Bát Nạn Là Gì...?
Thượng Tọa Thích Phước Thái

Hỏi: Kính bạch thầy, con đọc trong kinh thấy nói Bát nạn, nhưng con không hiểu Bát nạn là gì? Xin thầy hoan hỷ giải đáp cho con được rõ. Cám ơn thầy.
 
Đáp: Bát nạn còn gọi là Bát nạn xứ hay Bát nạn giải pháp v.v… Nó có nhiều tên gọi khác nhau, nhưng tựu trung cũng chỉ cho tám chỗ mà chúng sanh thọ khổ. Bát nạn gồm có:

1.Nạn địa ngục: chúng sanh do tạo nghiệp ác, nên phải chiêu cảm quả báo đọa vào địa ngục, chịu khổ không ngừng, không được thấy Phật nghe pháp.
2. Nạn ngạ quỷ: Tức là loài quỷ đói. Chúng sanh do tạo nghiệp tham lam bỏn xẻn nên chiêu cảm thọ sanh vào loài ngạ quỷ phải chịu đói khát khổ sở trăm bề.
3. Nạn súc sanh: Chúng sanh do si mê tối tăm, hành động phi pháp trái với luân thường đạo lý, nên phải chiêu cảm quả báo thọ sanh vào loài súc sanh nầy.
4. Nạn sanh lên cõi trời Trường thọ: Cõi trời nầy thọ mạng dài lâu, bị chướng ngại không được thấy Phật nghe pháp.
5. Nạn sinh ở Uất đan việt hay còn gọi là Bắc cu lô châu hoặc Thắng xứ. Vì người sanh về cõi nầy, họ mãi mê tham đắm hưởng lạc, nên không gặp được Phật pháp tu hành.
6. Nạn đui điếc câm ngọng: Tuy sanh được làm người nhưng sáu căn của họ không được vẹn toàn, nên cũng không được thấy nghe học hỏi Phật pháp.
7. Nạn thế trí biện thông: hạng người nầy, tuy họ rất thông minh lanh lợi, chuyên nghiên cứu học sách ngoại đạo, nên họ không tin chánh pháp, không biết tu hành để được giải thoát sanh tử khổ đau.
8. Nạn sanh trước Phật và sau Phật: Chúng sanh do nghiệp chướng sâu dầy, nên sanh ra đời không được gặp Phật.

Đại khái trong Kinh nói Bát nạn là như thế.
 
Trích từ: 100 Câu Hỏi Phật Pháp 1

Từ Ngữ Phật Học
Địa-ngục

Là tiếng dịch ý từ Phạn ngữ “Niraya”, có nghĩa là “bất lạc” (chỉ có đau khổ, không có an vui). Đia-ngục (hay Địa-ngục đạo, Địa-ngục thú) là một trong sáu nẻo luân hồi. Nói đến “ngục” là nói đến những hoàn cảnh đau khổ, bị giam cầm, bị hình phạt. Chữ “địa” nghĩa là đất, nhưng ở đây nó còn có nghĩa là những nơi u ám, tối tăm. Vậy, “địa-ngục” là những cảnh giới tối tăm, sự sống chỉ là những nỗi đau khổ triền miên, không có ánh sáng của chánh pháp, không có đạo lí, không có hạnh phúc, không có bất cứ niềm vui nào. Trong ý nghĩa đó, các cảnh giới Địa-ngục có thể ở dưới đất, trên mặt đất, nơi kẹt núi, ven sông, rừng thẳm, dưới vực, nơi xóm làng phố xá, cả trên không trung... Trong các kinh điển (như Kinh Địa Tạng chẳng hạn) thường mô tả thế giới Địa-ngục ở trong núi Thiết-vi, với những ngục sở đầy những hình phạt ghê rợn; những bức họa về các cảnh tượng người bị hành hình trong các chốn địa ngục, khởi thỉ từ Ấn-độ, sau đó truyền sang các nước phía Đông như Trung-quốc, Việt-nam, Nhật-bản v.v..., tất cả đều nhằm răn đe những người làm ác và khuyến khích con người hướng thiện. Rất nhiều người, nhờ đọc kinh, hoặc trông thấy các bức họa ấy mà bỏ hẳn các nghiệp ác (nhất là nghiệp sát sinh), trở nên những người tốt, giúp đỡ mọi người, ai cũng quí mến. Tóm lại, ở đâu có đau khổ là ở đó có Địa-ngục. Một gia đình đau khổ, đó là một gia đình địa ngục; một đoàn thể đau khổ, đó là một đoàn thể địa ngục; một quốc gia đầy đau khổ, đầy áp bức, đầy đe dọa, đó là một quốc gia địa ngục... Và “địa ngục” là loại quả báo đau khổ nặng nề nhất do các nghiệp nhân xấu ác trầm trọng nhất.

bát nạn
(318<一>梵語 aṣṭāv akṣaṇāḥ,巴利語 aṭṭhakkhaṇā。指) I. Bát nạn. Tám nạn. Phạm: awỉàv akwaịàøø#, Pàli: aỉỉakkhaịà. Là tám loại chướng nạn khiến không được gặp Phật, không được nghe chính pháp. Cũng gọi bát nạn xứ, bát nạn giải pháp, bát vô hạ, bát bất nhàn, bát phi thời, bát ác, bát bất văn thời tiết. Trường a hàm quyển 9 kinh Thập thượng, Trung a hàm quyển 29 kinh Bát nạn, nêu tám nạn như sau: 1. Nạn ở địa ngục, vì gây các nghiệp ác, chúng sinh phải rơi vào địa ngục, đêm dài mờ mịt, chịu khổ không ngớt, không được thấy Phật nghe pháp. 2. Nạn ở trong quỉ đói. Có ba loại quỉ đói:- Quỉ đói nghiệp nặng nhất, suốt kiếp không được nghe tên nước uống. - Quỉ đói nghiệp nặng vừa, chỉ ở nhân gian rình mò kiếm được máu mủ phẩn giải để ăn. - Quỉ đói nghiệp nhẹ, thỉnh thoảng được bữa no, nhưng bị đánh đập xua đuổi, bị ngăn sông lấp biển, chịu vô lượng khổ. 3. Nạn ở trong súc sinh, súc sinh có nhiều loại, nhưng cũng đều theo nhân chịu báo, hoặc được người ta nuôi, hoặc ở núi rừng biển cả, thường bị đánh đập giết hại, hoặc ăn nuốt lẫn nhau, chịu khổ vô cùng. 4. Nạn ở cõi trời sống lâu, cõi trời này sống lâu năm trăm kiếp. Tức là trời Vô tưởng trong Thiền thứ tư ở cõi Sắc. Vô tưởng, có nghĩa là tâm tưởng không hoạt động nữa, như côn trùng tôm cá dưới lớp băng đóng cứng; những người tu hành ngoại đạo phần nhiều sinh vào cõi này, nên bị ngăn không được thấy Phật nghe pháp. 5. Nạn sinh vào Uất đơn việt. Uất đơn việt, dịch là nơi sung sướng. Những người sinh nơi đây, sống một nghìn tuổi, không ai chết non, tham đắm hưởng lạc, không nhận sự dạy bảo, nên Thánh nhân không sinh vào đây, không được thấy Phật nghe pháp. 6. Nạn mù điếc câm ngọng, những người này tuy được sinh ở trung quốc (chỉ vùng Ma kiệt đà ở trung bộ Ấn độ xưa), nhưng nghiệp chướng sâu nặng, mù điếc câm ngọng, các giác quan không hoàn toàn, tuy gặp Phật ra đời, nhưng không thấy được Phật, không nghe được Ngài nói pháp. 7. Nạn thế trí biện thông, nghĩa là tuy khôn ngoan lanh lợi, nhưng chỉ đắm theo kinh sách ngoại đạo, không tin chính pháp xuất thế. 8. Nạn sinh ra trước Phật sau Phật, nghĩa là do nặng nghiệp ít phúc, nên sinh trước Phật sau Phật, không được thấy Phật nghe pháp. Cứ theo kinh Tăng nhất a hàm quyển 16 nói, thì vâng giữ pháp tám trai giới, có thể đối trị tám nạn trên đây. Còn theo luận Thành thực quyển 2 nói, thì dùng bốn luân để đối trị tám nạn. Tức là: a. Trụ nơi thiện, có thể được sinh nơi trung quốc. b. Nương nơi người thiện, có thể sinh gặp đời có Phật. c. Tự phát nguyện chân chính, có thể đầy đủ chính kiến. d. Đời trước trồng căn lành, có thể được các căn toàn vẹn. [X. luận Đại trí độ Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.8; kinh Duy ma, Q.hạ phẩm Hương tích Phật]. II. Bát nạn. Khi thụ giới, tự tứ v.v... nếu xảy ra tám nạn, thì được phép nói tự tứ vắn tắt. Tám nạn ấy là: nạn vua quan, nạn giặc cướp, nạn lửa cháy, nạn nước lụt, nạn đau ốm, nạn người, nạn chẳng phải người, nạn trùng độc. [X.luật Tứ phần Q.34, Q.38].
ngạ quỷ
(餓鬼) Phạm: Preta. Pàli: Peta. Hán âm: Tiết lệ đa, Bế lệ đa, Tỉ lễ đa, Ti lợi đa, Di lệ đa, Bế đa, hoặc tiếng Phạm Pitf, Hán âm là Đế lê. Cũng gọi Quỉ đạo, Quỉ thú, Ngã quỉ đạo. Loài quỉ thường chịu khổ đói khát, do đời trước tạo nghiệp ác, nhiều tham muốn. Là 1 trong 6 đường, 1 trong 5 ngả, 1 trong 6 ngả. Theo kinh Chính pháp niệm xứ quyển 16, loài ngã quỉ có 2 chỗ ở: Trong thế giới loài người và trong thế giới ngã quỉ, dưới cõi Diêm phù đề 500 do tuần. Về tên gọi thì có 36 loài như: Ca bà li (thân bị nấu trong cái vạc), Kiện đà (ăn hơi), Bà la ba xoa (ăn thịt trẻ con), A tra tì (ở chỗ đồng trống), Ma la ca da (tự giết mình) v.v... Luận Thuận chính lí quyển 31 liệt kê 3 loại ngã quỉ: 1. Vô tài ngã quỉ (ngã quỉ không có của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ miệng lửa, ngã quỉ miệng kim, ngã quỉ miệng hôi. Loại ngã quỉ này hoàn toàn không có thức ăn, thường bị khổ não vì đói khát; nếu may gặp được chút thức ăn, thì khi đưa đến miệng, bỗng bốc thành lửa, không thể ăn được. 2. Thiểu tài ngã quỉ (ngã quỉ ít của cải): Gồm 3 loại: Ngã quỉ lông kim, ngã quỉ lông hôi, ngã quỉ bướu cổ. Loại ngã quỉ này chuyên ăn máu mủ. 3. Đa tài ngã quỉ (ngã quỉ nhiều của cải): Gồm có 3 loại: Ngã quỉ ăn đồ cúng tế thừa, ngã quỉ ăn vật người ta vứt bỏ và ngã quỉ được thức ăn ngon. Hai loại ngã quỉ Thiểu tài và Đa tài cũng gọi là Hữu tài ngã quỉ (ngã quỉ có của cải). Luận Du già sư địa quyển 4 thì nêu ra 3 loại ngã quỉ là: Ngã quỉ do cảnh bên ngoài làm chướng ngại việc ăn uống; ngã quỉ do bên trong thân làm chướng ngại việc ăn uống và ngã quỉ không bị chướng ngại trong việc ăn uống. Luận Đại trí độ quyển 30 thì gọi loại ngã quỉ không có uy đức, thường chịu khổ đói khát là Ngã quỉ và gọi loại ngã quỉ có uy đức, hưởng thụ nhiều thú vui là Tệ quỉ.Ngã quỉ ở cõi Diêm ma do vua Diêm ma thống trị. Cũng có loại ngã quỉ ở những nơi tha ma mộ địa và hang núi tối tăm tại nhân gian. Theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 8, ngã quỉ có loại do hóa sinh, có loại do thai sinh. Cứ theo Pháp uyển châu lâm quyển 6 thì thân ngã quỉ cao nhất là 1 do tuần, còn nhỏ nhất bằng đứa trẻ cao 3 tấc. Về tuổi thọ, có thuyết cho rằng dài nhất là 8 vạn 4 nghìn năm, còn ngắn nhất thì không nhất định, hoặc cho rằng 5 nghìn năm ở nhân gian là 1 ngày 1 đêm trong cõi ngã quỉ. Theo kinh Nghiệp báo sai biệt thì có 10 thứ nghiệp khiến chúng sinh chịu báo ngã quỉ. 1. Thân tạo nghiệp ác nhẹ. 2. Miệng tạo nghiệp ác nhẹ. 3. Ý tạo nghiệp ác nhẹ. 4. Khởi nhiều tham muốn. 5. Khởi tâm ác tham. 6. Ghen ghét. 7. Tà kiến. 8. Luyến tiếc của cải lúc hấp hối. 9. Chết vì đói. 10. Chết vì khát. Ngoài ra, thế tục gọi trẻ con tham ăn là ngã quỉ, kẻ tham dâm là Sắc ngã quỉ, kẻ giàu có mà keo kiệt là Tài ngã quỉ. [X. kinh Ngũ khổ chương cú; kinh Quán Phật tam muội hải Q.5; kinh Ưu bà tắc giới Q.7; luận Đại tì bà sa Q.172; luận Chương sở tri Q.thượng; luận Câu xá Q.11].

Kiếp Là Gì...?
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm

Có Cực Lạc Tịnh Độ Hay Không...?
Dân Quốc Tịnh Luật Tự sa-môn Tánh Phạm