Home > Khai Thị Phật Học > Hoa-Thuan
Hòa Thuận
Sa Môn Thích Đạo Thế chùa Tây Minh | Hội Văn Hóa Giáo Dục Linh Sơn Đài Bắc Xuất Bản, Việt Dịch


Thiên này có năm phần: Thuật ý, Dẫn chứng, Hòa Thí, Hòa Quốc, Hòa Sự.

Thứ nhất PHẦN THUẬT Ý

Rằng thiện ác trái ngược nhau ngôn hành hai nẽo khác, hoạn hấn theo nhau sanh oán độc càng sâu nặng. Vì lẽ đó nói thì dễ, làm được là khó. Do đó cương nhu cần phải thích hợp nghịch thuận cần phải tùy tánh, ví như đúc kiếm quá cứng thì gãy quá mềm thì cuốn, muốn kiếm không gãy nhất định phải thêm vào một ít bạc, muốn kiếm không cuốn nhất định phải thêm vào một ít vàng. Tại vì sao? Bởi vì vàng có tánh cứng mà bạc có tánh mềm, cứng mềm cân bằng tức là tốt đẹp rồi, có tánh hòa bình tức là thuận lợi rồi. Vì thế La Vân mật hạnh mà tự điều hòa, cho nên bậc Thánh khen ngợi làm cho đẹp danh dự. Đề Bà thô hạnh mà thêm tàn ác, cho nên mọi người phỉ báng để làm sáng tỏ lỗi lầm. Tục thư nói: Báo Tây Môn tính nóng, đeo ngọc vĩ để tự hòa dịu; Đổng An Vu tánh chậm, mang dây cung để tự nhanh nhẹn, vốn là âm dương điều hòa theo lẽ của Trời đất, cương nhu cân bằng thuận tánh của người vật.

Thứ hai PHẦN DẪN CHỨNG

Như kinh Mật Tích Kim Cang Lực Sĩ nói: Vua A Xà Thế thưa hỏi Đức Phật rằng: Khổ Tát Nhân Hòa là có mấy pháp, vòng quanh qua lại luôn luôn giữ lấy sự hòa nhã mà không dấy động thô tâm? Đức Phật dạy: Khổ Tát Nhân Hòa có tám sự pháp. Cái gì gọi là tám sự pháp? Đó là: 1. Chí tánh chất trực mà không nịnh hót; 2. Tánh hạnh hòa nhã mà không giả dối; 3. Tâm giữ gìn thành thực chất phác luôn luôn không hư vọng; 4. Tâm hạnh kiên quyết cũng cần phải không yếu hèn; 5. Không mê hoặc chí hướng giữ lại lòng nhân hòa; 6. Giúp cho chúng sanh giữa thế gian nhận được đức hạnh của mình, 7. Tâm hạnh thông suốt rõ ràng mà không hề đắm trước; 8. Tư duy về tội phước mà tâm không hề nghĩ gì, đây là tám sự. Ngay sau đó vua A xà Thế thưa với Đức Phật rằng: Bồ tát có mấy pháp hành đạt đến xu thế vô lực như vậy? Đức Phật dạy: Có mười pháp. Cái gì gọi là mười pháp? Đó là: 1. Thà bỏ thân mạng và chịu khó tiếp nhận chánh pháp; 2. Không hề tự đại mà khiêm tốn cẩn thận dùng ý lễ kính chúng sanh; 3. Trông thấy chúng sanh ngang ngược có chấp khó mà cảm hóa thì lập chí nhẫn nhục; 4. Thấy người đói kém dùng cơm canh ngon lành mà giúp cho họ được no đủ; 5. Nhìn thấy những nỗi sợ hãi thì khuyến khích an ủi làm cho yên lòng; 6. Nếu có chúng sanh mắc phải bệnh nặng thì dùng thuốc tốt chữa trị giúp họ; 7. Nếu có người hèn kém bị khinh mặc, thì cung kính nghĩ đến khiến cho người ta không coi khinh; 8. Dùng bùn đất thanh tịnh xoa đắp vào những nơi hư hoại trong tháp miếu phụng thờ Như Lai; 9. gặp người khổ cực bơ vơ nghèo thiếu khốn khó thường mang vác nặng nhọc, làm cho tai họa khốn khổ nặng nề của họ được gạt bỏ; 10. Nếu có người không nơi che chở không chốn quay về nương tựa thì luôn luôn giúp đỡ cho họ, đã nói ra thì giữ đúng như lời mà không thay đổi, đây là mười sự pháp.

Lại trong kinh Chánh Pháp Niệm nói: Nếu có chúng sanh thấy bạn thân người ta phá hoại lẫn nhau tâm mang đầy oán kết, có thể hòa hợp thay họ, thì mạng chung sanh cõi Trời Dục Ái, tùy theo tâm nghĩ đến lập tức có được năm thứ dục lạc tự nhiên vui vẻ. Nếu có chúng sanh thấy người bị tổn hại mất mát vì người khác cướp đoạt đánh giết mà cứu giúp khiến được thoát nạn, hoặc ở nơi hiểm nạn chỉ bày con đường chính đáng cho người, hoặc ở nơi nghi ngờ sợ hãi làm cho họ được yên ổn thì người ấy mạng chung sanh lên cõi Trời chánh hạnh, Thiên nữ cúng dường hưởng thụ năm thứ dục lạc, nếu sanh trong cõi người thì sanh vào nhà Đại Trưởng giả vốn có chánh kiến. Nếu có người luôn luôn mềm mỏng, dốc lòng xa rời tất cả phiền não, thì Niết bàn giải thoát giống như trong bàn tay. Người tính tình mềm mỏng thì tâm giống như bạc trắng, tu dưỡng thực hành thiện nghiệp được mọi người tin tưởng. Người tính tình thô lỗ thì tâm giống như Kim Cang, tâm luôn luôn không quên oán kết, việc làm không điều phục nên bị mọi người khinh ghét, không yêu quý không tin tưởng. Bấy giờ Bồ tát Khổng Tước dùng kệ trong kinh Phật mà nói bài tụng rằng:

Nếu như tâm người luôn mềm mỏng,
Giống như vàng ròng đã thành thục
Người này trong ngoài đều tốt lành,
Nhanh chóng xa lìa mọi khổ đau
Nếu như tâm người được điều hòa,
Tất cả mọi lúc đều mềm mỏng
Người này sanh chủng tử tốt lành,
Giống như gieo vào miệng phước tốt.

Lại trong kinh Ha Điêu A na hàm nói: A na hàm có tám điều không muốn để cho người ta biết. Những gì là tám điều? Đó là: 1. Không mong cầu không muốn để cho người khác biết; 2. Niềm tin không muốn để cho người ta biết; 3. Tự xấu hổ không muốn để cho người ta biết; 4Tự hổ thẹn không muốn để cho người ta biết; 5. Tinh tiến không muốn để cho người ta biết; 6. Tự quán xét không muốn để cho người ta biết; 7. Đạt đến thiền định không muốn để cho người ta biết; 8. Thông minh trí tuệ không muốn để cho người ta biết. Nguyên cớ không muốn để cho người ta biết, là bởi vì không muốn làm phiền nhiễu cho mọi người.

Thứ ba PHẦN HÒA THÍ

Như kinh Phật Thuyết Nhất Thiết Thí Vương Sở Hành Đàn Ba la mật nói: Đức Phật dạy: Vô ương số kiếp quá khứ lâu xa, bấy giờ ở thế gian có vị đại Quốc vương, tên hiệu là Tát Hòa Đạt (Thời Tấn nói là Nhất Thiết Thí Vương), lúc ấy bố thí như mọi điều mong cầu chứ không làm trái ý người cầu xin. Bấy giờ ở nước khác có người Bà la môn, mất cha từ nhỏ, một mình cùng với mẹ chị em trai lo kiếm sống, gia cảnh nghèo thiếu khốn khó, người mẹ nói với con trai rằng: Cảnh nhà khốn cùng không thể tự cung cấp, lúc cha con còn sống, thường đến nơi cua Tát Hòa Đạt cầu xin có thể tự cứu sống, nay sao không đi đến nơi vua ấy mà cầu xin tiền bạc châu báu? Người con trả lời mẹ rằng: nay con không có những hiểu biết gì, trước tiên nên học hỏi rồi sau đó mới đi. Người mẹ nói với con trai rằng: Nay con biết trong nhà không có gì cả, mà phải có học hỏi rồi lúc ấy mới nên đi, nếu sau này con đi mà nơi ấy trống rỗng rồi, thì lấy gì tự nuôi sống? Người con liền nói với mẹ: Trước tiên con sẽ mượn tiền mua lấy một số vàng, có thể chuẩn bị lương thực đủ cho một năm. Người mẹ liền đồng ý. Thế là đi mượn được một số vàng trở về đưa cho mẹ, mới rời nhà đi học. Một năm đã xong thì trở về nhà, mẹ thấy con trở về thì đón hỏi rằng: Con đã đi đến nơi vua Nhất Thiết Thí ư? Người con trả lời mẹ rằng: Việc học chưa thông suốt nên lại tiếp tục học. Người mẹ nói: Số vàng trước đây đã hết nên làm cách nào? Người con trả lời mẹ rằng: Con sẽ tiếp tục mượn để bán. Người con liền tiếp tục đi đến chỗ người bán vàng trước đây, đến gần người ấy nói rõ ý tiếp tục muốn vay mượn một số vàng. Người chủ tiệm vàng nói rằng: Trước đây ông lấy vàng, đã chưa trả lời lại tôi, nay ông lại muốn lấy, nếu ông quả thực muốn tiếp tục có được vàng, thì mang mẹ và chị em trai của ông để gán trước, lúc ấy mới có thể được, nếu đến hẹn mà không trả lời hết, thì sẽ giữ lấy mẹ chị và em trai của ông để làm tôi tới phục dịch. Thế là đồng ý với nhau, làm phiếu nợ xong lấy mang về giao cho mẹ, tiếp tục rời nhà đi học. Lại kết túc một năm, sự hiểu biết có chút sung túc, muốn trở về nói với mẹ để đi chỗ vua Nhất Thiết Thí. Đang trên đường về thì bị chủ nợ bắt lấy, cùng với mẹ, chị, em trai mang trở về xiềng chân lại. Người Bà la môn nói với chủ nợ rằng: Tuy ông giam giữ chúng tôi mà quả thực làm cho suốt năm tôi không có lợi ích gì cả, không bằng tha cho chúng tôi, tôi sẽ đi đến chỗ nhà vua Nhất Thiết Thí cầu xin được đồ vật mang về để trả nợ cho ông, chủ nợ suy nghĩ bèn cởi xiềng cho người Bà la môn khiến đi đi! Lúc ấy có quân đội của vua nước khác dấy binh muốn đến giành lấy đất nước của vua Nhất Thiết Thí, bấy giờ các quan thưa với nhà vua rằng: Nay có nước khác dấy binh tiến vào biên giới, không biết Đại vương nên làm cách gì? Lúc ấy nhà vua tự nghĩ: Mạng sống con người rất ngắn sẽ trở về quy luật vô thường, vả lại mình từ thuở bé đến nay ưa thích bố thí, yêu thương nhân ái nhẫn nhục chứ không có ý làm thương tổn, không muốn cùng với họ chống cự ngang ngược lẫn nhau, nguyên cớ do đâu, chỉ vì mình một thân mà làm dao động binh lính, nếu như có ai bị thương tổn thì thật sự không phải là điều thích hợp đối với mình, Thế là truyền lệnh cho các quan không cần phải chuẩn bị gì cả, cũng đừng sợ hãi, chỉ tạm thời nghiêm túc ra ngoài nghênh đón chào hỏi nhau, cung kính thuận theo sự việc tiếp nhận mệnh lệnh chỉ bày của họ khiến cho càng tôn trọng hơn Ta! Các quan lại thưa với nhà vua rằng: Quân đội nước khác tiến vào biên giới, vì sao không phòng bị? Nhà vua im lặng không trả lời như vậy đến ba lần, nhà vua nói: Không cần phải chống cự gì cả, như ta nói trước đây! Các quan đều nói: Nhà vua truyền lệnh đừng phòng bị, chúng thần đều như vậy. Nhà vua nói: Rất tốt, tất cả tạm thời giữ yên gia đình, cẩn thận đừng gây phiền hà cho họ! Nửa đêm nhà vua ấy liền cởi dải lụa đeo ấn lặng lẽ trốn mà đi. Vua nước kia tiến vào nước liền chiếm lấy ngôi vị nhà vua, lập tức chiêu mộ tìm kiếm vua Nhất Thiết Thí, treo thưởng rất lớn. Vua Nhất Thiết Thí thì ra khỏi nước mình đi hơn năm trăm dặm, nay nhất định là đến tìm mình không nghi ngờ gì. Lúc ấy ý của người Bà la môn cũng nghĩ rằng: Người này mong muốn không phải chính là vua Nhất Thiết Thí! Hai người cùng tiến tới trước gặp nhau thì dừng lại. Nhà vua hỏi người Bà la môn rằng: Ông từ nơi nào đến, nay muốn đi đến đâu? Người Bà la môn đáp rằng: Tôi muốn đi đến nơi nhà vua Nhất Thiết Thí! Nhà vua lại hỏi: Muốn đến chỗ vua Nhất Thiết Thí, muốn cầu mong điều gì? Người Bà la môn trả lời rằng: Tôi mất cha từ lúc còn nhỏ, nhà rất nghèo túng khốn cùng, đem mẹ chị và em trai đi cầm cố để vay nợ, hết hạn kỳ không có tiền trả nợ, muốn đến nơi nhà vua Nhất Thiết Thí cầu xin tiền bạc châu báu trở về chuộc mẹ chi em trai và có thể tự cứu mình. Nhà vua liền nói cho biết rằng: Ta chính là vua Nhất thiết Thí. Người Bà la môn hỏi nhà vua: Tuỳ tùng ở đâu mà đi một mình vậy? Nhà vua nói: Có quân đội nước khác muốn đến chiếm lấy đất nước của Ta, vì vậy ta muốn đi, nguyên cớ do đâu, bởi vì Ta không muốn làm thương tổn cho dân chúng và quân lính! Người Bà la môn nghe lời nhà vua đã nói thì liền ngã xuống đất, mà òa khóc nức nở không thể nào tự nén mình được. Nhà vua liền đến trước mặt kéo người Bà la môn, khuyên nhủ nói rõ khiến đứng dậy, không cần phải khóc lóc, có mong cầu điều gì nay sẽ giúp cho. Người Bà la môn nói: Nhà vua nay đã mất nước, sẽ lấy những gì để cầu xin giúp cho? Nhà vua liền trả lời rằng: Vị vua đến nước ấy chiêu mộ tìm kiếm treo thưởng rất lớn, nay ông có thể cắt đầu Ta mang đến nộp cho vị vua ấy, đối với những mong cầu đều có thể được. Thế là người Bà la môn nói kệ trả lời rằng:

Người thế gian giết hại mẹ cha,
Mạng chết rơi vào ngục Nê Lê
Nay thêm tội làm hại nhà vua,
Tội lỗi ấy như nhau không khác
Nay tôi thật sự không đành lòng,
Làm điều độc ác với Đại vương
Thà rằng để thân mạng chết đi,
Cuối cùng không làm điều trái ý.

Ngay sau đó vua Nhất Thiết Thí lại nói với người Bà la môn rằng: Nếu ông không muốn lấy đầu Ta, thì có thể cắt mũi tai của Ta đem giao, cũng có thể có được tiền thưởng, bởi vì sợ rằng không đúng là vua ấy mà. Người Bà la môn trả lời nhà vua rằng: Dường như hôm nay tôi không đành lòng làm điều này. Nhà vua lại nói với người Bà la môn rằng: Nếu không như vậy, thì có thể trói Ta đem đến giao cho họ, cũng có thể nhiều tiền thưởng. Người Bà la môn có thể biết rằng nhà vua mà không bị kẻ kia làm hại, nên người Bà la môn nói: nhà vua quả thực muốn như vậy thì có thể cùng nhau quay về, sắp đến đất nước của nhà vua mới nên trói lại! Thế là nhà vua và người Bà la môn liền cùng dẫn nhau trở về đất nước nhà vua. Còn hơn hai mươi dặm, nhà vua biết sắp đến nơi, liền tự vòng tay lui sau nói với người Bà la môn rằng: Ông có thể nói trói Ta lại! Người Bà la môn thuận lợi bèn trói nhà vua lại, nhân dân cả nước đều nghe tin biết rằng vua Nhất Thiết Thí bị người Bà la môn ở nước khác gặp trói mang về. Nhân dân từ lớn đến nhỏ trông thấy nhà vua không ai không khóc nức nở, ngã xuống đất chết lịm như bị mất đi cha mẹ, tức thì tiến lên đi đến cửa cung thành, các quan lập tức đi vào thưa với vị vua kia. Trước đây đã chiêu mộ tìm kiếm vua Nhất Thiết Thí chạy trốn, bị người Bà la môn đã gặp và trói lại đưa về, nay đang ở trước cửa cung thành. Vị vua kia liền nói: Hãy đưa vào đây! Vua Nhất Thiết Thí liền tiến lên đi vào cung, vị vua kia và quan lại cùng các quan phụ thuộc, trông thấy vua Nhất Thiết Thí không có ai không ngã xuống đất mà khóc nức nở, vị vua chiếm đoạt kia lại cũng rơi nước mắt, mà hỏi các quan: Các ông vì sao đều khóc? Các ông thưa rằng: Chúng tôi trông thấy vua Nhất Thiết Thí rời bỏ đất nước và ngôi vua, lại đem thân mạng giúp cho người Bà la môn, điều gì đã làm thì không ân hận, vì vậy cho nên khóc thương mà thôi. Vị vua chiếm đoạt kia nghe các quan đều nói đúng như vậy, lập tức ngã xuống đất mà òa khóc nức nở, không thể nào tự nén mình được, bèn hỏi Bà la môn: Nay ông làm sao bắt được nhà vua vậy? Người Bà la môn trả lời đầy đủ với vị vua kia về nguyên nhân đầu đuôi sự việc. Vị vua chiếm đoạt kia nghe lời người Bà la môn đã nói, thì tiếp tục ngã xuống đất khóc nức nở mà nói: Truyền lệnh cho các quan biết lập tức cởi trói cha nhà vua, tắm gội mặc áo mang dải lụa đeo ấn, trở lại lập lên làm vua! Thế là trở lại ngồi trên ngai vàng tiếp nhận phép nước như xưa. Ngay sau đó vị vua kia liền quỳ thẳng vòng tay ca ngợi mà nói kệ rằng:

Từ lúc còn ở đất nước mình,
Từ xa nghe đức của Đại vương
Nay đã đến ở tại nơi này,
Thấy tôn kính hơn điều được nghe
Công đức tích lũy thật bao la,
Sừng sững nguy nga như núi vàng
Sức lực đó vững vàng như vậy,
Không có gì có thể làm dao động
Nay thấy việc làm của Đại vương,
Đối với thế gian thật vô song
Nguyện đem đất nước trả lại Ngài,
Và tôn trọng lãnh thổ của mình
Nguyện trở về đất nước ngày xưa,
Tu dưỡng cung kính làm bề tôi
Không dám ôm ấp lòng kiêu mạn,
Thờ vua như thần Phật trên cao.

Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: Vua Nhất Thiết Thí lúc bấy giờ chính là thân ta hôm nay. Vị vua nước kia chính là Xá lợi phất bây giờ. Người Bà la môn chính là Điều Đạt hôm nay. Ta thành tựu công đức tướng tốt lục độ Bà la môn, đều là ân của Điều Đạt, Điều Đạt là thiện tri thức của Ta, cũng là một vị thầy tốt. Điều đạt trong A tăng kỳ kiếp sau này sẽ được làm Phật, danh hiệu là Đề Hòa La Da.

Thứ tư PHẦN HÒA QUỐC

Như trong kinh tạp Bảo Tạng nói: Đức Phật dạy: Thời quá khứ lâu xa có hai vị Quốc vương một vị là Quốc vương Ca Thi, một vị là Quốc vương Tỉ Đề Hê, vua Tỉ Đề Hê có con Hương Tượng to lớn, dùng sức lực của Hương Tượng phá vỡ quân trận của vua Ca Thy. Vua Ca Thy dấy lên suy nghĩ như vậy: Nay mình làm sao có được Hương Tượng để phá vỡ quân trận của vua Tỉ Đề Hê? Lúc ấy có người nói: Tôi thấy trong núi có một con Hương Tượng trắng. Nhà vua nghe vậy rồi lập tức chiêu mộ rằng: Ai có thể bắt được Hương Tượng, Ta sẽ trọng thưởng! Có người nhận lời chiêu mộ nói: Tập trung nhiều quân lính đi bắt con voi ấy. Con voi suy nghĩ rằng: Nếu như mình đi xa, cha mẹ mù mà già yếu, không bằng điều thuận đi đến chỗ nhà vua. Lúc bấy giờ mọi người liền tự nhiên mang Hương Tượng đến bên nhà vua, nhà vua vô cùng hoan hỷ làm cho Hương Tượng một ngôi nhà đẹp, có phủ thảm bông mềm mại phía dưới, cùng với các kỹ nữ đàn ca múa hát vui vẻ, cho voi ăn uống nhưng voi không chịu ăn uống gì cả. Lúc ấy người giữ voi đến thưa với nhà vua rằng: Voi không chịu ăn uống. Nhà vua tự mình đến chỗ voi, thời thượng cổ các loài súc sanh đều có thể nói được tiếng người, nhà vua hỏi voi rằng: vì sao voi không ăn uống? Voi trả lời nhà vua rằng: tôi còn có cha mẹ, tuổi già mắt mù không có đồng cỏ và nguồn nước chu cấp thuận tiện, cha mẹ không ăn thì tôi làm sao ăn được! Voi thưa vời nhà vua rằng: Tôi muốn rời xa nơi này thì các quân lính của nhà vua không có người nào có thể ngăn cản được tôi, chỉ vì cha mẹ mù lòa già yếu nên thuận theo nhà vua đến đây mà thôi, nay nhà vua thấy thì hãy mặt ý tôi tiếp tục cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ đến cuối tuổi thọ của họ, tự tôi sẽ quay trở lại! Nhà vua nghe nói như vậy thật là vô cùng hoan hỷ. Chúng ta thì làm voi đầu người, con voi này chính là người đầu voi. Tổ tiên người nước Ca Thi, dữ dằn tệ hại đối với cha mẹ không có tâm tư cung dưỡng, nhờ con voi hiếu thảo này, nhà vua lập tức tuyên lệnh tất cả mọi người trong nước, nếu ai không hiếu dưỡng đối với cha mẹ, thì phải ghép vào tội lớn. Ngay lúc ấy nhà vua thả voi trở về bên cha mẹ, cung cấp nuôi dưỡng cha mẹ tùy theo thọ mạng ngắn dài, cha mẹ qua đời thì quay trở lại chỗ nhà vua. Nhà vua có được Hương Tượng trắng ngời thật vô cùng hoan hỷ, lập tức chỉnh đốn trang nghiêm muốn đánh dẹp nước kia. Voi nói với nhà vua rằng: Đừng phát động chiến tranh, tất cả các cách đánh nhau đều gây ra nhiều sự tổn hại thương đau. Nhà vua nói: Vua nước ấy ức hiếp xúc phạm đến tôi. Voi nói: Để mặc tôi đến đó thương lượng, khiến cho oán địch kia không dám bắt nạt. Nhà vua nói: nếu voi ra đi thì hoặc là có thể không trở về? Đáp rằng: Không ai có năng lực ngăn cản tôi khiến cho không trở về. Ngay sau đó voi liền đi đến trong đất nước kia. Vua Tỉ đề hê nghe tin voi đi đến, vô cùng hoan hỷ, tự mình ra ngoài hướng đến nghênh đón, đã gặp voi rồi bèn nói với voi rằng: Hãy ở lại nước tôi! Voi thưa với nhà vua rằng: Không cần phải ở lại nơi này, từ lúc tôi lập thân đến nay không làm trái lời thề, trước đã hứa với vua nước kia là trở về nước ấy, các ông là vua đứng đầu hai nước nên trừ bỏ oán thù tệ hại, tự mình làm cho đất nước mình yên lành há không vui sướng hay sao? Lúc ấy nói kệ rằng:

Được thắng trận tăng thêm oán thù, Thua trận thì càng thêm sầu khổ Người nào không tranh giành thắng bại, Người ấy sống thanh thản vô cùng.

Lúc bấy giờ voi này nói kệ ấy xong, liền trở về nước Ca Thi, từ đó về sau hai nước hòa hiếu yên ổn. Quốc vương Ca Thi lúc ấy, nay là vua Ba tư nặc. Quốc vương Tỉ đề hê lúc ấy, nay là vua A xà Thế. Bạch Tượng lúc ấy nay chính là thân Ta. Bởi vì lúc bấy giờ ta hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ, khiến cho nhiều chúng sanh cũng hiếu thuận phụng dưỡng cha mẹ.lúc bấy giờ có thể làm cho hai nước hòa hiếu, ngày nay cũng như vậy.

Thứ năm PHẦN HÒA SỰ

Như trong Tăng Kỳ Luật nói: Đức Phật bảo với các Tỳ kheo: Vào đời quá khứ, có khu thành tên gọi Ba la nại, nước ấy tên là Già Thi, có một Bà la môn, có loại hạt đậu Ma Sa lâu năm, nấu không thể chín được, mang đặt trong quán muốn báo cho người ta, nhưng cũng không có người nào mua. Lúc ấy có một người, trong nhà có một con lừa mang đến chợ bán thì khó bán được. Lúc ấy người chủ loại hạt đậu lâu năm liền dấy lên nghĩ rằng: Mình lấy loại đậu mua con lừa này sử dụng. Thế là đi đến nói rằng: Ông có thể mang con lừa đổi lấy đậu này chăng? Người chủ con lừa lại nghĩ; Dùng con lừa này để lấy được loại đậu kia? Bèn trả lời rằng: Có thể như vậy. Đổi được con lừa rồi thật hoan hỷ. Bấy giờ người chủ loại đậu liền dấy lên nghĩ rằng: Nay có được con lừa. Lập tức nói kệ rằng:

Cách buôn bán khéo léo của Bà la môn, Loại đậu Ma Sa để lâu mười sáu năm Đốt hết củi mà ông nấu không chín được, Đủ để gãy răng lớn nhỏ trong nhà ông!


Lúc bấy giờ người chủ con lừa cũng làm bài tụng rằng:


Bà la môn ông vui mừng vì điều gì, Tuy có bốn chân khoác bộ lông tốt đẹp Vác nặng theo đường khiến cho ông biết rõ, Dùi đâm lửa đốt cuối cùng không động đậy! Bấy giờ người chủ loại đậu, lại nói kệ rằng: Chỉ có gậy ngàn năm đốt lửa, Đầu cắm vào cây kim bốn tấc Có thể trị con lừa hư hỏng, Lo gì không thể khuất phục được

Lúc bấy giờ con lừa hư hỏng nghe mà tức giận liền nói tụng rằng:

Hai chân phía trước đứng vững vàng, Hai chân phía sau cùng đá lên, Trước tiên làm gãy hàm răng ông, Rồi sau đó tự nhiên sẽ biết! Bấy giờ người chủ loại đậu nghe con lừa tụng như vậy, lại nói kệ rằng:

Ruồi muỗi bu đầy độc chích, Chỉ nhờ cái đuôi tự phòng vệ Trước mắt cắt bỏ đuôi của người, Khiến người biết cay đắng ra sao! Bấy giờ con lừa lại dùng kệ đáp rằng: Từ tổ tông xưa kia đến nay, Đi theo cách chậm chạp thế này Nay tôi vốn kế thừa thói quen, Chết mãi chết hoài không bỏ được!

Lúc bấy giờ người chủ loại đậu biết điều tệ hại này không thể nói mãi được, liền thay bằng cách ca ngợi dùng tụng trả lời rằng:

Âm thanh phát ra hay vô cùng, Mặt trắng giống như ngọc sáng ngời Sẽ cưới cho ông một cô vợ, Cùng nhau dạo chơi giữa thảo nguyên! Con lừa nghe lời nói êm dịu yêu thương, Liền tiếp tục nói tụng rằng: Tôi có thể mang tám hộc, Một ngày đi được sáu trăm dặm Bà la môn xin ông nên biết, Vì nghe cưới vợ nên hoan hỷ.

Tụng rằng:

Tánh tình êm dịu đáng yêu, Hiền ngu đều thích gần gũi Tình ý tham lam thô lỗ, Người và vật đều tránh xa Ngoài làm trái thường sửa đổi, Trong thuận theo luôn phòng ngự Nêu cao tên tuổi muôn đời, Tồn tại mãi mãi ngàn năm.