Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Phan-Dinh-Gioi-Han-Giua-Thien-Va-Tinh

* Thiền và Tịnh lý vốn không hai. Nếu luận về Sự Tu thì tướng trạng [của hai pháp này] khác xa nhau. Thiền nếu chẳng triệt ngộ, triệt chứng sẽ chẳng thể siêu xuất sanh tử. Vì thế, tổ Quy Sơn nói: “Do chánh nhân đốn ngộ sẽ dần dần thoát trần. Nếu đời đời bất thoái sẽ quyết định có lúc thành Phật”. Ngài còn nói: “Sơ tâm do duyên đốn ngộ tự tánh, nhưng vẫn chưa thể diệt sạch ngay tức khắc tập khí trong bao kiếp từ vô thỉ. Vì thế phải dạy họ trừ sạch nghiệp thức hiện đang lưu chuyển”.

Ngài Hoằng Biện nói: “Đốn ngộ tự tánh thì [sở ngộ] giống hệt chư Phật, nhưng chưa thể trừ sạch ngay được vô thỉ tập khí, nên phải tốn công đối trị mới hòng thuận tánh khởi dụng. Như người ăn cơm, chẳng thể ăn một miếng liền no ngay được!” Ngài Trường Sa Sầm nói: “Thiện tri thức trong thiên hạ chưa chứng được quả Niết Bàn là vì công đức chẳng bằng chư thánh vậy!” Vì thế, Ngũ Tổ Giới sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh thân sau làm Lỗ Công. Cổ kim tông sư triệt ngộ nhưng chưa triệt chứng phần nhiều đều như vậy. Ấy là do chỉ cậy vào tự lực, chẳng cầu Phật gia bị, hễ Hoặc nghiệp còn mảy may chưa tận sẽ nhất định chẳng thể thoát khỏi sanh tử được!

Về phần Tịnh Độ, hễ đầy đủ ba thứ Tín – Hạnh – Nguyện liền có thể đới nghiệp vãng sanh. Một khi đã vãng sanh sẽ vĩnh viễn thoát khỏi sanh tử. Bậc ngộ chứng sẽ mau đạt tới bậc Bổ Xứ, người chưa ngộ cũng sẽ chứng địa vị A Bệ Bạt Trí. Bởi thế, Hoa Tạng hải chúng đều nguyện vãng sanh; những bậc tri thức trong Tông, trong Giáo cùng sanh Tịnh Độ. Rõ ràng là do cậy vào Phật lực kiêm thêm cái tâm khẩn thiết nên được cảm ứng đạo giao; do vậy, chóng thành Chánh Giác.

Xét tình thế hiện tại, đừng quan tâm tới các Thiền lục nữa, cứ chuyên tu Tịnh nghiệp, dùng cái tâm chẳng nhiễm mảy trần để chuyên trì thánh hiệu vạn đức hồng danh. Niệm ra tiếng hoặc niệm thầm, chẳng tạp, chẳng gián đoạn sao cho niệm khởi từ tâm, tiếng thấu vào tai, từng chữ phân minh, từng câu chẳng loạn. Lâu ngày chầy tháng, tự thành một phiến, tự chứng Niệm Phật tam muội, tự biết Tây phương tông phong. Đấy là dùng công phu “phản văn tự tánh” (xoay trở lại nghe nơi tự tánh) của Quán Âm để tu tịnh nghiệp “nhiếp trọn sáu căn, tịnh niệm tiếp nối” của Thế Chí, tuy là Tịnh nhưng chính là Thiền, còn gì hay khéo hơn!

* Người tu Thiền Định (chỉ tứ thiền, bát định) và người tham Thiền chỉ cậy vào tự lực, chẳng cầu Phật gia bị. Vì thế lúc công phu đắc lực, chân vọng chống cự nhau, thường có các thứ cảnh giới huyễn hoặc xuất hiện, huyễn hoặc biến mất! Ví như lúc trời mưa dầm sắp tạnh, mây dầy bị xé toạc, chợt thấy ánh mặt trời chỉ trong khoảng khắc, biến hóa bất trắc. Nếu chẳng phải là người thật sự có đạo nhãn sẽ chẳng thể phân biệt biết rõ tất cả những cảnh giới ấy. Nếu tưởng lầm đó chính là dấu hiệu [chứng tỏ mình chứng đắc] sẽ bị ma dựa phát cuồng, không sao chữa được!

Người niệm Phật dùng lòng tín nguyện chân thành, thiết tha, trì vạn đức hồng danh ví như mặt trời rực rỡ giữa hư không, đi trên đường lớn của vua, chẳng những quỷ mị vọng lượng biến mất tăm tích, ngay cả những ý niệm ngoắt ngoéo, sai trái cũng chẳng sanh từ đâu được. Suy đến cùng cực, chẳng qua là: Niệm đến mức công thuần, lực tận thì toàn tâm là Phật, toàn Phật là tâm, tâm – Phật bất nhị, tâm – Phật như một mà thôi! Chỉ sợ con người chẳng biết đến hạnh ấy, lý ấy, nên chẳng thể xứng hợp ý nguyện phổ độ chúng sanh của Phật; chứ phải đâu là bí mật chẳng truyền, chỉ truyền riêng cho mình ông ư? Nếu có những “diệu quyết” khẩu truyền kín đáo thì đấy chính là tà ma ngoại đạo, chứ nào phải là Phật pháp!

* Hòa Thượng Pháp Tràng sẵn đủ linh căn từ trước, thoạt đầu là bậc chân nho, sau thành bậc chân tăng; có thể nói là chẳng uổng công đọc sách học đạo vậy! Đời có bậc chân nho thì mới có bậc chân tăng. Những hạng vô lại xuất gia thảy đều là ma vương ngoại đạo phá hoại Phật pháp vậy! Ngữ lục của Ngài (Pháp Tràng) thật là thống khoái, thẳng chóng, mở toang tự tâm con người, rất nên khắc in lưu thông để làm pháp bảo nhà Thiền. Thế nhưng, Ngài chỉ phát huy đạo lý “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”; chúng ta chuyên tu Tịnh nghiệp, đừng nên so đo, đoán mò lời Ngài đến nỗi đánh mất lợi ích cả hai bên vậy. Chẳng thể chẳng biết điều này.

Tông gia (Thiền tông) chỉ đề xướng bổn phận, những thứ khác đều chẳng thèm xiển dương. Việc tu nhân đạt quả, đoạn Hoặc chứng chân của nhà Thiền đều là ngầm tự tu trì. Những kẻ đứng ngoài thấy nhà Thiền chẳng đề xướng những đạo lý tu chứng ấy, bèn cho rằng Tông gia hoàn toàn chẳng dùng đến những pháp đó. Đấy là báng Tông, lẫn báng Phật, báng Pháp vậy!

* Nên biết rằng: trong hết thảy pháp môn đức Phật đã nói, đều phải đoạn Hoặc chứng Chân thì mới có thể liễu sanh thoát tử, tuyệt đối chẳng có chuyện chưa đoạn sạch Hoặc mà liễu thoát được! Với pháp môn Niệm Phật, nếu người vãng sanh đã đoạn Hoặc nghiệp thì sẽ mau chứng Pháp Thân, người tuy còn đủ Hoặc nghiệp mà vãng sanh thì cũng đã vượt lên địa vị thánh nhân. Một đằng hoàn toàn cậy vào tự lực, một đằng hoàn toàn nhờ vào Phật lực kiêm thêm tự lực.

Điều thứ hai, [sự tu trì] khó dễ thật là một trời một vực. Thường có kẻ thông minh, đọc sách Thiền qua quít, hiểu chút vị Thiền, bèn toan lấy Thiền làm mạng, học đòi làm bậc cao nhân thông suốt, nhưng toàn là hạng chẳng biết Thiền lẫn Tịnh đến nơi đến chốn, cứ lầm tưởng mình là hạng tôn quý, đại căn. Tuyệt đối chớ nên bắt chước theo thứ tri kiến như thế. Bắt chước theo đó, chỉ e trải kiếp số như vi trần vẫn chẳng mong gì được liễu sanh thoát tử cả!

* “Quyền” nghĩa là Như Lai tùy thuận theo căn cơ của chúng sanh mà đặt bày phương tiện. “Thật” nghĩa là nói đến những nghĩa lý do chính tự tâm đức Phật chứng được. “Đốn” là chẳng cần đến thứ tự, nhanh thẳng, mau lẹ, nhất siêu trực nhập. “Tiệm” nghĩa là tấn tu dần dần theo thứ tự, chứng nhập dần dần, phải trải nhiều kiếp, nhiều đời mới đích thân chứng được Thật Tướng.

Người tham Thiền cho rằng pháp Tham Thiền là pháp “chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật”. Cố nhiên, pháp này thật sự là pháp Ðốn, nhưng họ chẳng biết rằng: Tham Thiền dù đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh thì cũng mới chỉ thấy được đức Phật lý tánh sẵn có ở ngay trong tâm này! Nếu là căn tánh đại Bồ Tát thì vừa ngộ liền chứng, tự có thể mãi mãi thoát khỏi luân hồi, vượt xa tam giới. Từ đấy, dùng thượng cầu hạ hóa làm nền tảng để trang nghiêm phước và trí.

Xét ra, trong trăm ngàn người đại triệt đại ngộ chỉ được một hai vị thuộc vào căn tánh này. Còn như những kẻ căn khí hơi kém hơn, dù có thể diệu ngộ nhưng chưa thể đoạn trừ Kiến Tư Hoặc thì vẫn phải thuộc trong tam giới, thọ sanh thọ tử. Đã phải thọ sanh tử thì từ ngộ thành mê là nhiều, từ ngộ trở thành ngộ lại ít. Như vậy, tuy pháp này thực sự là viên đốn, nhưng nếu chẳng phải đúng người thì cũng chẳng thật sự được lợi ích thật nhanh chóng, nên nó cũng trở thành pháp Quyền Tiệm mà thôi. Vì sao vậy? Do cậy vào Tự Lực; nếu Tự Lực mười phần đầy đủ thì họa may sẽ được như thế; còn như chỉ hơi thiếu chút phần, sẽ chỉ ngộ được lý tánh nơi cửa miệng, chẳng thể đích thân chứng được lý tánh. Hiện thời, bậc đại triệt đại ngộ còn khó có được mấy người, huống là người chứng được điều mình đã ngộ!

Một pháp Niệm Phật thông trên suốt dưới, vừa là Quyền vừa là Thật, vừa Tiệm vừa Đốn, chẳng thể dùng giáo lý tầm thường phán định được. Trên đến bậc Đẳng Giác Bồ Tát, dưới đến chủng tánh A Tỳ đều cùng nên tu tập (do đấy nói là “thông trên suốt dưới”). Như Lai vì chúng sanh thuyết pháp chỉ nhằm làm cho chúng sanh liễu sanh thoát tử. Trong các pháp môn khác, bậc thượng căn có thể liễu sanh thoát tử ngay trong đời này, còn hạ căn bao kiếp khó lòng liễu được! Chỉ mỗi mình pháp này, chẳng cần biết là chủng tánh, căn cơ nào, cũng đều có thể vãng sanh Tây Phương ngay trong đời này, hễ vãng sanh liền liễu sanh thoát tử. Pháp thẳng chóng như thế há có thể gọi là Tiệm ư?

Chỉ do căn cơ [được hóa độ bởi pháp này] chẳng giống với căn cơ của các pháp viên đốn thông thường nên pháp này tựa hồ là Tiệm, nhưng oai lực của pháp môn này phát xuất từ thệ nguyện muốn cho những căn cơ hạ liệt ấy đều mau chóng hưởng được lợi ích lớn của đức Như Lai. Lợi ích ấy nằm ở chỗ cậy vào Phật từ lực. Phàm những người giảng Thiền nếu chưa nghiên cứu kỹ Tịnh tông, chưa có ai không coi pháp này là thiển cận rồi khinh thường. Nếu nghiên cứu kỹ Tịnh tông ắt sẽ cạn kiệt lòng thành, tận hết sức lực hoằng dương, há nào chấp mãi vào những lý luận Quyền – Thật, Tiệm – Đốn để tự mình lầm, làm người khác lầm nữa ư?

* Nói đến Thủ – Xả (lấy – bỏ) là ước trên Thật Nghĩa rốt ráo mà nạn (“nạn” tức là cật vấn, bắt bẻ), chẳng biết rằng: không Thủ không Xả rốt ráo chỉ là chuyện sau khi đã thành Phật! Nếu chưa thành Phật, còn đang trong giai đoạn “đoạn Hoặc chứng Chân” thì đều thuộc về Thủ – Xả cả! Đã chấp nhận chuyện thủ – xả “đoạn Hoặc chứng Chân”, sao lại chẳng chấp nhận chuyện thủ – xả “bỏ Đông lấy Tây, lìa cấu giữ tịnh”?

Đối với pháp Tham Thiền thì thủ – xả đều là sai, nhưng đối với một pháp Niệm Phật, thủ – xả lại là đúng. Một đằng chuyên suy xét tự tâm, một đằng kiêm nhờ vào Phật lực. Kẻ kia chẳng xét đến duyên do của từng của pháp môn, lầm đem pháp Tham Thiền phá pháp Niệm Phật; vậy là hiểu lầm ý mất rồi!

Vô thủ – xả vốn là đề hồ, nhưng niệm Phật mà cũng muốn không thủ – xả thì không thủ – xả bèn thành thuốc độc! Mùa Hạ dùng Cát Căn 1, mùa Đông khoác áo Cừu, khát uống, đói ăn, chẳng sai trái gì, cũng chẳng thể cố chấp được! Chỉ cốt sao chọn lấy điều thích nghi thì được lợi ích chẳng bị trở ngại gì!

* Coi “bỏ Đông lấy Tây” là sanh diệt tức là chẳng biết rằng “chấp Đông phế Tây” chính là đoạn diệt! Chưa chứng Diệu Giác, có ai là không lấy – bỏ? Tam kỳ 2 luyện hạnh, trăm kiếp tu nhân, thượng cầu, hạ hóa, đoạn Hoặc chứng Chân, không sự nào chẳng phải là lấy – bỏ đó sao? Phải biết rằng: đức Như Lai muốn cho hết thảy chúng sanh mau chứng Pháp Thân và Tịch Quang cho nên Ngài mới đặc biệt khuyên trì danh hiệu Phật, cầu sanh Tây Phương.

* Một chuyện Tham Thiền nói dễ dàng sao! Cổ nhân như ngài Triệu Châu Thẩm thiền sư, xuất gia từ nhỏ, đến hơn tám mươi tuổi vẫn hành cước, nên mới có bài tụng rằng:

Triệu Châu bát thập do hành cước,

Chỉ vị tâm đầu vị tiễu nhiên.

(Triệu Châu tám chục còn hành cước,

Do bởi cõi lòng chửa lặng không!)

Ngài Trường Khánh ngồi rách bảy cái bồ đoàn rồi mới khai ngộ. Ngài Dũng Tuyền phải nhọc nhằn hết bốn mươi năm. Ngài Tuyết Phong ba lượt lên gặp ngài Đầu Tử, chín lần lên Động Sơn. Họ là bậc đại Tổ Sư đại triệt, đại ngộ mà còn phải gian nan đến thế. Lũ ma con kia mới nghe qua ma thuyết đều được khai ngộ ngay, vậy thì những vị Tổ Sư vừa nói trên đây có xách giày cho chúng cũng không đáng sao?

* Những lời “chẳng chấp trước”… về Lý thì đúng, nhưng về Sự thì chẳng phải là điều hạng phàm phu sát đất có thể làm nổi! Suốt ngày mặc áo, ăn cơm, rồi vênh váo mình bất chấp đói lạnh, bảo kẻ suốt ngày bụng rỗng tuếch, chẳng được chén nước, hạt cơm, đói lả gần chết rằng: “Tôi coi gan rồng tủy phượng hệt như uế vật, nghĩ đến là muốn ói, huống hồ là nuốt xuống!” Toàn là nói suông như nhau thôi!

Nay kẻ tham Thiền nếu chẳng hiểu giáo lý thì cái Không giải thoát đó phần nhiều trở thành bệnh cho họ. Còn như không cảnh hiện tiền khi tịnh tọa, lắng ý, thì bất quá là do [ý niệm] lặng trong, chế ngự được vọng nên ngẫu nhiên huyễn cảnh phát hiện đó thôi! Nếu tưởng lầm đấy chính là dấu hiệu chứng tỏ mình chứng đắc, bèn sanh lòng mừng rỡ lớn lao thì sẽ mất trí thành cuồng, Phật cũng khó cứu được!

Nếu may mắn suy xét kỹ, chẳng chấp trước, buông bỏ huyễn vọng, chợt quán thông các pháp môn thì đấy mới là: đi trong chốn gai góc đã lâu, chợt đến chỗ khoảng khoát. Người đời mạt căn cơ hèn kém, tri thức hiếm hoi, nếu chẳng nhờ vào Phật từ lực chuyên tu Tịnh nghiệp, chỉ cậy vào tự lực tham cứu Thiền tông thì minh tâm kiến tánh, đoạn Hoặc chứng chân thành công hiếm có mấy ai, còn hạng tưởng huyễn là chân, lấy mê làm ngộ, ma dựa phát cuồng thật nhiều lắm! Vì thế, các vị Vĩnh Minh, Liên Trì v.v… quán sát căn cơ đương thời, cực lực chủ trương pháp môn Tịnh Độ.

* Thiền tức là Chân Như Phật Tánh trong bổn tâm chúng ta, Tông môn gọi là “bổn lai diện mục trước lúc cha mẹ sanh ra”. Tông môn chẳng nói toạc ra, cốt sao người tham cứu tự hiểu lấy, nên mới nói như vậy. Chứ thật ra nó là cái tâm thể thuần chân, không Năng, không Sở, vừa Tịch vừa Chiếu, ly niệm linh tri (“ly niệm linh tri” là không có ý niệm suy nghĩ gì, nhưng mọi cảnh hiện hữu đều hiểu rõ cả).

Tịnh Độ là Tín Nguyện Trì Danh cầu sanh Tây Phương, chứ chẳng phải chỉ riêng “duy tâm Tịnh Độ, tự tánh Di Đà!” “Có Thiền” là cực lực tham cứu đến mức niệm lặng, tình mất, thấy thấu tột “bổn lai diện mục trước khi cha mẹ sanh ra”, minh tâm kiến tánh. “Có Tịnh Độ” là chân thật phát Bồ Đề tâm, sanh tín, phát nguyện, trì danh hiệu Phật cầu sanh Tây Phương. [Nói] Thiền và Tịnh Độ chỉ là ước về Giáo, ước theo Lý [mà nói].

“Có Thiền, có Tịnh Độ” là ước về căn cơ, ước theo mặt tu hành. Giáo Lý luôn luôn như thế, Phật chẳng thể tăng, phàm chẳng thể giảm. Ước theo căn cơ để tu hành thì phải y giáo khởi tu, tu hành đến cùng cực để chứng lý, chứ thật sự chẳng có gì khác cả!

Thứ hai là văn tuy tương tự, nhưng thật ra khác biệt rất lớn. Hãy nên hiểu kỹ càng, đừng bộp chộp. Nếu tham thiền chưa ngộ, hoặc ngộ chưa triệt để, đều chẳng thể gọi là “có Thiền”. Nếu niệm Phật nhưng thiên chấp duy tâm, lại không tín nguyện, hoặc có tín nguyện nhưng chẳng chân thật, thiết tha, mà chỉ hời hợt, hờ hững, thực hành qua quít, hoặc hạnh tuy tinh tấn nhưng tâm luyến cảnh ma, hoặc cầu đời sau sanh vào nhà phú quý hưởng thú vui ngũ dục, hoặc cầu sanh lên trời hưởng phước lạc trời, hoặc cầu đời sau xuất gia làm tăng nghe một hiểu được cả ngàn, đắc đại tổng trì, hoằng dương đạo pháp phổ lợi chúng sanh, đều chẳng được gọi là “có Tịnh Độ”!

* “Có Thiền, có Tịnh Độ; khác nào cọp mọc sừng, hiện đời làm thầy người, đời sau làm Phật, Tổ” là người triệt ngộ Thiền Tông, minh tâm kiến tánh, lại còn thâm nhập Kinh tạng, biết hết các pháp môn Quyền, Thật của Như Lai, nhưng trong các pháp môn lại chỉ chọn lấy một pháp Tín Nguyện Niệm Phật để tự lợi, lợi người làm chánh hạnh tu tập. Bậc thượng phẩm thượng sanh đọc tụng kinh Đại Thừa, hiểu Đệ Nhất Nghĩa đã nói trong Quán kinh chính là hạng người này.

Người ấy có đại trí huệ, có đại biện tài, ma tà ngoại đạo nghe tên vỡ mật, như hổ đội sừng oai mãnh khôn sánh! Có ai đến cầu học bèn tùy cơ thuyết pháp: nên dùng Thiền Tịnh song tu để tiếp độ bèn dùng Thiền Tịnh song tu để tiếp độ; nên dùng chuyên tu Tịnh Độ để tiếp độ bèn dùng chuyên tu Tịnh Độ để tiếp độ. Bất luận là thượng, trung, hạ căn, không ai chẳng được lợi ích; há chẳng phải là đạo sư của trời người ư?

Đến lúc lâm chung được Phật tiếp dẫn, vãng sanh thượng phẩm, trong khoảng khảy ngón tay chứng Vô Sanh Nhẫn, tệ nhất cũng chứng được Sơ Trụ. Cũng có người đốn siêu các địa vị, đạt đến Đẳng Giác. Bậc Sơ Trụ trong Viên Giáo còn có thể hiện thân làm Phật trong trăm cõi, huống là những địa vị sau đó, càng cao càng thù thắng, cho đến địa vị thứ bốn mươi mốt là Đẳng Giác! Vì thế nói là: “Đời sau làm Phật, Tổ!”

* “Không Thiền, có Tịnh Độ; vạn người tu vạn về; nếu được thấy Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ” là có người tuy chưa minh tâm kiến tánh, nhưng quyết chí cầu sanh Tây Phương. Do trong kiếp xưa, Phật từng phát đại thệ nguyện nhiếp thọ chúng sanh như mẹ nhớ con. Nếu chúng sanh thật sự có thể như con nhớ mẹ, chí thành niệm Phật sẽ cảm ứng đạo giao, liền được nhiếp thọ. Người tận lực tu Định Huệ cố nhiên được vãng sanh, nhưng kẻ ngũ nghịch thập ác, lâm chung bị sự khổ bức bách, phát lòng hổ thẹn lớn lao, xưng niệm danh hiệu Phật hoặc tới mười tiếng, hoặc chỉ một tiếng rồi liền lâm chung, cũng đều được Phật hóa thân tiếp dẫn vãng sanh. Chẳng phải là “vạn người tu, vạn người về” hay sao?

Kẻ ấy tuy niệm Phật chẳng bao nhiêu, nhưng do cực kỳ mãnh liệt nên đạt được lợi ích lớn lao như thế, chớ nên so sánh nhiều ít với những kẻ niệm Phật hời hợt, qua loa! Đã sanh về Tây Phương, thấy Phật nghe pháp, dù có nhanh chậm bất đồng, nhưng đều đã cao dự dòng thánh, vĩnh viễn chẳng thoái chuyển, tùy theo căn tánh cạn hay sâu, là Tiệm hay Đốn mà chứng các quả vị. Đã được chứng quả, cần chi phải nói đến khai ngộ nữa! Vì thế nói: “Nếu được thấy Di Đà, lo gì chẳng khai ngộ!”

* “Có Thiền không Tịnh Độ, mười người chín chần chừ, ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó”: Người tuy triệt ngộ Thiền tông, minh tâm kiến tánh, nhưng Kiến Tư phiền hoặc chẳng dễ đoạn trừ, phải qua nhiều duyên rèn luyện để trừ sạch không còn sót gì mới có thể thoát khỏi phần đoạn sanh tử. Với kẻ chẳng đoạn được chút gì thì chẳng cần bàn đến nữa! Dù cho đoạn đến mức còn một mảy phiền não chưa trừ sạch thì vẫn hệt như cũ: khó tránh nổi luân hồi lục đạo! Biển sanh tử sâu thăm thẳm, nẻo Bồ Đề xa vời vợi, còn chưa về được nhà đã mạng chung. Trong mười người đại triệt đại ngộ, chín người đã như thế; cho nên nói “mười người chín chần chừ” (thập nhân cửu ta lộ).

Ta là “ta đà”, thông thường nói là “đảm các” (chần chừ). “Ấm cảnh” là “trung ấm thân cảnh”, tức là các cảnh hiện ra bởi các nghiệp lực thiện ác trong đời này và bao kiếp. Khi cảnh này hiện, trong khoảng chớp mắt sẽ theo nghiệp lực thiện hay ác nào mạnh mẽ nhất đi thọ sanh trong đường thiện hay ác, chẳng mảy may tự chủ được; như người mắc nợ, chủ nợ nào mạnh sẽ lôi đi. Tâm tình lắm mối, đặt nặng nơi nào sẽ nghiêng về đó. Ngũ Tổ Giới tái sanh làm Tô Đông Pha, Thảo Đường Thanh lại sanh làm Lỗ Công, họ còn là căn cơ bậc thượng đấy nhé! Vì thế nói: “Ấm cảnh nếu hiện tiền, chớp mắt đi theo nó!”

Chữ Ấm có nghĩa là ngăn che, ý nói: do nghiệp lực này ngăn che khiến chân tánh chẳng thể hiển hiện được. Có kẻ cho rằng “ta đà” nghĩa là lầm lạc, “ấm cảnh” là cảnh [hiển hiện bởi] ngũ ấm ma, toàn là do chẳng hiểu chữ Thiền và chữ Có nên mới nói hồ đồ như thế. Lẽ nào bậc đại triệt đại ngộ mười người hết chín kẻ lạc lối, chạy theo cảnh ngũ ấm ma bị ma dựa phát cuồng ư? Phàm những kẻ bị ma dựa phát cuồng toàn là hạng tăng thượng mạn chẳng biết giáo lý, chẳng rõ tự tâm, tu mù luyện quáng đó thôi, sao lại gán cho bậc đại triệt đại ngộ là chẳng biết tốt xấu vậy? Điều này quan hệ rất lớn, chẳng thể không biện định rõ!

* “Không Thiền, không Tịnh Độ; giường sắt và cột đồng, vạn kiếp cùng ngàn đời, không một ai nương dựa”. Có kẻ cho rằng câu “không Thiền, không Tịnh Độ” chỉ kẻ vùi đầu tạo nghiệp, chẳng tu thiện pháp, thật lầm lẫn quá!

Pháp môn vô lượng, nhưng chỉ có Thiền và Tịnh Độ phù hợp với các căn cơ nhất. Kẻ nào chưa triệt ngộ, lại chẳng cầu vãng sanh, hời hợt, qua quít tu các thiện pháp khác. Đã chẳng thể cân bằng Định Huệ, đoạn Hoặc chứng Chân, lại chẳng cậy vào Phật lực để đới nghiệp vãng sanh; do đã tạo ác nghiệp, khó trốn khỏi ác báo. Một khi hơi thở ra chẳng trở vào, liền đọa địa ngục, rõ ràng là trải kiếp dài lâu nằm ngồi, ôm ấp giường sắt, trụ đồng để đền trả các thứ ác nghiệp: tham lam thanh sắc, sát sanh hại mạng v.v… Chư Phật, Bồ Tát tuy rủ lòng thương xót, nhưng họ bị ác nghiệp chướng ngăn che nên chẳng thể được lợi ích.

Người xưa nói: “Người tu hành nếu không chánh tín, cầu vãng sanh Tây Phương, tu lung tung các điều thiện khác thì gọi là oan gia đời thứ ba” chính là nói đến tình cảnh này. Bởi lẽ, do đời này tu hành, đời sau hưởng phước. Cậy phước làm ác ắt bị đọa lạc. Tạm vui trong đời này, khổ mãi trong cả kiếp dài lâu. Ví như nghiệp địa ngục tiêu hết, lại chuyển sanh làm súc sanh, muốn lại được thân người, khó vô cùng khó!

Vì thế, đức Phật dùng tay nhón lấy chút đất, hỏi A Nan: “Đất trong tay ta nhiều hay đất trong đại địa nhiều?” A Nan bạch Phật: “Đất trong đại địa nhiều!” Phật dạy: “Được thân người như đất trong tay ta, mất thân người như đất trong đại địa”. Nói “muôn kiếp và ngàn đời, không một ai nương dựa” là do bị ràng buộc bởi vần điệu của bài kệ nên chỉ nói thiển cận như thế.

Hết thảy pháp môn chuyên cậy vào tự lực, pháp môn Tịnh Độ chuyên cậy vào Phật lực. Hết thảy các pháp môn phải hết sạch Hoặc nghiệp mới có thể liễu sanh tử. Pháp môn Tịnh Độ đới nghiệp vãng sanh liền dự vào dòng Thánh. Đại sư Vĩnh Minh sợ thế gian chẳng biết nên soạn riêng bài Liệu Giản này để chỉ dạy cho đời sau, có thể nói là “chiếc bè báu nơi bến mê, là người dẫn lối nơi đường hiểm!” Tiếc là mọi người trong thế gian đọc lướt qua, chẳng chịu nghiên cứu đến cùng tột, chẳng phải là đồng phận ác nghiệp xui khiến đến nỗi thành như thế chăng?

* Đạt Ma từ Tây qua, truyền Phật tâm ấn, chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật. Nhưng cái để thấy, để thành ấy chính là thiên chân Phật tánh có sẵn ngay nơi tâm chúng ta, [Ngài dạy như thế] để con người trước hết biết được cái gốc rồi tự dựa vào đó mà tấn tu hết thảy các pháp tu chứng cho đến khi nào tu được cái không thể tu, chứng được cái không thể chứng mới thôi! Chứ chẳng có nghĩa là vừa ngộ liền đầy đủ cả phước lẫn huệ, viên mãn rốt ráo Phật đạo Bồ Đề! Giống như vẽ rồng điểm nhãn để [người nghe] tự mình được thọ dụng.

Do vậy, Thiền tông phát triển rực rỡ, chói ngời nơi Chấn Đán (Trung Hoa), đạo “tâm này chính là Phật”, pháp “phi tâm phi Phật” lan khắp hoàn vũ. Người thiên cơ sâu đối với mỗi cơ, mỗi cảnh liền biết đầu mối, liền phun châu nhả ngọc, chẳng vướng lối sáo mòn, vào sống ra chết trọn chẳng ngăn ngại, sợ hãi, được đại giải thoát, đắc đại tự tại. Nếu căn cơ hơi kém hơn, dù đại triệt, đại ngộ, nhưng phiền não tập khí chưa thể trừ sạch thì vẫn là người trong sanh tử y như cũ. Xuất thai cách ấm3 đa phần bị mê. Bậc đại ngộ còn như thế, huống kẻ chưa ngộ ư? Vì thế phải chuyên tâm dốc chí vào pháp môn Tịnh Độ cậy vào Phật từ lực mới là kế sách ngàn phần ổn thỏa, vạn phần thích đáng vậy!

* Trong Luật, Giáo, Thiền Tông, trước hết phải hiểu sâu giáo lý rồi mới y giáo tu hành. Tu hành công sâu, đoạn Hoặc chứng Chân mới thoát khỏi sanh tử. Nếu chẳng hiểu giáo lý, bèn là tu mù luyện quáng. Nếu không, được chút ít đã cho là đủ bèn bị ma dựa phát cuồng. Dù cho hiểu giáo lý, công tu hành sâu xa, vẫn phải đoạn Hoặc, nếu còn chút mảy may nào chưa đoạn sạch sẽ vẫn y như cũ, chẳng thể thoát khỏi cảnh khổ được! Mãi đến khi Hoặc nghiệp hết sạch mới có thể thoát ly sanh tử, nhưng vẫn còn cách địa vị Phật rất xa, phải trải bao kiếp tấn tu mới viên mãn được Phật quả.

Ví như dân hèn sanh ra đã thông minh, đọc sách, học văn nhiều năm khó nhọc, học vấn đã thành, thi đậu làm quan. Do có tài năng lớn, từ chức quan nhỏ được thăng cấp dần đến khi làm Tể Tướng, quan vị cực phẩm nhưng không thể nào lên cao hơn được nữa! Địa vị bậc nhất trong đám quần thần, nhưng so với thái tử, sang hèn khác nhau một trời, một vực, huống hồ so với hoàng đế? Suốt đời làm bầy tôi, tuân hành lệnh vua, cúc cung tận tụy giúp vua cai trị quốc gia. Nhưng cái địa vị tể tướng ấy thật chẳng dễ dàng gì! Cả nửa đời siêng năng, vất vả, ra sức nhẫn nại. Cho đến cuối cùng cũng chẳng hơn được thế. Còn kẻ học vấn, tài năng sút kém đôi chút chẳng đạt được như thế thì có đến trăm, ngàn, vạn, ức người! Đấy là tự lực.

Học vấn tài năng ví như hiểu sâu giáo lý, y giáo tu hành. Địa vị đến bậc tể tướng ví như công tu hành sâu, đoạn Hoặc chứng Chân. “Chỉ có thể xưng là Thần (bầy tôi), chẳng dám xưng là vua” ví như tuy ra khỏi sanh tử, vẫn chưa thành Phật. “Những kẻ học vấn chẳng đủ, chẳng thể đạt được như thế rất nhiều” ví như rất nhiều kẻ chưa đoạn hết Hoặc, chẳng thể thoát khỏi biển khổ sanh tử.

* Trong pháp môn Niệm Phật dù chẳng hiểu giáo lý, chưa đoạn Hoặc nghiệp, chỉ cần tín nguyện trì danh cầu sanh Tịnh Độ, lúc lâm chung, quyết định được Phật đích thân tiếp dẫn vãng sanh Tây Phương. Đã sanh về Tây Phương, gặp Phật nghe pháp, ngộ Vô Sanh Nhẫn, liền ngay trong một đời ấy, quyết định bổ vào địa vị Phật. Đấy là Phật lực lại kiêm tự lực, nghĩa là: tín nguyện trì danh là tự lực, tự lực ấy có thể cảm được đức Phật. Do thệ nguyện nhiếp thọ, Phật rủ lòng từ tiếp dẫn, đấy là Phật lực có thể ứng đến ta. Do cảm ứng đạo giao bèn được như thế.

Nếu như hiểu sâu giáo lý, đoạn Hoặc chứng Chân thì phẩm vị vãng sanh càng cao, viên thành Phật đạo càng nhanh. Bởi thế, Văn Thù, Phổ Hiền, Hoa Nghiêm hải chúng, Mã Minh, Long Thọ, tổ sư các tông đều nguyện vãng sanh. Ví như thác sanh vào hoàng cung, vừa ra khỏi thai mẹ đã quý hiển át cả quần thần. Đấy là do thế lực của vua. Chờ đến khi khôn lớn, học vấn tài năng mỗi mỗi đều đầy đủ cả sẽ có thể tiếp nối ngôi báu, bình trị thiên hạ. Hết thảy quần thần phải nghe theo chiếu dụ. Đấy chính là vương lực, tự lực cùng có.

Pháp môn Niệm Phật cũng giống như thế: chưa đoạn Hoặc nghiệp, nương Phật từ lực vãng sanh Tây Phương liền thoát sanh tử, giống như thái tử mới sanh đã quý hiển át cả quần thần. Khi đã vãng sanh, Hoặc nghiệp tự đoạn, quyết định bổ vào địa vị Phật, giống như thái tử khôn lớn kế thừa ngôi báu, bình trị thiên hạ.

Thêm nữa, bậc đã đoạn Hoặc nghiệp như Mã Minh, Long Thọ, tổ sư các tông, bậc đã chứng địa vị Bổ Xứ như Văn Thù, Phổ Hiền, Hoa Nghiêm hải chúng đều nguyện vãng sanh, giống như trước kia trấn giữ chốn biên thùy hẻo lánh, chẳng thể nối ngôi, nay sống trong Đông Cung, chẳng bao lâu sẽ lên ngôi báu.

* Tâm tánh chúng ta hệt như chư Phật, chỉ vì mê trái nên luân hồi chẳng ngơi. Như Lai xót thương tùy cơ thuyết pháp khiến cho hết thảy hàm thức đều biết đường về nhà. Pháp môn tuy nhiều, trọng yếu chỉ có hai môn Thiền và Tịnh là dễ liễu thoát nhất. Thiền chỉ có tự lực, Tịnh kiêm Phật lực.

So sánh hai môn, Tịnh khế cơ nhất, như người vượt biển phải nhờ sức thuyền mới mau đến được bến, thân tâm thản nhiên. Chúng sanh đời mạt chỉ có thể hành nổi pháp này. Nếu không là trái với căn cơ, nhọc nhằn nhưng khó thành. Phát đại Bồ Đề, sanh tín nguyện chân thành, thiết tha, suốt đời kiên trì, chỉ niệm đức Phật. Niệm đến cùng cực, tình kiến mất sạch chính là niệm nhưng vô niệm, diệu nghĩa Thiền – Giáo triệt để hiển hiện; đến khi lâm chung được Phật tiếp dẫn lên ngay thượng phẩm, chứng Vô Sanh Nhẫn. Có một bí quyết, tha thiết bảo ban: “Dốc lòng thành, tận lòng kính” mầu nhiệm, huyền diệu làm sao!

Trích từ: Ấn Quang Đại Sư Gia Ngôn Lục

Từ Ngữ Phật Học
ấm, nhập, giới
Ba yếu tố hiện hữu tạo thành mọi chúng sinh. Ấm là năm ấm (hay năm uẩn), nhập là mười hai nhập, giới là mười tám giới. Năm ấm gồm có: sắc ấm, thọ ấm, tưởng ấm, hành ấm và thức ấm. Mười hai nhập là mười hai mối quan hệ tiếp xúc giữa căn và trần. Khi sáu căn gồm nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, thiệt căn, thân căn và ý căn thiệp nhập với sáu trần gồm hình sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm, sự xúc chạm và các pháp (đối tượng của ý) thì tạo thành sáu nhập là nhãn nhập, nhĩ nhập, tỉ nhập, thiệt nhập, thân nhập và ý nhập, gọi chung là nội lục nhập (sáu nhập bên trong). Khi sáu trần bên ngoài thiệp nhập với sáu căn bên trong thì tạo thành sáu nhập là sắc nhập, thanh nhập, hương nhập, vị nhập, xúc nhập và pháp nhập, gọi chung là ngoại lục nhập (sáu nhập bên ngoài). Mười tám giới tức mười tám chỗ sinh khởi vọng niệm, bao gồm sáu căn ở trong (lục căn nội giới), sáu trần ở ngoài (lục trần ngoại giới) và sáu thức ở khoảng giữa (lục thức trung giới). Sáu thức gồm nhãn thức, nhĩ thức, tỉ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức. Trong Phật học cần có sự phân biệt giữa ý căn (là một trong sáu căn) và ý thức (là một trong sáu thức) với tâm hay tâm thức nói chung, được dùng để chỉ năng lực tinh thần có khả năng kiểm soát cả ý thức và tất cả các thức khác. Vì thế, sự tu tập phải dựa trên nền tảng của tâm thức chứ không phải ý thức.
hoặc
(惑) Mê lầm không hiểu. Chỉ cho trạng thái thân tâm não loạn, hoặc chỉ chung tất cả phiền não làm chướng ngại tâm giác ngộ. Luận Thành duy thức quyển 8 (Đại 31, 43 trung), nói: Sinh tử nối nhau là do hoặc, nghiệp và khổ. Phiền não phát nghiệp, nhuận sinh gọi là Hoặc . Bởi vì chúng sinh mê lầm sự lí, phát khởi nghiệp hữu lậu, tăng trưởng sức mạnh cho Hữu ở vị lai, làm nhân cho sự sinh tử tiếp nối, gọi là Hoặc. Hoặc gần giống với nghĩa Vô minh . Do phiền não kết hợp với nghiệp tướng làm nhân chung cho quả báo luân hồi nên Hoặc và Nghiệp thường đi đôi với nhau.

Trong 12 chi Duyên khởi, Vô minh là Hoặc phát nghiệp, gọi là Đẳng khởi nhân; 2 chi Ái, Thủ là Hoặc nhuận sinh, gọi là Sinh khởi nhân. Do sự tu hành có những giai đoạn khác nhau nên Hoặc có 2 loại là Kiến hoặc và Tu hoặc. Nếu mê lí Tứ đế thì gọi là Kiến hoặc, cũng gọi là Mê lí hoặc; còn mê tất cả sự lí thì gọi là Tu hoặc, cũng gọi là Mê sự hoặc. Trong 10 Tùy miên thì 5 món: Tham, sân, si, mạn, nghi là Tu hoặc; còn 5 món: Thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ kiến và giới cấm thủ kiến thì thuộc về Kiến hoặc. Trong đó, 3 món tham, sân, mạn của Tu hoặc chỉ duyên riêng từng việc mà sinh, không thể duyên khắp các việc trong 3 đời, nên gọi là Tự tướng hoặc. Còn 5 kiến hoặc, nghi và vô minh thì duyên nhiều việc mà sinh, có khả năng trói buộc khắp các việc trong 3 đời, cho nên gọi là Cộng tướng hoặc.

Chương Nhất thừa trong kinh Thắng man chia Hoặc làm 5 loại: Kiến nhất xứ trụ địa, Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa, Hữu ái trụ địa và Vô minh trụ địa. Tức Kiến hoặc là Kiến nhất xứ trụ địa, còn Tu hoặc là Dục ái trụ địa, Sắc ái trụ địa và Hữu ái trụ địa, đồng thời lập riêng Vô minh làm Vô minh trụ địa. So với các trụ địa nói trên, Vô minh trụ địa có sức mạnh nhất. Phẩm Bồ đề trong kinh Vô thượng y quyển thượng cho rằng, Vô minh trụ địa là Hoặc sinh duyên, các hành do Vô minh trụ địa sinh ra là Hoặc sinh nhân, ở đây cũng chia Hoặc làm 2 loại là Phát nghiệp và Nhuận sinh. Ngoài ra, tông Thiên thai lập 3 Hoặc: Kiến tư hoặc là phiền não giới nội (chỉ cho 3 cõi Dục, Sắc, Vô sắc) làm chướng ngại lí Không . Trần sa hoặc là hằng sa tập khí của giới nội và ngoại (ngoài 3 cõi) làm chướng ngại lí Giả , Vô minh hoặc là Hoặc giới ngoại làm mê lí Trung đạo đệ nhất nghĩa đế . Phổ thông đều cho Hoặc và Phiền não là đồng nghĩa, mà Hoặc thì có nghĩa không hiểu, mờ tối, vì thế cũng có thể được xem là tên khác của Vô minh. [X. luận Đại tì bà sa Q.55; luận Câu xá Q.9, Q.20, Q.21; luận Thành duy thức Q.6; luận Thuận chính lí Q.53; Đại thừa nghĩa chương Q.5 phần đầu; Thắng man bảo quật Q.trung phần cuối; Ma ha chỉ quán Q.4 phần trên]. (xt. Phiền Não).
tập khí
(習氣) Phạm,Pàli:Vàsanà. Cũng gọi Phiền não tập, Dư tập, Tàn khí. Gọi tắt: Tập. Do tư tưởng, hành vi(đặc biệt là phiền não) của người ta dấy sinh hằng ngày, rồi huân tập(xông ướp, tập tành) thành những thói quen, hơi hướng sót lại, rớt lại trong tâm người ta, gọi là Tập khí, giống như để hương trong hộp, khi lấy hương ra rồi mà trong hộp vẫn còn mùi thơm. Nói cách nôm na là tất cả ý nghĩa và việc làm của chúng ta đều để lại trong ta những kinh nghiệm và thói quen, đó chính là Tập khí. Trong Phật giáo, từ Tập khí được dùng để ví dụ tuy đã diệt trừ chính thể của phiền não, nhưng vẫn còn hơi hướng của thói quen rớt lại và rất khó diệt trừ. Trong kinh Phật có ghi chép nhiều trường hợp, chẳng hạn như thói quen dâm dục của ngài Nan đà khi còn ở tại gia, thói quen nổi giận của ngài Xá lợi phất và ngài Ma ha ca diếp, thói quen kiêu căng của ngài Tì lăng già bà bạt, thói quen nhún nhảy chơi đùa của ngài Ma đầu bà tư tra, thói quen nhai suốt ngày như trâu của ngài Kiều phạm bát đề... đều là Tập khí; chỉ có đức Phật mới vĩnh viễn đoạn trừ cả chính thể và tập khí của phiền não.Tông Duy thức cho Tập khí là tên khác của chủng tử(hạt giống), là phần khí được huân tập bởi hiện hành, có năng lực sinh ra tư tưởng, hành vi và tất cả các pháp hữu vi được chứa đựng trong thức A lại da. Tập khí lại được chia làm 3 loại là: 1. Danh ngôn tập khí: Chỉ cho các chủng tử nương vào danh ngôn(biểu tượng của lời nói) mà được huân tập thành, là nguyên nhân trực tiếp, làm cho tất cả các pháp hữu vi đều tự sinh. Cũng tức là các chủng tử do khái niệm về danh tướng được huân tập trong thức A lại da mà hình thành. 2. Ngã chấp tập khí: Tập khí(chủng tử)nương vào ngã chấp mà được huân tập thành. Cũng tức là các chủng tử do ngã kiến được huân tập trong thức A lại da mà thành. 3. Hữu chi tập khí: Những chủng tử nghiệp thiện ác do nhân của Tam hữu (sự sống còn trong 3 cõi) huân tập thành. Ngoài ra, khí phần do các thiện căn tích tập được cũng gọi là Tập khí. Như phẩm Li thế gian trong kinh Hoa nghiêm quyển 40 (bản dịch cũ) nói: Bồ tát Đệ thập địa có 10 loại Tập khí: Tập khí Bồ đề tâm (cũng gọi Bản khí), tập khí Thiện căn(cũng gọi Thành hành khí), tập khí Giáo hóa chúng sinh(hạ hóa), tập khí Kiến Phật(thượng kiến), tập khí Ư thanh tịnh độ thụ sinh (thụ sinh), tập khí Bồ tát hạnh(đại hạnh), tập khí Đại nguyện(thập nguyện), tập khí Ba la mật(thập độ), tập khí Xuất sinh bình đẳng pháp(lí trí) và tập khí Chủng chủng phân biệt cảnh giới(lượng tri). Mười loại tập khí này đều vì áp phục và đoạn trừ các phiền não mà tích lũy, huân tập khí phần các thiện hạnh, nên gọi là Tập khí. [X. luận Đại trí độ Q.27; luận Du già sư địa Q.52; luận Thành duy thức Q.8; Thập địa kinh luận Q.11; Câu xá luận quang kí Q.1; Đại thừa nghĩa chương Q.5, phần đầu; Hoa nghiêm kinh sớ Q.53]. (xt. Chủng Tử).
thiền
(禪) Phạm: Dhyàna. Pàli:Jhàna. Cũng gọi Thiền na, Đà diễn na, Trì a na.Hán dịch: Tĩnh lự, Tư duy tu tập, Khí ác, Công đức tùng lâm. Chỉ cho trạng thái định tuệ đồng đều, tâm chuyên chú vào 1 đối tượng nào đó, rất vắng lặng để tư duy một cách sâu sắc, rõ ràng. Thiền là pháp tu chung cho cả Đại thừa, Tiểu thừa, ngoại đạo, phàm phu... nhưng mục đích đạt đến và đối tượng tư duy thì đều khác nhau. Thiền và các thứ định khác gọi chung là Thiền định; cũng có thuyết cho Thiền là 1 loại định, cho nên gọi tu thiền trầm tư là Thiền tư. Cương yếu của việc tu hành Phật đạo là tam học giới, định, tuệ, giữ giới thanh tịnh mới có được sự vắng lặng của thiền định; có được sự vắng lặng của thiền định thì chân trí mới khai phát. Vì thiền định là phương pháp tu hành của Phật giáo, cho nên các kinh luận của Đại thừa cũng như của Tiểu thừa, đều có nói rõ và chủng loại Thiền cũng rất nhiều.

Trong kinh A hàm căn cứ vào việc có hay không có Tầm, Tứ, Hỉ, Lạc(tìm kiếm, dò xét, mừng rỡ, vui vẻ)mà chia Thiền làm 4 loại: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền. Tứ thiền thiên của cõi Sắc là nơi những người tu Tứ thiền sẽ sinh đến; Tứ thiền được tu để cầu sinh về Tứ thiền Thiên gọi là Định tĩnh lự; còn Tứ thiền khi sinh ra đã có, được một cách tự nhiên thì gọi là Sinh tĩnh lự. Lại nữa, Hữu lậu tĩnh lự và Vô lậu tĩnh lự cùng tu lẫn lộn thì gọi là Tạp tu tĩnh lự, luận Câu xá quyển 24 chủ trương đây là pháp tu của A la hán hoặc quả vị Bất hoàn. Trong Đạithừathì Thiền là 1 trong 6 Ba la mật, 1 trong 10 Ba la mật, tức Thiền ba la mật(Thiền định ba la mật, Tĩnh lự ba la mật). Thiền là pháp Bồ tát tu để chứng được thực trí Bát nhã hoặc thần thông. Về tướng tu Thiền ba la mật của Bồ tát và các loại tĩnh lự khác nhau, ta có thể thấy trong các kinh luận, như theo kinh Bồ tát địa trì quyển 6 và luận Du già sư địa quyển 43 thì Thiền ba la mật có 9 tướng sau đây: 1. Tự tính thiền(cũng gọi Tự tính tĩnh lự): Chỉ cho tự tính của tĩnh lự, tứcTâm nhất cảnh tính trong đó tâm hoàn toàn tập trung vào 1 đối tượng duy nhất; hoặc chỉ cho Thiền do quán xét tự tính của tâm mà đạt được. 2. Nhất thiết thiền(cũng gọi Nhất thiết tĩnh lự): Chỉ cho Thiền thu nhiếp hết thảy pháp tự hành hóa tha. 3. Nan thiền(cũng gọi Nan hành tĩnh lự): Loại Thiền khó tu.Vì muốn làm lợi ích cho vô lượng hữu tình mà bỏ niềm vui thiền định, sinh lại cõi Dục, cho đến y chỉ tĩnh lự để chứng ngộvô thượng. 4. Nhất thiết môn thiền(cũng gọi Nhất thiết môn tĩnh lự): Môn là cửa ra vào. Tất cả thiền định đều dùng 4 loạiThiền này làm cửa, từ đó ra và vào. 5. Thiệnnhân thiền(cũng gọi Thiện sĩ tĩnh lự): Thiền không đắm trước niềm vui thiền định, đi đôi với 4 tâm vô lượng. Loại thiền này do các chúng sinh có thiện căn thù thắng tu hành nên gọi là Thiện nhân thiền. 6. Nhất thiết hạnh thiền(cũng gọi Nhất thiết chủng tĩnh lự): Thiền thu nhiếp hết thảy hạnh Đại thừa, cho nên gọi là Nhất thiết hạnh thiền. Thiền này có 13 loại là Thiện thiền, Vô kí hóa hóa thiền, Chỉ phần thiền, Quán phần thiền, Tự tha lợi thiền, Chính niệm thiền, Xuất sinh thần thông lực công đức thiền, Danh duyên thiền, Nghĩa duyên thiền, Chỉ tướng duyên thiền, Cử tướng duyên thiền, Xả tướng duyên thiền và Hiện pháp lạc trụ đệ nhất nghĩa thiền. 7. Trừ phiền não thiền(cũng gọi Toại cầu tĩnh lự): Thiền diệt trừ các thứ khổ não của chúng sinh. 8. Thử thế tha thế lạc thiền(cũng gọi Thử thế tha thế lạc tĩnh lự): Thiền mang lại sự khoái lạc cho tất cả chúng sinh trong hiện tại và vị lai. 9. Thanh tịnh tịnh thiền (cũng gọi Thanh tịnh tĩnh lự):

Đã dứt hết tất cả hoặc, nghiệp, được quả đại Bồ đề, cho nên gọi là thanh tịnh. Thiền này lại được chia ra làm10 loại như Thiền thế gian thanh tịnh tịnh bất vị bất nhiễm ô, cho đến Thiền phiền não trí chướng đoạn thanh tịnh tịnh... Chín loại thiền nói trên chỉ là Thiền thù thắng do các Bồ tát tu hành, nên gọi là Cửu chủng đại thiền. Theo phẩm Tối tịnh địa đà la ni trong kinh Kim quang minh tối thắng vương quyển 4 thì thành tựu tĩnh lự Ba la mật có 5 tướng, đó là: 1. Nhiếp các thiện pháp, không để cho tán thất. 2. Thường nguyện giải thoát, không chấp trước 2 bên. 3. Nguyện được thần thông, thành tựu các căn lành cho chúng sinh. 4. Vì làm cho pháp giới thanh tịnh nên diệt trừ tâm cấu. 5. Diệt trừ phiền não căn bản của chúng sinh.Trên đây là nói rõ các ý nguyện mong cầu của Bồ tát khi tu tĩnh lự Ba la mật. Pháp hoa huyền nghĩa quyển 4 thượng có nói về 3 thứ Thiền là Thế gian thiền, Xuất thế gian thiền và Xuất thế gian thượng thượng thiền, trong đó, Xuất thế gian thượng thượng thiền lại được chia làm 9 thứ, tức là Cửu chủng đại thiền. Đối lại, Xuất thế gian thiền có 4 thứ sau đây:1. Quán thiền: Như Cửu tưởng, Bát bối xả, Bát thắng xứ, Thập nhất thiết xứ... đều là Quán thiền. Tức làThiền quán chiếu các cảnh tướng bất tịnh. 2. Luyện thiền: Như Cửu thứ đệ định. Tức rèn luyện thiền Hữu lậu khiến trở thành thiền Vô lậu. 3. Huân thiền: Như tam muội Sư tử phấn tấn. Tức hun đúc cácThiền, khiến thông suốt vô ngại, chuyển biến tự tại. 4. Tu thiền(cũng gọi Đính thiền): Tức xuôi ngược tự tại, tam muội siêu việt vượt vào vượt ra. Bốn thứ Thiền trên đây gọi tắt là Quán luyện huân tu, trong đó Tu thiền là thù thắng nhất. Cũng trong Pháp hoa huyền nghĩa còn ví dụ Căn bản cựu thiền, Luyện thiền, Huân thiền, Tu thiền, Cửu đại thiền với 5 vị(từ sữa cho đến đề hồ) và gọi 3 loại thiền định là Tứ thiền, Tứ vô lượng và Tứ vô sắc là Thập nhị môn thiền (tông Thiên thai chỉ gọi Vị đẳng chí là Thập nhị môn thiền).

Thập nhị môn thiền này là Căn bản vị thiền trong Thế gian thiền. Đối lại, tông Thiên thai lấy Lục diệu môn, Thập lục đặc thắng, Thông minh thiền(cũng gọi Thông minh quán, Thông minh quán thiền. Tức quán chung 3 thứ hơi thở, sắc, tâm làm cho chúng sáng suốt, thanh tịnh, lại được 9 thứ gồm 4Thiền, 4Vô sắc, Diệt tận định của Lục thông và Tam minh) làm Căn bản tịnh thiền của thế gian. Phẩm Tập nhất thiết pháp trong kinh Đại thừa nhập lăng già quyển 3, chiaThiền làm 4 loại: 1. Ngu phu sở hành thiền: Thiền của hàng Thanh văn tu hành sau khi ngộ lí Nhân vô ngã. 2. Quán sát nghĩa thiền: Thiền của hàng Bồ tát tu hành sau khi ngộ lí Pháp vô ngã. 3. Phan duyên chân như thiền: Thiền siêu việt tư lự và phân biệt, tâm không khởi tác dụng, tức khắc ngộ chân như như thực.4. Chư Như lai thiền: Thiền ngộ nhập bồ đề của Như lai, vì chúng sinh mà hiển bày tác dụng không thể nghĩ bàn của loại Thiền này. Ngoài ra, Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự quyển thượng của ngài Khuê phong Tông mật chia Thiền làm 5 loại là Ngoại đạo thiền, Phàm phu thiền, Tiểu thừa thiền, Đại thừa thiền và Tối thượng thượng thiền. Chú Duy ma cật kinh quyển 9 thì nêu thuyết của ngài Cưu ma la thập, chia Thiền làm 3 loại là Đại thừa thiền, Tiểu thừa thiền và Ngoại đạo thiền.

Ở Trung quốc, trong các tông phái, mỗi tông đều y cứ theo giáo lí của tông mình mà tu Thiền định, nhưng cũng có tông phái tu Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền. LoạiThiền này bắt nguồn từ tư tưởng kinh Lăng già, chủ trương truyền riêng ngoài giáo, không lập văn tự. Tông chỉ của Thiền này là dùng tâm truyền tâm từ đức Thích tôn đến nay, tức không y cứ vào chữ nghĩa trong kinh điển, chỉ chuyên dùng phương pháp ngồi thiền, đánh hét... làm cho chúng sinh tỏ ngộ bản lai diện mục của mình. Đó chính là Thiền tông được thành lập sau khi loại Thiền này được truyền đến Trung quốc. Ởđời Đường có các lưu phái thiền Ngưu đầu, thiền Bắc tông, thiền Nam tông...Về sau, thiền Nam tông từng cực thịnh một thời. Đến các tông Lâm tế, Tào động thì mỗi tông đều có tông phong đặc biệt riêng của mình. Ngài Tông mật căn cứ vào đó mà chia Thiền tông đời Đường làm 3 phái (Thiền tam tông), đó là: 1. Tức vọng tu tâm tông: Tông này không quan tâm đến các cảnh tượng bên ngoài, mà chỉ chuyên quán xét nội tâm để diệt trừ các vọng niệm. 2. Mẫn tuyệt vô kí tông: Tông này chủ trương tất cả pháp phàm thánh đềunhư mộng như huyễn, đến cả trí Không cũng chẳng có, khiến cho tâm hoàn toàn dứt bặt (mẫn tuyệt), không một mảy may ý niệm gì (vô kí), vì xưa nay vốn không. Thấu suốt lí này liền được giải thoát. 3. Trực hiển tâm tính tông: Tông này trực ngộ được tính Không, Hữu của tất cả hiện tượng đều là bản tính chân như. Từ lập trường Giáo, Thiền nhất trí, ngài Tông mật chủ trương Thiền do Tổ Bồ đề đạt ma truyền là Tối thượng thượng thiền, hoặc gọi là Như lai thanhtịnhthiền. Nhưng các Tổ sư Thiền môn chủ trương truyền riêng ngoài giáo thì cho rằng gọi Thiền do Tổ Đạt ma truyền là Như lai thiền thì hoàn toàn không thích đáng.

Bởi vì từ giữa đời Đường về sau, thiền Đạt ma là thiền Tổ sư truyền cho Tổ sư, y cứ vào đó thì có thể gọi là Tổ sư thiền, cũng gọi là Nhất vị thiền, ý nói là Thiền thuần túy, còn gọi chung Thiền do ngài Tông mật lập ra là Như lai thiền, Ngũ vị thiền. Ngoài ra, đồ chúng của Tổ sư thiền thường chê bai các hạnh thiện là hữu tướng, nhưng cũng do đó mà nảy sinh tư tưởng phản động, chủ trương sự lí song tu, Thiền tịnh cộng hành. Các phái Thiền tông có khi phê bình tông phong của nhau, như ngài Đại tuệ Tông cảo thuộc tông Lâm tế phê bình Thiền phong cố thủ mặc niệm bất động của ngài Hoành trí Chính giác thuộc tông Tào động là thiếu tác dụng hoạt bát bén nhạy chỉ là một loại Mặc chiếu thiền. Còn ngài Hoành trí thì phê bình Thiền phong của ngài Tông cảo là loại Khán thoại thiền, bị kẹt trong công phu tham cứu công án. Cuối đời Tống, Đãi ngộ thiền lấy việc ngồi thiền mong được khai ngộ rất thịnh hành và các ngài Hoành trí cùng ngài Vĩnh bình Đạo nguyên người Nhật bản đều dạy loại Thiền này, cho rằng ngồi thiền là hạnh của Phật, là Đệ nhất nghĩa. Ngoài ra, ngồi thiền một cách ngu si như khúc gỗ, chỉ biết ngồi yên lặng mà tâm địa không mở tỏ thì bị chê là Si thiền. [X.kinh Đạo hành bát nhã Q.2; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Hoa nghiêm Q.38 (bản 60 quyển); luận Đại trí độ Q.17; luận Du già sư địa Q.12, 63; luận Câu xá Q.28; Ma ha chỉ quán Q.9, thượng, Q.9 hạ, Q.10 thượng; chương Đại chúng trong Sắc tu Bách trượng thanh qui Q.4; Tông kính lục Q.36; Vạn thiện đồng qui tập Q.1, 2; Vãng sinh tập Q.hạ]. (xt. Tứ Thiền, Như Lai Thiền, Định).
mã minh bồ tát
(馬鳴菩薩) Mã minh, Phạm: Azvaghowa. I. Mã Minh Bồ Tát. Cũng gọi: Tàm thần (thần tằm). Vị Bồ tát được Mật giáo tôn thờ, trông coi che chở cho sự sinh nở của tằm để tạo ra tơ lụa may y phục cho những chúng sinh không có y phục. Về hình tượng thì vị thần này hiện tướng Bồ tát, mình màu da người, chắp 2 tay, ngồi trên hoa sen trắng, cỡi ngựa trắng, mặc áo trắng, đeo chuỗi anh lạc, đầu đội mũ hoa, chân phải thõng xuống. Còn theo A sa phược sao, Tôn dung sao và Biệt tôn tạp kí thì hình tượng vị tôn này ngồi trên hoa sen xanh, cỡi ngựa trắng, có 6 tay, tay thứ nhất bên trái đặt trên đầu gối, cầm cái guồng quay tơ; tay thứ 2, ngửa lòng bàn tay, bấm ngón cái vào ngón giữa và ngón vô danh, tay thứ 3 đặt cạnh vai, cầm sợi tơ; tay thứ nhất bên phải ngửa lòng bàn tay, cầm ống sáo, tay thứ 2 kết ấn Dữ nguyện, tay thứ 3 cầm cái cân. Phép cúng tế vị thần này gọi là Mã minh pháp. [X. Tất đàm tạng Q.1; điều Tàm mã đồng bản trong Thử phác Q.hạ]. II. Mã Minh Bồ Tát (khoảng 100-160). Tổ phó pháp thứ 12 của Thiền tông Ấn độ. Ngài là vị đại luận sư và là thi nhân nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo. (xt. Mã Minh).
Long Thọ (Nagarjuna - khoảng thế kỉ thứ 2-3)

Là vị sáng tổ của học phái Trung Quán của Phật giáo đại thừa ở Ấn-độ, và là vị tổ thứ 14 kế thừa pháp tạng. Ngài là người nuớc Kiều-tát-la (Kosala) ở Nam Ấn-độ (khác với nước Kiều-tát-la ở Bắc Ấn-độ), xuất thân trong một gia đình Bà-la-môn. Từ nhỏ đã tỏ ra là người dĩnh ngộ, học thông bốn kinh Phệ Đà, cả thiên văn, địa lí, thuật số. Ngài luyện được thuật tàng hình. Một ngày nọ, ngài cùng với ba người bạn thân (cũng biết thuật tàng hình) lẻn vào cung vua, xâm phạm các cung nữ. Việc bị bại lộ, ba người bạn bị xử chém, riêng ngài thoát thân được. Nhân sự việc này mà ngài tỉnh ngộ, thấy rõ tâm ái dục là gốc của tội lỗi, bèn vào núi, được gặp tháp Phật, rồi xuất gia thọ giới. Ngài học khắp ba tạng, nhưng chưa thông đạt kinh pháp đại thừa. Một lần cùng ngoại đạo tranh luận, ngài đánh đổ được học thuyết của họ; nhân đó mà sinh tâm kiêu mạn, muốn tự sáng lập giáo phái riêng để độ chúng. Có vị Đại Long Bồ Tát, thấy thế thì thương xót, bèn dắt ngài xuống long cung, cho xem các kinh điển đại thừa. Nhờ đó mà ngài thông đạt giáo pháp đại thừa, trước tác nhiều kinh luận đại thừa (như Trung Luận, Thập Nhị Môn Luận, Đại Thừa Phá Hữu Luận, Thập Trụ Tì Bà Sa Luận, Đại Trí Độ Luận, v.v...), được người đời xưng tụng là “Thiên Bộ Luận Chủ”; lại được nhiều tông phái cùng tôn xưng là sáng tổ. Trong luận Tì Bà Sa và luận Đại Trí Độ, ngài có tán dương đức Phật A Di Đà và cõi Tịnh-độ, cùng khai thị cho mọi người thấy rõ sự công hiệu của pháp môn tu “niệm Phật tam muội”.

Theo sách Đại Đường Tây Vực Kí (q. 10) ghi chép, Bồ Tát Long Thọ trụ trì một ngôi chùa ờ phía Nam kinh thành nước Kiều-tát-la. Ngoài Phật pháp ra, ngài còn tinh thông y thuật, có tài chẩn bệnh bốc thuốc, tu tập dưỡng sinh, nên dù tuổi đã hơn trăm mà thân thể vẫn tráng kiện, tâm trí vẫn sáng suốt, không có dấu hiệu già lão. Vị quốc vương đương thời của nước ấy là Dẫn Chính (Satavahana), thâm tín Tam Bảo, rất kính ngưỡng ngài, và vì uống thuốc của ngài cho mà cũng được sống lâu. Vì vậy, cậu con trai của nhà vua mới than thở với mẫu hậu: “Phụ vương sống lâu quá như thế thì biết bao giờ con mới được lên ngôi!” Bà bảo thái tử: “Phụ vương con sống lâu là nhờ phước lực cùng thang diệu dược của ngài Long Thọ. Nếu ngài nhập niết bàn thì chắc chắn phụ vương con cũng không sống thêm được nữa. Ngài là bậc trí tuệ cao siêu, tâm từ bi sâu rộng, cứu tế khắp sinh linh mà không kể đến thân mạng. Vậy con hãy đến chùa, xin cho được cái đầu lâu của ngài, thì nguyện vọng của con chắc thành!” Thái tử nghe lời mẹ, đến chùa, gặp lúc ngài đang thiền hành ở bên ngoài chùa. Ngài hỏi duyên sự, thì chàng thẳng thắn thưa rõ tâm nguyện của mình là đến để xin ngài bố thí cho cái đầu của ngài! Ngài dạy: “Tôi tu hành là vì cầu quả Phật. Tôi học gương bố thí của đức Phật, nguyện không bao giờ từ chối bất cứ yêu cầu gì của người khác. Cái thân xác này chỉ là hư giả tạm bợ, tôi không tiếc gì với  thái tử; nhưng quả thật là rất khó xử cho tôi, vì tôi chết rồi thì phụ vương của thái tử cũng không thể sống được!” Nói rồi, ngài nhìn xuống đám cỏ, nhặt lên một lá cỏ, dùng nó tự cứa đứt cổ mà chết! Thái tử thấy thế hoảng sợ quá, liền bỏ chạy về cung, thuật lại sự việc cho phụ vương nghe. Nhà vua nghe xong sự tình, vì quá thương cảm và đau buồn mà sau đó cũng qua đời!

nghiệp thức
(業識) I.Nghiệp Thức. Cũng gọi Nghiệp tướng (Phạm: Karmajàtilakwaịa), Nghiệp tướng thức. Chỉ cho thức căn bản lưu chuyển của loài hữu tình, tức là thức nghiệp nương vào sự mê lầm của vô minh căn bản mà dấy động bản tâm, là 1 trong Ngũ ý, 1 trong Tam tế. Cứ theo Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển trung phần cuối thì Nghiệp thức tương đương với phần tự thể trong thức A lại da. Luận Đại thừa khởi tín (Đại 32, 577 trung) nói: Nghiệp thức, nghĩa là do sức của vô minh mà bất giác tâm khởi động. [X. kinh Nhập lăng già Q.2; luận Thích ma ha diễn Q.4]. II. Nghiệp Thức. Cũng gọi Tùy nghiệp thức. Thức do duyên theo nghiệp mà sinh ra, tức là chi Thức trong 12 chi Nhân duyên. [X. luận Du già sư địa Q.9; Quán kinh sớ Q.2].
Ấm

Tiếng Phạn “skandha”, cựu dịch là “ấm”, hay “chúng”; tân dịch là “uẩn”. Như vậy, chữ “ấm” vừa mang ý nghĩa “chứa nhóm” của chữ “uẩn”, vừa có nghĩa là “che lấp”; ý nói rằng, năm nhóm sắc, thọ, tưởng, hành và thức tích tụ lại, làm che lấp chân tánh. Nói rằng sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm che lấp chân tánh, đó chỉ là cách nói chủ quan. Các bậc giác ngộ (Phật, Đại Bồ-tát, A-la-hán, chư Tổ, v.v...) cũng mang thân “ngũ uẩn”, nhưng các Ngài có bị che lấp chân tánh đâu! Có lẽ vì vậy mà các nhà tân dịch đã không muốn dùng chữ “ấm”, mà đã dịch chữ “skandha” là “uẩn” –là một sự diễn tả có tính cách khách quan hơn.

chân
(真) I. Chân thực. Đối lại với các nghĩa giả, ngụy, tục. Nghĩa rốt ráo cùng tột gọi là chân - giả là nghĩa phương tiện, tạm thời. Chẳng hạn như thân Phật chia làm chân thân và ứng thân, đối lại với thân ứng hóa thì gọi là chân thân. Lại như pháp môn chia làm chân đế và tục đế, đối lại với thế tục đế thì gọi là chân đế. Ngoài ra, chân giả và quyền thực là những tiếng cùng nghĩa. Có thuyết bảo tục là chỉ sự vật che lấp cái thật - còn ngụy thì chỉ sự vật hư dối không thật mà lại giống như thật. II. Chỉ chân ảnh, tức tượng khắc, tượng đắp hoặc tượng vẽ của các tổ sư và các bậc tôn túc. (xt. Chân Ảnh).
tịnh độ
(淨土) Gọi đủ: Thanh tịnh độ, Thanh tịnh quốc độ, Thanh tịnh Phật sát. Cũng gọi: Tịnh sát, Tịnh giới, Tịnh phương, Tịnh vực, Tịnh thế giới,Tịnh diệu độ, Diệu độ, Phật sát, Phật quốc. Đối lại: Uế độ, Uế quốc. Chỉ cho cõi nước thanh tịnh, là nơi an trụ của Phật. Trái lại, những nơi mà chúng sinh cư trú có các phiền não ô uế nên gọi là Uế độ, Uế quốc. Tịnh độ là giáo thuyết nói trong các kinh Đại thừa, còn Tiểu thừa thì lấy Niết bàn vô dư thântro trí bặt làm lí tưởng nên không có thuyết này. Vì Phật giáo Đại thừa cho rằng Niết bàn có tác dụng tích cực, chư Phật đã được Niết bàn, mỗi vị đều ở Tịnh độ của mình giáo hóa chúng sinh, cho nên hễ nơi nào có Phật an trụ thì đó là Tịnh độ.

Kinh A súc Phật quốc quyển thượng, kinh Phóng quang bát nhã quyển 19, kinh Vô lượng thọ quyển thượng,... đều cho rằng Tịnh độ là thế giới thanh tịnh trang nghiêm do chư Phật kiến lập bằng những công đức đã được tích lũy trong vô lượng vĩnh kiếp khi các Ngài hành đạo Bồ tát ở địa vị tu nhân, đã khởi thệ nguyện tịnh Phật quốc độ, thành tựu chúng sinh. Phẩm Phật quốc trong kinh Duy ma quyển thượng thì cho rằng hễ tâm tịnh thì độ tịnh, thế giới Sa bà tức là tịnh độ Thường tịch quang. Nếu tâm chúng sinh bất tịnh thì cõi này chính là cõi uế ác bất tịnh, còn chỗ Phật thấy thanh tịnh thì trở thành vô lượng công đức trang nghiêm. Tịnh độ Linh sơn của kinh Pháp hoa, thế giới liên hoa tạng của kinh Hoa nghiêm, Tịnh độ Mật nghiêm của kinh Đại thừa mật nghiêm... đều lấy thuyết Tâm tịnh độ tịnh làm gốc. Còn kinh Vô lượng thọ thì nói rằng ngoài thế giới Sa bà ra còn có các Tịnh độ khác, cũng có Tịnh độ ở vị lai được thành tựu mỗi khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật, 2 loại Tịnh độ này đều là các cõi nước được hoàn thành sau khi có vị Bổ xứ Bồ tát thành Phật qua giai đoạn tu nhân theo bản nguyện của mình, là nơi chúng sinh nguyện sinh về. Còn các Tịnh độ ở các phương khác thì có thế giới Cực lạc ở phương Tây của đức Phật A di đà, thế giới Diệu hỉ ở phương Đông của đức Phật A súc, thế giới Tịnh lưu li ở phương Đông của đức Phật Dược sư,...

Vì các Tịnh độ của chư Phật nói trên cách thế giới Sa bà với một phương vị nhất định nên gọi là Thập phương tịnh độ.Thế giới Cực lạc (Phạm: Sukhàvatì) cũng gọi Diệu lạc, An lạc, An dưỡng, Lạc bang, là Tịnh độ ở phương Tây rất được tông Tịnh độ xem trọng. Tịnh độ này là chỉ cho Báo độ do Bồ tát tu nhân hạnh mà cảm được quả báo; hoặc chỉ cho Ứng hóa độ mà đức Phật giả hiện ra để cứu độ chúng sinh; hoặc chỉ cho Tịnh độ có thật ở phương Tây cách thế giới Sa bà hơn 10 vạn ức Phật độ; hoặc lại chỉ cho Tịnh độ hiện ra trong tâm chúng sinh. Ngoài ra, Tịnh độ còn có Biên địa, Nghi thành, Thai cung, Giải mạn giới,... là Hóa độ dành cho các người còn hoài nghi Phật trí sinh đến. Tông Tịnh độ cho rằng Báo độ thực tại ở phương Tây, những người sinh về cõi này sẽ được hưởng 10 điều lợi lạc sau đây: 1. Thánh chúng đến đón: Lúc lâm chung được đức Phật A di đà và 2 vị Bồ tát Quan âm, Thế chí đến đón về Tịnh độ. 2. Hoa sen vừa mới nở: Gá sinh trong hoa sen sinh về Tịnh độ, cho nên lúc hoa sen vừa mới nở thì liền được thấy cõi Tịnh độ rất trang nghiêm thanh tịnh. 3. Thân tướng có thần thông: Thân được 32 tướng tốt đẹp và 5 thứ thần thông như Thiên nhãn,... 4. Năm cảnh giới vi diệu: Được 5 cảnh thù thắng sắc, thanh, hương, vị, xúc. 5. Vui sướng vô lượng: Được hưởng các niềm vui vô tận. 6. Tiếp dẫn kết duyên: Được những ân nhân kết duyên từ trước thân đến Tịnh độ đón tiếp. 7. Thánh chúng cùng hội họp:Các chúng Bồ tát đều đến nhóm họp ở một chỗ.8. Thấy Phật nghe pháp: Sinh về Tịnh độ được thấy đức Phật và nghe Ngài nói pháp. 9. Tùy tâm cúng dường Phật: Tùy tâm cúng dường chư Phật ở 10 phương. 10.

Tăng tiến Phật đạo: Tu hành tinh tiến, cuối cùng chứng được quả Phật. Về vị trí Tịnh độ, sự trang nghiêm, chủng loại dân cư,... các kinh nói không giống nhau, vì khi còn ở địa vị tu nhân, các vị Bồ tát phát nguyện không đồng. Nếu đứng trên lập trường sử học mà nhận xét sự miêu tả khác nhau giữa Tịnh độ của Phật A súc và Tịnh độ của Phật A di đà thì có thể thấy được sự biến thiên của một loại phát triển, như cõi Phật A súc có người nữ, nhân dân đều mặc y phục được lấy ra từ cây, có 3 đường thềm báu đi suốt đến cõi trời Đao lợi, có thể xem đây là tư tưởng tương đối sớm. Tịnh độ của đức Phật A di đà thì không có người nữ, đều là hóa sinh, được thân thể hư vô tự nhiên. Luận Nhiếp đại thừa quyển hạ thì cho Tịnh độ là xứ sở vi diệu ở ngoài 3 cõi. So sánh sự hơn, kém khác nhau giữa các Tịnh độ của chư Phật, trong các kinh đều có ghi chép.

Về chủng loại Tịnh độ, ở thời đại ngài Vô trước (khoảng thế kỷ IV, V) có thuyết 3 thân là Tự tính thân, Thụ dụng thân và Biến hóa thân. Thân biến hóa của Phật thị hiện 8 tướng ở Uế độ,thân Thụ dụng trụ trong thế giới Liên hoa tạng có 18 thứ viên mãn thanh tịnh, tức tùy theo Báo thân, Hóa thân của Phật mà có thanh tịnh, ô uế khác nhau. Luận Duy thức quyển 10 có thuyết Tứ thân tứ độ(4 thân 4 cõi); Đại thừa nghĩa chương quyển 19 chia Tịnh độ làm 3 loại là Sự tịnh độ, Tướng tịnh độ và Chân tịnh độ; Duy ma kinh lược sớ quyển 1 thì lập 4 loại Tịnh độ: Phàm thánh đồng cư độ, Phương tiện hữu dư độ, Thực báo vô chướng ngại độ và Thường tịch quang độ. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 3, y cứ vào sự bất đồng giữa Tam thừa và Nhất thừa mà nói các Tịnh độ khác nhau. (xt. Phật Độ, Cực Lạc Thế Giới).

Khuyên Chuyên Cậy Vào Phật Lực
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh Kết Tập, Ấn Quang Đại Sư Giám Định

Tín Nguyện Hạnh
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc

Khai Thị Thiền Tịnh Không Hai
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc

Thiền Tịnh Giảng Hòa
Pháp Sư Luyến Tây Đại Sư Ngọc Phong Cổ Côn

Thiền Tịnh Quyết Nghi
Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang

Tự Lực và Tha Lực
Đời Đường, Thiện Đạo Hòa Thượng tập ký