Home > Khai Thị Phật Học > Ung-Co
Ứng Cơ
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ


Bồ tát thị hiện độ sinh bằng ứng cơ thuyết pháp, có nghĩa nên dùng pháp nào để độ thì dùng pháp ấy cùng với sắc thân thích hợp, phẩm Phổ môn gọi là nên hiện thân nào để độ thì hiện thân ấy nói pháp.

Ứng cơ hóa thân hay pháp thân.

Như vậy ứng cơ không nhất thiết chỉ dùng một thân và một pháp, có vô lượng chúng sinh nên có vô số căn cơ vì thế cần đến vô biên ứng cơ độ sinh, vì vậy chẳng có thân nào Bồ tát chưa từng hiện, cũng như chưa có pháp nào Bồ tát chưa dùng tới để cứu khổ cứu nạn cho đến cứu độ cứu thoát chúng sinh. Như từ một người hay một con vật cứu ta thoát khỏi hiểm nguy đều mang hình bóng Bồ tát thị hiện cứu khổ nạn, và nếu những người và vật làm ta phát tâm từ bi hoặc nhận ra thế nào là thật Bồ tát thì họ đều mang dáng dấp của hóa thân thị hiện cứu độ chúng sinh.

Nếu đã hiểu Bồ tát thị hiện đủ mọi thân độ sinh, điển hình như 33 ứng tùy hình trong phẩm Phổ môn thì bất kể tướng nào cũng là tướng thị hiện của Bồ tát mà không riêng là tướng nữ nhân cầm tịnh bình cành liễu mà đồ chúng quen thờ phượng, nói cách khác thì thật tướng của Bồ tát là vô tướng, và pháp vô tướng ấy không hề thay đổi với bất kỳ ứng tùy hình nào, đó chính là từ bi tâm độ sinh. Do độ sinh nên mới ứng cơ, nên mọi ứng cơ đều không lìa tâm từ bi, tâm này vô tướng, từ tâm này ứng cơ mà hiện thành mọi tướng hữu lậu. Điều này chứng tỏ chân thật Bồ tát là tâm pháp đại bi tức pháp thân vô tướng. Mọi ứng thân để chỉ bày pháp thân chân thật vô tướng, mọi hóa pháp để hiển bày thật pháp phi âm thanh. Kinh Hoa nghiêm thuyết "sắc thân phi thị Phật, âm thanh diệc phục nhiên" sắc thân không phải là Phật, âm thanh cũng chẳng là pháp. Bởi lẽ này kinh Kim Cương nói "nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai", nếu dùng sắc thấy ta, dùng âm thanh cầu ta, người ấy hành tà đạo, không thể thấy Như Lai.

Song đại đa số tín đồ đều nhận và tôn thờ tướng của hình tượng là Bồ tát mà sao lãng việc tôn trọng phụng thờ pháp thân từ bi vô tướng chân thật của Bồ tát, trọng giả bỏ chân là bản tính mê muội chấp tướng của chúng sinh. Họ luôn mong được Bồ tát cứu khổ thông qua giúp họ toại nguyện mọi tham dục hữu lậu thế gian. Họ chưa từng muốn là một với Bồ tát để được giải thoát khỏi mọi nhu cầu dục lạc thế gian, cũng như muốn được đầy đủ trí tuệ để quán sát nên hiện thân nào và từ bi để hiện thân ấy nói pháp độ sinh. Nói pháp độ sinh không ngoài nghĩa chỉ dạy cho chúng sinh hiểu rõ thật sự họ với pháp thân Bồ tát là một, nói chính xác là họ vốn sẵn đủ trí huệ từ bi giải thoát như một Bồ tát, chỉ cần họ phát khởi tâm bồ đề thì tâm họ với tâm Bồ tát bất dị nhi tức thị (không khác mà chính là).

Bồ đề tâm là tâm của hàng đại thừa Bồ tát. Bồ đề hàm nghĩa giác ngộ tức giải thoát, tự giác và giác tha là giác hành viên mãn của Bồ tát, để giác tha Bồ tát dùng trí quán của tâm bồ đề quán sát nên dùng thân và pháp nào để độ, và dùng bi hành thị hiện thân và nói pháp ấy để độ sinh. Vì vậy bất kì ai phát tâm bồ đề đều là Bồ đề tát đỏa, nhân duyên lớn nhất với đại Bồ tát chính là cùng Bồ tát bất dị nhi tức thị, đó là phát tâm bồ đề mà đừng ngố ngáo đã bao đời ngỡ là cứ nâng niu chăm sóc lễ bái tôn tượng là nhân duyên lớn với Bồ tát.

Khi nhận sắc tướng của hóa thân là Bồ tát, chúng sinh đã nghiễm nhiên tự nhận mình là chúng sinh trong số vô biên chúng sinh và chỉ có một sắc thân có hình tướng đặc thù được đặt tên là Bồ tát mới là thật Bồ tát, do suy nghĩ ngớ ngẩn đó họ đã mặc nhiên tin chắc rằng chúng sinh và Bồ tát luôn là hai thực thể cá biệt và không thể thành một, thứ gì thuộc Bồ tát ắt không thuộc về ta và hữu tình cũng như những thứ của ta không hề là của Bồ tát, vì vậy ta không thể có bi trí và an lạc của Bồ tát, tuy nhiên nếu nhận tâm bi trí của Bồ tát mới thật là Bồ tát, thì chỉ cần phát tâm bi trí sẽ thấy ta với Bồ tát không hai và do đó ta cũng có đủ bi trí và an lạc của Bồ tát để tự cứu và cứu độ chúng sinh.

Phụng thờ hóa thân hay chân thân.

Như thế có hai xu hướng thờ phụng Bồ tát. Thứ nhất là tin thờ sắc tướng hữu lậu của hóa thân để cầu xin dục lạc hữu lậu, xu hướng này chiếm tuyệt đại đa số tín đồ. Thứ hai tôn kính phụng hành theo pháp thân bi trí của Bồ tát cứu khổ hữu tình để hợp nhất với Bồ tát, xu hướng này họa hoằn chỉ thấy có ở chùa bà Đanh hoặc nơi vùng sâu xa hoang phế vắng bóng người.

Xu hướng phụng thờ tôn tượng hóa thân để cầu xin ngũ dục thường tin rằng Bồ tát ứng cơ để ban bố mọi dục lạc mà chúng sinh khát khao, đó là điểm vĩ đại của Bồ tát mà chúng ta cần thờ phụng để được gia hộ. Những người mê muội này cho gia hộ là sự ban bố đáp ứng mọi thứ cầu xin hữu lậu mà không hề biết gia hộ là điều giúp họ cùng Bồ tát thành một. Không những thế họ còn tự ứng cơ theo lối lợi dưỡng khi chấp nhận cho tín đồ hành mê tín tà mạng để tự lợi và cho đó là phương tiện ứng cơ, tùy thuận chúng sinh, thật là mai mỉa. Đại loại có người xuất gia chấp nhận cho hàng tại gia đốt vàng mã cho đến cúng sao giải hạn, xem săm bói quẻ, coi ngày xấu tốt bằng lý luận vẫn biết đó là tà pháp nhưng nếu cấm thì đồ chúng sẽ bỏ ta mò qua các chùa cho phép và ta sẽ mất dần đồ chúng, thế nên tùy thuận họ thì ta vẫn còn họ và cả hai đều được như ý sống trong tà tín. Hạng không phát tâm giải thoát này trước mắt chỉ thấy lợi mình mà không thấy cái hại lớn của tà trí, tà mạng và tà tín nên đã tự hại lại hại tha khi dẫn dắt đồ chúng vào sâu thẳm trong chốn si mê không còn nhận ra sự gia hộ chân chính của Bồ tát. Hàng xuất gia tà trí này dùng đám đồ chúng mê tín nuôi sống mình, một đời sống tà mạng bất tịnh đã vậy thầy trò này vẫn ngỡ là được Phật bảo hộ và có công đức, thật si mê quá đỗi, vô pháp cứu độ, hạng này không phải đệ tử Phật mà là ngoại đạo trong nhà Như Lai. Thời mạt pháp thứ ngoại đạo này chiếm đa số trong hàng ngũ xuất gia.

Nhận Bồ tát là tướng của tôn tượng sẽ có những vấn đề khiến ta và Bồ tát luôn có khoảng cách vì ta và Bồ tát luôn là hai, cũng vì vậy mà khi xa lúc gần, thoạt thấy thoạt mất, lúc cúng dường lúc không theo hoàn cảnh nơi có tôn tượng hay không, bởi hễ xa tượng là xa Bồ tát, không thấy tượng là hết thấy Bồ tát, không có tượng biết đâu mà cúng dường. Nhưng nếu phát tâm bồ đề khi nhận chân Bồ tát chính là tâm này thì giữa ta và Bồ tát không còn khoảng cách, ta thường thấy những gì Bồ tát thấy và thường hành những việc Bồ tát thường hành, đi đứng nằm ngồi ở bất cứ đâu, bất kể lúc nào cũng không hề tạm xa Bồ tát dù trong sát na, cùng Bồ tát bả thủ đồng hành nắm tay đi cùng trong chốn luân hồi độ chúng sinh mà không hề nhiễm chút não phiền, kinh Hoa nghiêm gọi là "cư trần nhi bất nhiễm trần" ở ngay trong trần lao mà chẳng vướng mảy may trần nào. Trong trường hợp cùng bậc Bồ tát bất thối chuyển làm bạn lữ này, Cổ đức miêu tả "Cư ngũ trần nhi bất nhiễm, xử chúng uế nhi thường tịnh" ở nơi năm trần mà chẳng nhiễm, ngay trong cảnh uế mà vẫn tịnh. Thế mới biết kẻ không phát tâm rất sợ nhiễm phiền não nơi chúng sinh, nhưng người phát tâm thì vô úy do vô nhiễm vì có Bồ tát làm chủ tâm, thậm chí còn nhận ra điều như kinh Chư Pháp Vô hành thuyết "Tham dục tức thị đạo, khuể si diệc phục nhiên. Như thị tam sự trung, hữu vô lượng Phật đạo", tham dục tức là đạo, khuể si cũng như vậy, trong ba sự nói trên, có vô lượng Phật đạo".

Không nên hiểu lầm nếu nhận tâm bồ đề là Bồ tát thì sẽ tẩy chay việc tạo tượng xây chùa tháp, người có Bồ tát làm chủ tâm nhìn đâu cũng là Phật pháp, nên làm gì có chuyện nhìn tôn tượng hết phải là chính pháp. Bồ tát nhìn thật tính của thiện ác đều là Phật pháp, nhưng vì khuyên chúng sinh hành thiện xả ác, và việc xây chùa tạo tượng thuộc thiện pháp nên vẫn cần duy trì, hơn nữa bằng huệ nhãn của Bồ tát hóa Phật hay chân Phật đều bình đẳng, thế nên thờ phụng hóa hay chân Phật, Bồ tát đều vô ngại.

Ứng cơ điều chưa biết.

Như một cơn mưa đổ xuống một cánh rừng, mỗi loại cây cỏ hấp thụ nước theo nhu cầu, Bồ tát ứng cơ thị hiện độ sinh cũng tùy theo căn tính cao thấp mà diễn nói các pháp khác nhau. Nội dung nói pháp có thể chia làm hai loại là thế pháp như các thiện pháp thuộc về phúc báo thế gian và xuất thế pháp như các pháp tiểu hay đại thừa, nhưng quan trọng hơn cả là quyền và thật pháp. Quyền pháp là tam thừa sai biệt, thật pháp là nhất thừa.

Bồ tát khi ứng cơ hiện thân thuyết pháp đều thuyết hóa pháp, vậy thân nào của Bồ tát là thân thuyết thật pháp? Đáp rằng chẳng có thân nào cả, tuy vậy thân nào cũng thuyết thật pháp, thế nghĩa là sao? Nghe pháp bằng nhĩ thức cùng với ý thức phân biệt của mạt na chấp ngã thì pháp nào cũng thành quyền pháp, nếu nghe pháp bằng tâm bồ đề tức nghe qua thành sở tác trí cùng diệu quan sát trí của bình đẳng tính trí thì pháp nào cũng là thật pháp. Nói như thế có nghĩa dùng thân thức nghe pháp thì mọi pháp đều quy hướng về tôi nên đều là quyền pháp, nếu nghe bằng tâm vô phân biệt không ta không người, ta người không hai thì pháp nào cũng là thật pháp thậm chí hóa thân nào cũng đều là chân thân và cùng ta không sai khác.

Ứng cơ này là đại thừa thật pháp, là nan tín chi pháp, là điều đa phần người học Phật chưa hề biết. Đó là lý do vì sao tu học Phật phải phát tâm bồ đề, cũng là lý do đức Phật tiên quyết khai thị Phật tri kiến cho chúng sinh. Phát tâm ắt mở bày Phật tri kiến, ngược lại phàm mở bày Phật tri kiến tất phát tâm bồ đề. Mở bày Phật tri kiến cùng phát tâm bồ đề là nhân quả đồng thời.

Cần hiểu rằng tâm là chỗ lãnh thọ các pháp, phàm tâm tức vọng tâm ắt chỉ tiếp thọ được thế pháp hư vọng, Bồ đề tâm tức chân tâm tất thọ nhận chân thật pháp, ta có thể ví phàm tâm như cỏ dại, chân tâm như đại thọ, mưa như thật pháp và chỉ có đại thọ mới hấp thu được chân thật đại pháp.

Điều ít được biết nhất, đó là ứng cơ hiển bày ra hai môn bản và tích. Bản để thành Phật, tích để độ sinh. Thành Phật độ sinh là bồ đề tâm. Điều nữa cũng ít người biết, đó là ứng cơ theo thế gian pháp là cứu khổ nạn và theo xuất thế pháp là cứu độ.

Ứng cơ Bản và tích.

Hai chữ ứng cơ của phẩm Phổ môn đã chỉ ra hai môn là bản và tích. Bản là nguồn gốc phát sinh ra sự ứng cơ và tích chính là nghĩa của ứng cơ. Khi nói Bồ tát quán sát căn tính chúng sinh nên hiện thân nào dùng pháp nào để độ, đó là đứng trên vị trí của bản môn, và khi Bồ tát liền hiện thân ấy nói pháp ấy độ sinh là đứng trên vị trí của tích môn. Do Bồ tát là bản môn nên mọi sự thùy tích độ sinh có nghĩa là đưa chúng sinh nơi tích môn về lại với bản môn. Bồ tát dùng bi trí thùy tích tức ứng cơ nên các thân ứng cơ đều không hề là thật thân mà là hóa thân. Thân hữu lậu của chúng sinh từ bản môn do vô minh điên đảo mà hiện thành tích môn. Vì vậy kinh Pháp hoa gọi thật đại thừa là nhất thật đạo hay nhất thừa pháp, bởi bản chỉ có một nhưng tích thì vô vàn, nên chỉ duy có Phật quả hay Phật thừa mới thật sự là bản, Bản Phật tức chân Phật, kinh gọi là thanh tịnh pháp thân Tỳ Lô Giá Na Phật.

Chân thân không biến đổi theo các hóa thân, nói cách khác thì bản bất động không đổi theo các hóa thân ứng tích, thậm chí cho đến các sắc thân hữu lậu của chúng sinh thay đổi theo nghiệp lực nhưng bản môn của những thân đó không hề thay đổi, trong kinh Đại Phương Đẳng Như Lai Tạng đức Phật dạy “Ta dùng Phật nhãn quán sát tất cả chúng sinh, thấy trong các phiền não tham dục khuể si, có Như lai trí, Như lai nhãn, Như lai thân kết gìa phu tọa, nghiễm nhiên bất động. Thiện nam tử! Tất cả chúng sinh tuy ở trong các thú, trong cái thân phiền não kia có Như lai tạng thường chẳng nhiễm ô, đầy đủ đức tướng như ta không khác”.

Đức Phật khai thị Phật tri kiến tức mở bày bản tâm cho chúng sinh nhận ra nhất thật tức bản tâm bản Phật và nhờ đó trở về với bản tâm.

Tóm lại bản môn chính là pháp thân chân thật Phật, đồng thời cũng là thanh tịnh pháp và là nhất thiết Bồ tát hóa thân độ sinh, như vậy bản môn còn là tam bảo môn, quy y tam bảo là quay về trụ nơi bản môn. Trụ bản có nghĩa là ứng cơ tức thùy tích nhưng chưa từng lìa bản, mặc dù chưa hề lìa bản nhưng vẫn hằng thùy tích, bản tích bất dị nhi tức thị đó là thắng nghĩa của trụ bản, và bản còn gọi là vô trụ niết bàn. Tổng hợp của bản môn và tích môn chính là bồ đề tâm và ứng cơ là diệu dụng của tâm bồ đề, vì vậy phi phát tâm sẽ không thể có chuyện thành Phật độ sinh.

Ứng cơ cứu khổ nạn và cứu độ.

Ứng cơ đại biểu qua 33 ứng tùy hình của Bồ tát trong phẩm Phổ môn cho đồ chúng thấy sự cứu khổ cứu nạn của Bồ tát. Các nỗi khổ nạn này đều thuộc phạm vi nghiệp duyên của chúng sinh, nếu không phải chúng sinh hẳn nhiên không có những khổ nạn đó, dụ như con cá có khổ của lưỡi câu và màn lưới, nếu không phải là cá ắt nó không cần mong được thoát các khổ này. Phóng sinh là cứu nạn bị kho rán của chúng, những việc cứu khổ cứu nạn này xét ra chưa được viên mãn, muốn cứu chúng rốt ráo cần cứu độ chúng ra khỏi kiếp cá, nếu được sinh về cõi người hay trời chúng sẽ chẳng bao giờ cần được cứu vì các thứ khổ dính câu mắc lưới hay nạn bị kho bị nướng vĩnh viễn biến mất. Suy ra con người cũng vậy, hoàn toàn không nghĩ đến chuyện cầu nguyện cho mình đừng bao giờ bị cắn câu hay bị kho tộ, thay vào đó lại cầu những thứ cá không bao giờ cầu như cầu thoát nạn chiến tranh, khủng bố, chém giết, cướp đoạt và các nỗi khổ không như ý, như thất tình, thất chí, hao tài, mất người thân yêu… so ra trong muôn loài, con người tuy hưởng lạc hơn loài khác nhưng đồng thời cũng lắm khổ nạn nhất, do con người tham sân hơn mọi loài mà hễ càng tham sân thì càng lắm khổ, loài thú do si nặng hơn người nên ít thấy khổ hơn, bởi thiếu trí khôn để nhận thức ra khổ và lạc. Con người muốn thoát mọi khổ nạn phải thờ kính cầu xin thánh thần suốt đời, thực tế cho thấy cầu gì đi nữa khổ vẫn hoàn khổ, bởi khổ do con người tự tạo nên tự chịu, đã gieo nhân tất chịu quả, Bồ tát cứu khổ bằng cách ngăn chặn chúng sinh gieo nhân khổ mà không thể sửa quả khổ thành phúc được, để diệt quả khổ cần gieo nhân phúc, đó là sự phát tâm hành thiện nhiêu ích hữu tình, cầu nguyện không phải nhân của quả phúc, nếu chỉ cầu no mà không ăn thì vẫn đói, ngược lại nếu chỉ cầu ăn mà không cầu no thì no vẫn tới. Người tu học phải biết cầu nguyện đúng nhân đúng quả thì mọi sự hữu cầu tất ứng, nhân của mọi phúc là thiện pháp lợi lạc hữu tình, vì vậy nên cầu thiện pháp như cầu ăn thì phúc tới như no tự đến. Người u mê cầu phúc mà không tạo phúc khác nào cầu no mà không cầu ăn, cần hiểu rằng hành thiện lợi ích chúng sinh là nhân sinh phúc ngăn khổ, đây là cách không những cứu mọi khổ từ trong trứng nước mà còn khổ diệt phúc tăng, đó cũng là điều đồ chúng ít biết và không biết. Kẻ không hiểu thì không hành và thời gian trôi đến với họ luôn kèm theo đủ khổ đủ nạn, để rồi đôi lúc thất vọng Bồ tát không thực cứu khổ như lời ngài nói. Người hiểu thì phát tâm cứu khổ nạn, nhiêu ích hữu tình và nhận ra sự cứu khổ, cứu độ tinh vi của Bồ tát.

Do lắm khổ nhiều nạn, con người có nhu cầu lớn tin vào thần linh để cầu xin được cứu khổ trừ nạn, người càng coi nặng dục lạc là phúc thì càng khổ khi thiếu hay mất đi những thứ đó, vì lẽ này họ rất tha thiết thờ phụng trời Phật cho đến quỷ thần mà họ cho là linh thiêng và miệt mài cầu xin mọi thứ đến hết đời. Với họ linh thiêng là đáp ứng sự cầu xin dục lạc của họ. Vì thế chẳng mấy ai thờ phụng mà không miệt mài thiết tha xin xỏ. Bồ tát quán sát căn tính rõ biết chúng sinh đa dục chỉ cầu được cứu khổ cứu nạn, ngài dùng pháp cứu làm phương tiện cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn nhất thời, con người điên đảo nhận được sự cứu khổ nạn ấy cho Bồ tát linh thiêng, do ngu si không nhận ra tính linh thật sự của Bồ tát là muốn giúp họ vĩnh ly mọi kiếp khổ nạn mà không chỉ thoát ly có mỗi cái khổ nạn trước mắt, để rồi ngay sau đó cả Bồ tát lẫn họ lại tiếp tục giải quyết các khổ mới, và trong vạn lần như thế đôi lúc họ còn trách Bồ tát hết linh, cứ thế mà chúng sinh kéo dài sự thờ phụng dung tục này làm công cụ cúng dường cầu xin Bồ tát đến muôn đời.

Cứu khổ nạn là phương tiện giúp chúng sinh hữu lậu có được nhân duyên với pháp cứu. Một khi nhân duyên cứu thành tựu nơi một người thì mắt họ sẽ thấy những gì Bồ tát thấy, tay họ sẽ làm được sự cứu vớt như cánh tay của ngài, tay mắt đó thuộc về ngàn tay ngàn mắt của Bồ tát, và khi ấy xác thân hữu lậu đó nghiễm nhiên là hóa thân trong 33 ứng tùy hình của Bồ tát, đến lúc này sự linh thiêng màu nhiệm nhất của pháp cứu khổ nạn mới thành tựu rốt ráo, và được gọi là pháp cứu độ. Cứu độ là sự cứu khổ cứu nạn tối thắng, cứu chúng sinh vĩnh viễn qua bờ an lạc, đến một hạt bụi khổ nạn cũng chẳng còn, và một thân tâm thật sự an lạc viên mãn luôn là thân tâm ứng cơ cứu khổ nạn cho đến cứu độ chúng sinh.

Người tu học chung cục muốn được cứu khổ nạn hay được cứu độ? Nếu xin được cứu khổ nạn thì muôn kiếp sống đời cùng tử và là một kẻ nhất xiển đề. Nếu xin được cứu độ thì phải phát tâm cứu khổ cứu nạn, cứu cho đến bao giờ đôi mắt chỉ còn thấy những ai cần được cứu, đôi tay chỉ biết nâng đỡ gánh vác muôn loài, khi ấy là lúc đã được cứu độ.

Tóm lại cứu khổ nạn không thể là chuyện ngẫu hứng nhất thời mà phải là nhật thường sinh hoạt như việc ăn ngủ hít thở. Cứu độ là cứu khổ nạn viên mãn, người được cứu độ vĩnh ly khổ nạn, và người vĩnh ly khổ nạn chân chính là người cứu khổ nạn cho muôn loài. Đây là điều nhiều người tu học chưa biết và ít biết về ứng cơ cứu khổ nạn.

Ứng cơ điều ngộ nhận.

Ngoài những nhận thức sai lầm đã biết ở phần trên, người tu học thường ngộ nhận Bồ tát chỉ hiện thân khi đồ chúng cầu nguyện hoặc giả hiện hình thấp thoáng trên mây trên không với dáng dấp của người cổ xưa được tạo tượng tôn thờ trong các chùa chiền. Họ chỉ nhận hóa thân đó là thật Bồ tát, ngoài hình dáng đó ra đều là phàm phu hay ma quái, vì vậy nhiều người xuất gia giáo dục đồ chúng chỉ kết nhân duyên với Bồ tát bằng tạo tượng theo khuôn mẫu truyền thống thờ kính, lễ bái để cầu lợi dưỡng cho mình lạm gọi là công đức, còn chúng sinh thì tránh xa để không bị nhiễm phiền não. Không những họ đã ngộ nhận về Bồ tát lại cũng ngộ nhận luôn về chúng sinh, do dùng thức tâm ngã chấp phân biệt nên chỉ thấy mặt hại mà không thấy mặt lợi của chúng sinh. Chúng sinh là công đức điền của Bồ tát, đức Phật khẳng định trong kinh Đại phương tiện báo ân rằng chúng sinh có ân lớn với ngài vì không có chúng sinh ngài không thể thành Phật vì vậy ngài thệ độ nhất thiết chúng sinh để báo ân. Tất cả hành nguyện bi trí của Bồ tát đều lấy hữu tình làm đối tượng, như vậy chúng sinh đâu chỉ có phiền não, xét cho tinh tế thì tâm phàm nào cũng thấy chúng sinh chỉ mang đến phiền não, nhưng với tâm Bồ tát thì phiền não chúng sinh là đối tượng mang đến giải thoát, như lời lục tổ Huệ Năng nói "Phật pháp bất ly thế gian giác" sự giác ngộ không thể tách khỏi thế gian hư vọng này, và như thế phàm không phát tâm sẽ không thành đại thọ để hấp thụ chính pháp giác ngộ được.

Những người tu học này ngộ nhận sự ứng cơ thị hiện của Bồ tát, coi ngài là người bảo hộ mà quên mất Bồ tát hóa thân để nhắc họ tỉnh mộng phàm phu trở về với chân tâm bồ đề. Họ cũng ngộ nhận chỗ tạo công đức từ những hữu tình phiền não nên xa lánh chúng sinh và vì vậy không thể thành tựu công đức của Bồ tát đạo. Họ chỉ miệt mài cầu cúng Bồ tát bảo hộ mà quên mất Bồ tát là chính mình.

Khi tôi hướng đến chúng sinh bằng tâm Phật, thì tâm tôi gần Phật, thân tôi bên chúng sinh, tôi chẳng lìa Phật mà vẫn kề bên chúng sinh, dù chẳng lìa chúng sinh mà vẫn luôn kề cận bên Phật nên vô số não phiền của chúng sinh đều thành bồ đề, nếu không phát tâm bồ đề thì không thể hành được như vậy. Thử nghĩ xem nếu cả tâm lẫn thân tôi đều xa Phật và gần với chúng sinh thì bồ đề nào cũng thành phiền não, Nói rõ hơn khi tâm tôi là phàm tâm, thân tôi là thân hữu lậu thì tôi là một chúng sinh toàn phần, còn như nếu tâm tôi là tâm Phật, thân tôi là thân chúng sinh thì thân tâm này là hóa thân của chư Phật. Và khi thân tâm trọn vẹn là Phật thì sẽ là pháp thân thanh tịnh biến nhất thiết xứ. Song để độ tận chúng sinh, tâm Phật cần dùng đến nhiều hóa thân chúng sinh. Thân là phương tiện, tâm là cứu cánh, nói cách khác thì thân tướng là phương tiện Phật tức hóa thân, chân tâm hay Phật tâm là cứu cánh Phật tức chân thật Phật. Sắc thân của chúng sinh khác với hóa thân của Phật, nhưng chân tâm thì Phật và hữu tình bình đẳng không sai khác.

Ứng cơ không có nghĩa nói pháp theo thị hiếu ham muốn của chúng sinh để lợi dưỡng mà là khéo nói pháp giải trừ nghiệp tham dục ấy cho chúng sinh để người người đều phát tâm bồ đề được tự tại giải thoát đúng với hoài bão của chư Phật khi thị hiện nơi đời.

VTA 2.9.2022

Từ Ngữ Phật Học Trong: Ứng Cơ