện trong 2 trí. Vì thực ra không có pháp môn Tam thừa, nhưng tùy cơ phương tiện mà đặt ra thôi. Thi tạo phương tiện (Thi vi phương tiện): Phương tiện ba la mật trong 10 Ba la mật, tức những việc được thực hiện một cách khéo léo để đạt thành mục đích lí tưởng. 4. Tập thành phương tiện: Thuyết Lục tướng trong Thập địa kinh luận. Các pháp đồng thể tập thành với nhau một cách khéo léo, tức bản chất của các pháp đều giống nhau, trong 1 có tất cả, trong tất cả cũng thành 1, đây kia tập thành và kiến lập lẫn nhau một cách khéo léo. Quyền xảo phương tiện có nghĩa là đức Phật dùng Trí phương tiện tạm thời bày đặt ra pháp môn Tam thừa... Trí phương tiện này cũng gọi là Quyền trí, tức là trí vì dẫn dắt chúng sinh mà đức Phật tạm thời giả lập ra. Quyền xảo phương tiện và Thi tạo phương tiện đều là những phương tiện khéo léo của Phật. Thiện xảo phương tiện lấy trí Thành sở tác trong 4 trí làm thể, cũng gọi là Phương tiện thiện xảo, Thiện quyền phương tiện, Thiện phương tiện, Xảo phương tiện, Quyền phương tiện, Thắng phương tiện, Thiện xảo, Thiện quyền, Xảo tiện... Tất cả giáo thuyết, nói theo quan điểm tuyên giảng, thì hết thảy chỉ là phương tiện thi thiết, nhưng trong đó, giáo thuyết trực tiếp giải thích rõ bản chất của bồ đề, biểu hiện ý nghĩa chân thực của nó thì gọi là Chân thực giáo; còn giáo thuyết vì thích ứng với căn cơ chúng sinh mà tạm thời nói ra để dẫn dắt họ vào chân thực, thì gọi là Phương tiện giáo (Phương tiện giả môn, Quyền môn), phương tiện này gọi là Hóa tiền phương tiện, Quyền giả phương tiện...

Trái lại, loại phương tiện khác thì gọi là Dị phương tiện. Phương tiện sau khi giác ngộ Phật quả, gọi là Quả hậu phương tiện. Ngoài ra, đối lại với Pháp Báo gọi là Quả cực pháp thân thì có Ứng Hóa gọi là Phương tiện pháp thân; đối lại với cõi chân thực do tu nhân mà được, gọi là Thực báo độ, thì có cõi do tu đạo Phương tiện mà chiêu cảm, gọi là Phương tiện hữu dư độ; đối lại với Bát nhã gọi là Thực trí, thì có hóa dụng lợi tha, gọi là Phương tiện trí; đối lại với Nhất thừa gọi là Chính thừa, thì có Tam thừa, gọi là Phương tiện thừa. Đại thừa nghĩa chương quyển 15 chia Thi tạo phương tiện làm 3 loại: 1. Giáo đạo phương tiện: Tất cả việc làm ở thế gian đều có thể tu tập một cách khéo léo. 2. Chứng đạo phương tiện:Xả bỏ tình tướng chứng vào thực tế. 3. Bất trụ phương tiện: Không chấp trước các kiến giải sai biệt tương đối như không hữu, nhiễm tịnh, tự tha... Kinh Địa tạng thập luân quyển 10 thì chia Phương tiện làm 2 thứ là Phương tiện thiện xảo chấp trước hữu sở đắc và Phương tiện thiện xảo xa lìa chấp trước vô sở đắc; hoặc Thế gian thiện xảo phương tiện và Xuất thế gian thiện xảo phương tiện. Kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nêu 10 loại Phương tiện của bồ tát Thập địa là: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ, đại từ, đại bi, giác ngộ và chuyển bất thoái chuyển pháp luân.

Luận Đại thừa khởi tín thì nêu ra 4 thứ Phương tiện là: Căn bản phương tiện, Năng chỉ phương tiện, Phát khởi thiện căn(tăng trưởng)phương tiện và Đại nguyện phương tiện.Pháp hoa văn cú quyển 7 của ngài Trí khải tông Thiên thai thì nêu 3 thứ Phương tiện: Pháp dụng phương tiện, Năng thông phương tiện và Bí diệu phương tiện. Trong đó, tùy theo các đối tượng Tạng giáo, Thông giáo và Biệt giáo mà thi thiết, là Pháp dụng phương tiện; Phương tiện thông suốt được pháp môn chân thực, là Năng thông phương tiện; Pháp hoa dùng nhân sâu kín của Quyền giáo trước mà hiển bày Viên giáo Pháp hoa, nhân sâu kín tức diệu(mầu nhiệm), là Bí diệu phương tiện. Ngoài ra, Ma ha chỉ quán quyển 4, phần đầu, căn cứ vào 4 giáo Tạng, Thông, Biệt, Viên để phân biệt tính chất xa gần của Phương tiện. Tức là Tạng giáo lấy Tam hiền làm phương tiện xa, lấy Tứ thiện căn làm phương tiện gần, Thông giáo lấy Thập tín làm phương tiện xa, lấy Tam hiền làm phương tiện gần. Viên giáo lấy 25 phương tiện danh tự và 5 phẩm Hành quán làm phương tiện xa, lấy 6 căn thanh tịnh tương tự làm phương tiện gần. Tịnh danh kinh sớ quyển 3 nêu ra 3 thứ phương tiện: Tự hành, Hóa tha và Tự tha. Trong đó, chư Phật và 41 vị Bồ tát biết rõ lí Nhị đế chẳng thể nghĩ bàn, là Tự hành phương tiện. Đối với các Bồ tát Tạng, Thông, Biệt và Viên giáo hữu môn, không đoạn trừ phiền não mà cùng tuyên dương các giáo pháp trong giới nội và giới ngoại một cách bình đẳng, là Hóa tha phương tiện; hợp chung 2 loại trên lại thì gọi là Tự tha phương tiện. [X. kinh Đại bản trong Trường a hàm Q.1; kinh Đại bát nhã Q.328; kinh Hoa nghiêm Q.37 (bản dịch cũ); luận Du già sư địa Q.45; Thập địa kinh luận Q.1; Pháp hoa kinh nghĩa sớ Q.4; Pháp hoa văn cú (hội bản) Q.7; Pháp hoa kinh văn cú Q.3, phần đầu; Đại thừa nghĩa chương Q.19].

Công Đức Đại Thừa
Hòa Thượng Thích Nhất Chân

Hoằng Pháp Coi Trọng Phẩm Đức
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không

Bố Thí
Pháp Sư Đạo Thế

Tích Lũy Công Đức
Theo Bản In Của Phật Đà Giáo Dục Cơ Kim Hội

Hoằng Pháp
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tịnh Không