Skip Navigation LinksHome > Pháp Bảo > Khai Thị Phật Học > Loi-De-Khoa-Tung-Kinh-Duoc-Su-Cua-Ngoc-Lam-Quoc-Su

Lời Đề Khóa Tụng Kinh Dược Sư Của Ngọc Lâm Quốc Sư
| Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Trí Quang

Tôi từ lúc bái biệt công ơn cha mẹ, đoạn tuyệt bụi bặm phiền não, thì không rảnh để coi đọc gì hết. Nhưng tình cờ coi vào Ðại tạng kinh, đọc kinh Dược sư như lai bản nguyện công đức, thì bất giác tay nâng ngang trán, thất thanh mà cầu nguyện mọi người cùng nhập vào biển cả đại nguyện của Như lai. Có kẻ hỏi tại sao đối với kinh ấy tôi kinh động tán thán đến như vậy, tôi trả lời, thấy thế nhân vì cảnh ngộ thuận tiện mà đắm chìm không ít. Nên giàu với sang đáng sợ hơn là nghèo và hèn. Nay, Dược sư như lai làm cho người ta sở cầu như nguyện, để rồi từ đó mà vĩnh viễn không còn lùi mất đạo tâm, thẳng tới bồ đề. Vậy, đối với hàng vương thần, trưởng giả, và hết thảy mọi người, muốn làm cái hạnh đồng sự trong 4 nhiếp pháp mà không dùng thuyền tàu đại nguyện của Dược sư như lai, thì làm sao đạt đến cho được.

Ðại phàm tu trì, phải tự lượng lấy mình, tự lượng lấy pháp, rồi thẳng một đường mà nghĩ, thẳng một đường mà làm. Thật chán sợ ba cõi, quyết chí vãng sanh, thì hãy chuyên tâm y theo kinh Di đà mà thâu nhiếp sáu căn, tịnh niệm liên tục, tức là chấp trì danh hiệu, nhất tâm bất loạn, thì quyết định vãng sanh. Ðó là việc làm của người tự lợi trước để sau lợi tha. Còn hiện tiền phú quí công danh toàn chưa quên nghĩ, dục vọng gái trai ăn uống cũng chưa biết chán, thì với pháp môn vãng sanh Cực lạc chưa dễ thâm tín. Có tin đi nữa thì thân tu tịnh độ mà tâm luyến Sa bà, phỏng có ích gì.

Như vậy, muốn cầu cái pháp môn không rời lưỡi câu dục lạc mà vẫn thành tựu tuệ giác Phật đà, ở trong cảnh thuận tiện mà không đến nỗi chìm đắm, thì cố nhiên không có chi hơn tu trì theo sự đặc biệt, siêu đẳng, và khó nghĩ bàn cho thấu, của đại nguyện Dược sư như lai. Nếu tin và làm được, mãi hoài mà không nhác, thì sẽ thấy chẳng những phú quí công danh, chuyển gái thành trai, thoát ly nguy khốn, đạt đến tốt lành, tất cả đều như được ngọc như ý, tùy ý thành tựu, mà còn được điều này : là chính nơi cái chỗ thành tựu mọi sự đó mà thẳng tới bồ đề, không còn thoái chuyển. Như vậy còn sự may mắn nào sánh bằng.

Nhân gian cũng có hạc Dương châu, chỉ cần đi bằng thuyền công đức của Như lai là kiếm được.  
 
Trích từ: Dược Sư Kinh Sám

Từ Ngữ Phật Học
bồ đề
(菩提) I. Bồ đề. Phạm, Pàli: bodhi. Dịch ý là giác, trí, tri, đạo. Nói theo nghĩa rộng, bồ đề là trí tuệ đoạn tuyệt phiền não thế gian mà thành tựu Niết bàn. Tức là trí giác ngộ mà Phật, Duyên giác, Thanh văn đã đạt được ở quả vị của các ngài. Trong ba loại bồ đề này, bồ đề của Phật là rốt ráo tột bậc, nên gọi là A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, dịch là vô thượng chính đẳng chính giác, Vô thượng chính biến trí, Vô thượng chính chân đạo, Vô thượng bồ đề. Về bồ đề của Phật, theo luận Đại trí độ quyển 53, có năm loại sau: 1. Phát tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Thập tín phát tâm bồ đề, tâm ấy là nhân đưa đến quả bồ đề. 2. Phục tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở các giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng v.v... tu các hạnh ba la mật, chế phục phiền não, hàng phục tâm mình. 3. Minh tâm bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở giai vị Đăng địa biết rõ thực tướng các pháp rốt ráo trong sạch, là tướng bát nhã ba la mật. 4. Xuất đáo bồ đề, nghĩa là Bồ tát ở ba giai vị Bất động địa, Thiện tuệ địa, Pháp vân địa, ở trong bát nhã ba la mật, diệt trừ phiền não trói buộc, ra khỏi ba cõi, đến nhất thiết trí, nên gọi là xuất đáo bồ đề. 5. Vô thượng bồ đề, nghĩa là bậc Đẳng giác, Diệu giác chứng thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, tức là giác trí của quả Phật.Trên đây gọi chung là năm loại bồ đề. Còn Pháp hoa kinh luận quyển hạ ở nơi ba thân pháp, báo, hóa của Phật, lập ba loại bồ đề là Pháp Phật Bồ đề (Pháp thân Bồ đề), Báo Phật Bồ đề (Báo thân Bồ đề), và Ứng Phật Bồ đề (Ứng thân Bồ đề), gọi là tam chủng Bồ đề. Đại thừa nghĩa chương quyển 18 thì chia Vô lượng bồ đề làm hai thứ là Phương tiện bồ đề và Tính tịnh bồ đề. Ngoài ra, trong mười thứ Ba Pháp của tông Thiên thai cũng có ba bồ đề, đó là: 1. Thực tướng bồ đề, cũng gọi Vô thượng bồ đề: chân tướng bồ đề ngộ lí thực tướng, tương đương với đức pháp thân. 2. Thực trí bồ đề, cũng gọi Thanh tịnh bồ đề: trí tuệ ngộ lí khế hợp, tương đương với đức bát nhã. 3. Phương tiện bồ đề, cũng gọi Cứu kính bồ đề: ngộ được tác dụng tự tại giáo hóa chúng sinh, tương đương với đức giải thoát. Lại cứ theo luận Vãng sinh tịnh độ nói, thì: 1. Chấp trước tự ngã. 2. Không muốn làm cho tất cả chúng sinh được yên ổn. 3. Chỉ cầu lợi ích cho bản thân mình. Ba điều trên đây trái với cửa bồ đề, gọi là ba tâm xa lìa hoặc là ba chướng lìa bồ đề. Cùng sách đã dẫn lại nêu ra ba thứ tâm thanh tịnh: 1. Không cầu yên vui cho bản thân mình (Vô nhiễm thanh tịnh tâm) 2. Trừ khổ cho chúng sinh khiến họ được yên vui (An thanh tịnh tâm) 3. Khiến chúng sinh đến bồ đề và cho họ yên vui vĩnh viễn (Lạc thanh tịnh tâm). Đây là ba thứ tâm thuận theo cửa bồ đề. Người tu Đại thừa cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Bồ đề tát đỏa, gọi tắt là Bồ tát. Tâm cầu Vô thượng bồ đề, gọi là Vô thượng bồ đề tâm, Vô thượng đạo ý hoặc Bồ đề tâm. Hướng tới 73 đạo phẩm bồ đề, gọi là Bồ đề phần pháp. Nơi đức Phật thành đạo, gọi là Bồ đề đạo tràng, Bồ đề tràng, cây ở đạo tràng ấy gọi là Bồ đề thụ. Tu phúc cầu nguyện cho tổ tông thành Phật, gọi là Tăng thượng bồ đề. Kết khóa niệm Phật, nguyện cầu chúng sinh tăng tiến Phật đạo, gọi là Bồ đề giảng. Các chùa viện thuộc về đàn na (thí chủ), gọi là Bồ đề tự, Bồ đề sở. [X. kinh Bồ tát địa trí Q.3 phẩm Vô thượng bồ đề; kinh Đại phẩm bát nhã Q.22; kinh Bồ đề tâm Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.38, Q.52; kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.70; kinh Duy ma Q.thượng; kinh Đại bảo tích Q.1, Q.27; luận Đại trí độ Q.44; luận Thành duy thức Q.1]. II. Bồ đề. Tức là ngài Bồ đề tiên na đến Trung quốc vào đời nhà Đường. (xt. Bồ Đề Tiên Na).
Tứ nhiếp pháp
四攝法; S: catvāri-saṃgrahavastūni;
Bốn cách tiếp dẫn chúng sinh của Ðại thừa: 1. Bố thí (布施; s: dāna); 2. Ái ngữ (愛語; s: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để chinh phục người; 3. Lợi hạnh (利行; s: arthacaryā), hành động vị tha; 4. Ðồng sự (同事; s: samānārthatā), cùng chung làm với những người thiện cũng như ác để hướng dẫn họ đến bờ giác.
Dược Sư
(s: Bhaiṣajyaguru, 藥師): nói rõ là Dược Sư Lưu Ly Quang (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabha, 藥師瑠璃光), Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật (藥師琉璃光王佛), Dược Sư Như Lai (藥師如來), Đại Y Vương Phật (大醫王佛), Y Vương Thiện Thệ (醫王善誓), Thập Nhị Nguyện Vương (十二願王), âm dịch là Bệ Sát Xã Lũ Lô (鞞殺社窶嚕). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh (s: Bhaiṣajyaguruvaiḍūryaprabhāsapūryapraṇidhāna, 藥師瑠璃光如來本願功德經, Taishō No. 450), ngoài 10 hằng hà sa Phật độ có thế giới gọi là Tịnh Lưu Ly (淨瑠璃) và giáo chủ của thế giới đó là Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Thế giới này được gọi là cõi Tịnh Độ ở phương Đông, cũng trang nghiêm như cõi nước Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂). Trong thời gian hành Bồ Tát đạo, vị Phật này có phát 12 lời nguyện lớn và nhờ lời nguyện này mà hiện tại ngài thành Phật ở thế giới Tịnh Lưu Ly, có hai vị Bồ Tát Nhật Quang (s: Sūryaprabha, 日光) và Nguyệt Quang (s: Candraprabha, 月光) thường xuyên hộ trì hai bên. Thệ nguyện của đức Phật này không thể nghĩ bàn và sự linh nghiệm của Ngài cũng rất rộng lớn. Nếu có người thân mạng bệnh nặng, hiện tướng sắp chết, bà con quyến thuộc của người ấy tận tâm, chí thành cúng dường, lễ bái Phật Dược Sư, đọc tụng Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh 49 biến, thắp 49 ngọn đèn, tạo tràng phan 5 sắc màu của 49 cõi trời, thì người sắp lâm chung ấy sẽ được sống lại và kéo dài sinh mạng thêm. Cho nên, tín ngưỡng Phật Dược Sư đã thịnh hành từ xa xưa. Về hình tượng của Ngài, theo Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh Niệm Tụng Nghi Quỹ Cúng Dường Pháp (藥師琉璃光王七佛本願功德經念誦儀軌供養法, Taishō No. 926) cho biết rằng tay trái Ngài cầm dược khí (còn gọi là Vô Giá Châu [無價珠]), tay phải kết Tam Giới Ấn (三界印), mặc áo Ca Sa (s: kaṣāya, kāṣāya, p: kāsāya, kāsāva, 袈裟), ngồi kiết già trên đài hoa sen và dưới đài có 12 vị thần tướng. Các vị thần tướng này thệ nguyện hộ trì pháp môn Dược Sư, mỗi vị thống lãnh 7.000 quyến thuộc Dược Xoa (藥叉), tại các nơi hộ trì cho chúng sanh nào thọ trì danh hiệu Phật Dược Sư. Bên cạnh đó, hình tượng được lưu truyền phổ biến nhất về đức Phật này là hình có mái tóc xoăn hình trôn ốc, tay trái cầm bình thuốc, tay phải bắt Thí Vô Úy Ấn (施無畏印, hay Dữ Nguyện Ấn [與願印]); có 2 Bồ Tát Nhật Quang Biến Chiếu (日光遍照) và Nguyệt Quang Biến Chiếu (月光遍照) hầu hai bên, được gọi là Dược Sư Tam Tôn (藥師三尊). Hai vị Bồ Tát này là thượng thủ trong vô lượng chúng ở cõi Tịnh Độ của Phật Dược Sư. Ngoài ra còn có 8 Bồ Tát khác hầu cận bên Ngài như Văn Thù Sư Lợi (s: Mañjuśrī, 文殊師利), Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音), Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至), Bảo Đàn Hoa (寶壇華), Vô Tận Ý (無盡意), Dược Vương (s: Bhaiṣajyarāja, 藥王), Dược Thượng (s: Bhaiṣajyasamudgata, 藥上), Di Lặc (s: Maitreya, p: Metteyya, 彌勒). Theo Dược Sư Lưu Ly Quang Thất Phật Bổn Nguyện Công Đức Kinh (藥師琉璃光七佛本願功德經, Taishō No. 451) do Nghĩa Tịnh (義淨, 635-713) nhà Đường dịch có nêu tên 7 vị Phật Dược Sư, gồm: Thiện Xưng Danh Cát Tường Vương Như Lai (善稱名吉祥王如來), Bảo Nguyệt Trí Nghiêm Quang Âm Tự Tại Vương Như Lai (寶月智嚴光音自在王如來), Kim Sắc Bảo Quang Diệu Hạnh Thành Tựu Như Lai (金色寶光妙行成就如來), Vô Ưu Tối Thắng Cát Tường Như Lai (無憂最勝吉祥如來), Pháp Hải Lôi Âm Như Lai (法海雷音如來), Pháp Hải Tuệ Du Hý Thần Thông Như Lai (法海慧遊戲神通如來) và Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai (藥師琉璃光如來). Trong số đó, 6 vị đầu là phân thân của Dược Sư Như Lai. Đức Phật này cùng với Thích Ca Mâu Ni Như Lai (釋迦牟尼佛), A Di Đà Phật (阿彌陀佛) được gọi là Hoành Tam Thế Phật (橫三世佛), hay Tam Bảo Phật (三寶佛). Trong Phật Giáo, Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật ở phương Đông và A Di Đà Phật ở phương Tây được xem như là hai đấng tối cao giải quyết vấn đề sanh và tử của chúng sanh.
Văn Thù Sư Lợi
(s: Mañjuśrī, 文殊師利): hay Man Thù Thất Lợi (曼殊室利), Tàu dịch là Diệu Đức (妙德) hoặc Diệu Cát Tường (妙吉祥). Ngài sanh ra từ vai phải của mẹ, trong một gia đình Bà La Môn ở tụ lạc Đa La (多羅) tại Xá Vệ Quốc (s: Śrāvastī, p: Sāvatthī, 舍衛國). Thân thể Ngài có màu vàng tía, về sau Ngài xuất gia với đức Phật. Trong Đạo Giáo, Ngài được gọi là Văn Thù Quảng Đại Thiên Tôn (文殊廣法天尊). Văn Thù và Phổ Hiền là hai vị Bồ Tát thường theo hầu bên đức Phật Thích Ca, được gọi là Thích Ca Tam Tôn (釋迦三尊), khác với Di Đà Tam Tôn, hay Tây Phương Tam Thánh. Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh (首楞嚴三昧經) cho biết rằng: “Vào thời quá khứ vô lượng A Tăng Kỳ Kiếp, có thế giới ở phương Nam tên Bình Đẳng (平等), đức Phật của thế giới ấy tên là Long Chủng Thượng Như Lai (龍種上如來), tức là đức Văn Thù Bồ Tát hiện tại.” Hay như Ương Quật Ma La Kinh (央掘魔羅經) có giải thích về xuất xứ của Ngài rằng: “Đức Hoan Hỷ Tạng Ma Bảo Tích Phật (歡喜藏摩尼寶積佛) ở thế giới Thường Hỷ (常喜) ở phương Bắc hiện tại chính là đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” Tuy nhiên, trong Bi Hoa Kinh (悲華經) lại cho rằng: “Khi đức Phật A Di Đà đang còn làm Chuyển Luân Thánh Vương, có vị Vương Tử thứ ba tên Vương Chúng (王眾), đã phát tâm Bồ Đề, nguyện trong đời tương lai, đời đời kiếp kiếp, thực hành đạo Bồ Tát, không có dừng nghỉ, không giới hạn nơi chỗ, để trang nghiêm thanh tịnh quốc độ Phật; khiến cho tam thiên đại thiên thế giới, hằng hà sa số mười phương quốc độ rộng lớn, hợp lại thành một thế giới của vị này giáo hóa. Trong thế giới ấy có vô lượng đầy đủ các của báu, không có xúc chạm những điều nhơ nhớp, đau khổ, không có người nữ, thậm chí không có danh từ người nữ; lại không có chúng sanh chưa phát tâm Bồ Đề. Vị Vương Tử thứ ba phát nguyện xong, Bảo Tạng Phật bèn đặt cho Vương Tử tên là Văn Thù Sư Lợi, thọ ký vào thời mạt pháp tương lai sẽ thành tựu viên mãn vô thượng chánh đẳng chánh giác tại quốc độ tên Thanh Tịnh Vô Cấu Bảo Chấn (清淨無垢寶窴) với danh hiệu là Phổ Hiện Như Lai (普現如來).” Trong Quán Phật Tam Muội Hải Kinh (觀佛三昧海經) lại cho biết thêm rằng đương thời khi đức Thế Tôn sau khi vì đại chúng thuyết Quán Phật Tam Muội Hải Kinh xong, Văn Thù Bồ Tát thưa với đại chúng rằng: “Vào thời quá khứ đức Bảo Uy Đức Như Lai (寶威德如來), có một người con của Trưởng Giả kia tên Giới Hộ (戒護), khi đang con trong bào thai mẹ đã thọ Tam Quy Y. Năm lên 8 tuổi, song thân cậu bé cung thỉnh đức Thế Tôn đến tư gia thiết lễ cúng dường. Khi cậu bé diện kiến đức Phật, uy nghi an tường, từng bước đi bình ổn, khoan thai, nơi từng bước chân của Ngài đều nở ra một đóa sen, và thân tướng Ngài phóng ra ánh sáng rực rỡ. Thấy vậy cậu bé vô cùng hoan hỷ, hướng Phật cung kính lễ bái, xong từ từ nhìn chăm chăm đức Thế Tôn mà không hề chớp mắt. Chỉ một lần thấy được Phật, tức trừ đi được trăm vạn ức kiếp các tội nặng sanh tử. Đồng tử này do nhờ duyên đã thọ Tam Quy và lễ bái đức Phật, rồi quán sát tướng hảo của đức Như Lai rất kỹ lưỡng, tâm không mệt mỏi, lười biếng, nhờ vậy mà có thể gặp được vô số các đức Phật. Đồng tử lúc bầy giờ chính là Văn Thù Sư Lợi tôi đây.” Sau khi Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát nói xong, đức Phật bảo A Nan rằng: “Con hãy nên ghi nhận, nhớ kỹ câu chuyện của Văn Thù Sư Lợi, đem phổ biến đến khắp các chúng sanh, chúng sanh trong đời tương lai, nếu như có người có thể nhất tâm lễ bái, có thể tâm thành niệm Phật, có thể tâm thành quán Phật, nên biết rằng người ấy có công đức ngang bằng với Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.” Lại trong Văn Thù Phát Nguyện Kinh (文殊發願經) có nêu lên bài kệ phát nguyện phần lớn giống với bài kệ của Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩): “Nguyện con lúc mạng chung, diệt trừ các chướng ngại, mắt thấy A Di Đà, vãng sanh An Lạc Sát, sanh nơi nước Phật kia, trọn thành các nguyện lớn, A Di Đà Như Lai, trước mắt thọ ký con, trang nghiêm Phổ Hiền hạnh, đầy đủ Văn Thù nguyện, tận cùng kiếp tương lai, cứu cánh Bồ Tát hạnh.” Văn Thù, Phổ Hiền là hai vị Đại Thánh bổ tá cho đức Phật Tỳ Lô Giá Na (毘盧遮那) trên hội Hoa Nghiêm (華嚴). Hạnh nguyện độ sanh của hai vị Bồ Tát này đều lấy cơ sở của pháp môn Niệm Phật, lấy Tịnh Độ là nơi quy hướng cuối cùng. Đặc biệt trong Phóng Bát Kinh (放缽經), đức Phật có đề cao vai trò của Văn Thù Sư Lợi rằng: “Nay ta thành Phật, có ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp, oai thần tôn quý, độ thoát mười phương hết thảy chúng sanh, thảy đều nhờ ơn của Văn Thù Sư Lợi; Văn Thù Sư Lợi chính là thầy của ta. Vô lượng vô số chư Phật trong quá khứ đều là đệ tử của Văn Thù Sư Lợi, tương lai thành Phật cũng nhờ oai thần thế lực của vị ấy; ví như trên đời con nhỏ có cha mẹ, Văn Thù là cha mẹ trong Phật đạo.” Văn Thù Sư Lợi là hóa thân của trí tuệ, nên thường được gọi là Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát (大智文殊師利菩薩). Bồ Tát Văn Thù thường được gọi là Tam Thế Giác Mẫu (三世覺母, mẹ giác ngộ của ba đời). Danh hiệu Long Chủng Thượng Tôn Vương Như Lai (龍種上尊王如來), hay Long Chủng Thượng Tôn Vương Phật trong Thủ Lăng Nghiêm Tam Muội Kinh (首楞嚴三昧經) là Bồ Tát Văn Thù. Hay như danh hiệu Phổ Minh Phật (普明佛) trong Bát Thập Bát Phật Hồng Danh Bảo Sám cũng là Bồ Tát Văn Thù. Trong các kinh điển thường gọi Bồ Tát Văn Thù là Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử (s: Mañjuśriyā Kumārabhūtena, 文殊師利法王子), có nghĩa rằng tất cả Bồ Tát đều gọi là con của đức Như Lai Pháp Vương. Kinh điển thường nêu Bồ Tát Văn Thù là Pháp Vương Tử là vì ngài là vị đệ tử thượng thủ trong hàng Bồ Tát, được xem như cánh tay phải bên cạnh Đức Phật. Trưởng Lão Xá Lợi Phất là Trí Tuệ Đệ Nhất trong hàng đệ tử Thanh Văn, còn Văn Thù Sư Lợi là Trí Tuệ Đệ Nhất trong hàng Bồ Tát Đại Thừa. Nhân trong quyển 80 của Hoa Nghiêm Kinh có câu: “Tại phương Đông Bắc có ngọn núi tên Thanh Lương Sơn (清涼山); từ xưa đến nay, các chúng Bồ Tát đều dừng chân trú tại núi đó, hiện có Bồ Tát tên Văn Thù Sư Lợi, cùng với quyến thuộc, các vị Bồ Tát một vạn người, thường trong núi ấy, tuyên diễn thuyết pháp.” Cho nên, Ngũ Đài Sơn (五台山, còn gọi là Thanh Lương Sơn) ở Tỉnh Sơn Tây, Trung Quốc được công nhận là đạo tràng của Văn Thù Bồ Tát, trở thành một trong 4 ngọn núi danh tiếng. Nga Mi Sơn (峨嵋山) là thánh địa của Phổ Hiền Bồ Tát (普賢菩薩). Phổ Đà Sơn (普陀山) là thánh địa của Quan Thế Âm Bồ Tát. Cửu Hoa Sơn (九華山) là thánh địa của Địa Tạng Vương Bồ Tát (地藏王菩薩).
như lai
(如來) Phạm, Pàli: Tathàgata. Hán âm: Đa đà a già đà, Đa tha a già độ, Đa đà a già độ, Đát tát a kiệt, Đát tha nga đa, Đa a kiệt. Cũng gọi Như khứ. Từ ngữ tôn xưng đức Phật, là 1 trong 10 hiệu của Phật. Tiếng Phạm Tathàgata có thể được chia làm 2 là:Tathà-gata(Như khứ)và Tathà-àgata(Như lai). Nếu theo cách thứ nhất thì có nghĩa là noi theo đạo Chân như mà đến quả Phật Niết bàn, cho nên gọi là Như khứ; còn nếu theo cách thứ 2 thì có nghĩa là từ chân lí mà đến (như thực mà đến)và thành Chính giác, cho nên gọi là Như lai. Vì đức Phật theo chân lí mà đến và từ chân như mà hiện thân, nên tôn xưng Ngài là Như lai. Kinh Thanh tịnh trong Trường a hàm quyển 12 (Đại 1, 75 hạ) nói: Từ khi thành đạo đến lúc vào Niết bàn, trong suốt khoảng thời gian ấy, đức Phật nói ra điều gì cũng đều như thực, cho nên gọi là Như lai. Lại nữa, những điều đức Như lai nói đều đúng lí Như, cho nên gọi là Như lai. Luận Đại trí độ quyển 55 (Đại 25, 454 hạ) nói: Tu hành 6 Ba la mật được thành Phật đạo (...) nên gọi là Như lai. Trí biết tất cả các pháp Như, từ trong Như đến, nên gọi là Như lai. Trường bộ kinh chú (Sumaígalavilàsinì) tiếngPàlinêu ra 9 nghĩa của từ Như lai; luận Thập trụ tì bà sa quyển 1 thì nêu 11 nghĩa. Còn kinh Đại bảo tích quyển 90, kinh Đại uy đức đà la ni quyển 13, phẩm Như lai tạng trong luận Phật tính quyển 2... cũng đều nêu ra nhiều nghĩa khác nhau. Lại theo luận Thành thực quyển 1 và Hành tông kí quyển thượng, thì người noi theo đạo chân như đến mà thành Chính giáo, là Chân thân Như lai, còn người theo đạo chân như đến để hóa độ chúng sinh trong 3 cõi, là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai y cứ vào từ ngữ Thừa như thực đạo lai thành chính giác trong luận Thành thực quyển 1, để giải thích nghĩa Chân thân Như lai và Ứng thân Như lai, gọi là Nhị Như Lai. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì: Thừa(trí như như)như thực(cảnh như như) đạo(nhân)lai thành Chính giác (quả), nghĩa là nhân, cảnh và trí khế hợp, công quả tròn đầy, đó là Chân thân Như lai; còn dùng trí như thực noi theo đạo như thực(cảnh và trí khế hợp)mà đến 3 cõi để thị hiện 8 tướng thành đạo thì là Ứng thân Như lai. Ngoài ra, tông Thiên thai còn y cứ vào từ ngữ Như pháp tướng giải, như pháp tướng thuyết trong luận Đại trí độ quyển 2 mà giải thích nghĩa Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, gọi là Tam Như Lai. Theo Pháp hoa văn cú quyển 9 thì nghĩa Tam Như Lai là: Trùm khắp mọi nơi mà không sai khác là Như; không động mà ứng hiện đến khắp mọi nơi là Lai: Đây chỉ cho pháp thân Như lai. Từ lí gọi là Như, từ trí là Lai: Đây chỉ cho Báo thân Như lai. Cảnh và trí thầm hợp là Như, đi đến 3 cõi quay bánh xe pháp mà nói diệu pháp là Lai: Đây chỉ cho Ứng thân Như lai. [X. kinh Đại bát niết bàn Q.18 (bản Bắc); kinh Thập hiệu; kinh Tọa thiền tam muội Q.thượng; luận Đại trí độ Q.10, 21, 70, 72, 85; Vô lượng thọ Như lai quán hành cúng dường nghi quĩ; phẩm Bồ đề trong luận Du già sư địa Q.38; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.1]. (xt. Thập Hiệu).
phiền não
(煩惱) Phạm: Kleza. Pàli:Kilesa. Hán âm: Cát lệ xá. Cũng gọi Hoặc. Gọi chung những tác dụng tinh thần làm cho tâm hữu tình bấn loạn, buồn sầu, khổ não. Để đạt mục đích tham muốn, thỏa mãn những dục vọng của cái ta mà con người có ý thức hoặc vô ý thức thường đắm chìm trong cảnh buồn vui nên bị phiền não trói buộc. Trong tất cả các loại tác dụng tâm, giác ngộ là mục đích cao nhất trong Phật giáo, cho nên bất luận tác dụng tinh thần nào làm trở ngại sự thực hiện giác ngộ đều được gọi là phiền não. Phiền não tùy theo tính chất có nhiều tên gọi như: Tùy miên (Phạm: Anuzaya), Triền (Phạm:Paryavasthàna), Cái (Phạm: Nivaraịa), Kết (Phạm:Saôyojana), Phược (Phạm: Bandhana), Lậu (Phạm: Àsrava), Thủ (Phạm: Upàdàna), Hệ (Phạm: Grantha), Sử, Cấu, Bạo lưu, Ách, Trần cấu, Khách trần... Nếu phân loại thêm nữa thì rất phức tạp, nhưng thông thường cho Tham, Sân, Si là nguồn gốc của tất cả phiền não và chia làm 2 loại là Căn bản phiền não (phiền não gốc) và Chi mạt phiền não ( phiền não ngọn). Căn bản phiền não có 6: Tham, Sân, Si (Vô minh),Mạn, Nghi và Kiến (Ác kiến); trong đó, Kiến lại được chia làm 5 thứ: Thân kiến, Biên chấp kiến, Tà kiến, Kiến thủ kiến và Giới cấm thủ kiến, gọi chung là Thập phiền não (Thập sử). Chi mạt phiền não thì tùy thuộc vào Căn bản phiền não mà sinh khởi, theo luận Câu xá thì có 19 thứ gồm: Phóng dật, giải đãi..., còn theo luận Duy thức thì có 20 thứ gồm: Thất niệm, tán loạn, bất chính tri... Ngoài ra còn có các phương pháp phân loại như: Tam lậu, Tam kết, Tứ bạo lưu, Tứ thủ, Ngũ cái, Ngũ kết, Lục cấu, Thất lưu, Thập triền..., hoặc gọi là Bát bách phiền não (108 phiền não), hoặc vì cách tính toán khác nhau, nên có các thuyết bất đồng như Bát vạn tứ thiên phiền não (84.000 phiền não). [X. luận Nhập a tì đạt ma Q.thượng; luận Đại tì bà sa Q.43, 46, 60; luận Câu xá Q.20, 21; luận Phật tính Q.3; luận Thành duy thức Q.6].
công đức
(功德) Phạm: Guịa. Dịch âm là Cụ nẵng, Ngu nẵng, Cầu na. Hàm ý công năng phúc đức. Cũng nói về quả báo do làm việc thiện mà được. Cảnh đức truyền đăng lục quyển 3 có chép việc vua Vũ đế nhà Lương hỏi tổ Bồ đề đạt ma như sau (Đại 51, 219 thượng): Từ ngày trẫm lên ngôi đến nay, trẫm đã làm chùa, viết kinh, độ tăng rất nhiều không thể kể hết, như thế có công đức gì không? Tổ đáp: Chẳng có công đức gì cả. Bởi vì những việc thiện mà nhà vua làm đó chỉ là cái nhân hữu lậu sẽ được quả nhỏ ở cõi người, cõi trời, tuy có mà chẳng thực. Còn cái công đức chân thực thì là tịnh trí tròn sáng, thể tự vắng lặng, không cầu gì ở đời. Vãng sinh luận chú quyển thượng cũng nói rõ hai thứ công đức hư dối và chân thực. Đại thừa nghĩa chương quyển 9 (Đại 44, 649 hạ), nói: Công đức - công, có nghĩa là công năng, có cái công giúp cho điều phúc lợi, cho nên gọi là Công - công ấy khiến làm được những việc tốt lành có đức, gọi là công đức. Thắng man bảo quật quyển thượng phần đầu (Đại 37, 11 trung), nói: Ác diệt sạch gọi là công, thiện tròn đầy gọi là đức. Lại đức là được - do công tu mà được, cho nên gọi là công đức. Lại nữa, sự sâu rộng của đức thí dụ như biển, gọi là biển công đức (Phạm: Guịa-sàgara) - nó quí trọng như của báu nên gọi là công đức bảo (Phạm: Guịa-ratna). Ngoài ra còn có nhiều tên gọi khác như: công đức tạng, công đức tụ, công đức trang nghiêm, công đức lâu v.v... [X. Duy ma nghĩa kí Q.1 (Tuệ viễn), Nhân vương bát nhã kinh sớ Q.thượng phần 1 (Cát tạng)]. (xt. Lợi Ích).
dục cầu
(欲求) Một trong hai thứ mong cầu, tức là mong cầu được thỏa mãn mọi dục vọng. Luận Thành thực quyển 10 nêu hai thứ mong cầu: 1. Mong cầu được thỏa mãn mọi dục vọng ở đời hiện tại gọi là Dục cầu. 2. Mong cầu các dục vọng cho thân đời sau gọi là Hữu cầu.
lục căn
(六根) Phạm:Wađ indriyàịi. Cũng gọi Lục tình. Sáu khí quan cảm giác, 6 xứ trong 12 xứ, 6 căn giới trong 18 giới. Sáu căn là: 1. Nhãn căn: Cơ quan thị giác và năng lực thấy biết. 2. Nhĩ căn: Cơ quan thính giác và năng lực nghe biết. 3. Tỉ căn: Cơ quan khứu giác và năng lực ngửi mùi. 4. Thiệt căn: Cơ quan vị giác và năng lực nếm biết. 5. Thân căn: Cơ quan xúc giác và năng lực chạm biết. 6. Ý căn: Cơ quan tư duy và năng lực nghĩ biết. Năm căn trước cũng gọi là Ngũ căn, thuộc về sắc pháp (vật chất), cho nên gọi là Sắc căn. Có 2 loại: 1. Phù trần căn: Cơ quan sinh lí, lấy 4 đại (đất, nước, lửa, gió) làm thể, khi đối trước cảnh thì sinh ra thức, nhưng chỉ là tác dụng phụ trợ mà thôi. 2. Thắng nghĩa căn: Lấy tịnh sắc do 4 đại sinh ra làm tính, có tác dụng chính yếu khi căn đối cảnh sinh ra thức. Đối lại với 5 căn trước thuộc sắc pháp, Ý căn thuộc tâm pháp, là chỗ nương tựa của tâm để sinh khởi tác dụng tâm lí, tức là Vô sắc căn. Cứ theo thuyết của Hữu bộ, khi 6 thức của sát na trước rơi vào quá khứ, thì Ý căn liền dẫn khởi đẳng vô gián duyên của 6 thức vào sát na kế tiếp. Bởi thế, tác dụng của 6 thức thường phải lấy Ý căn làm chỗ nương (thông y). Nhưng ngoài Ý căn ra, còn có căn đặc biệt làm chỗ nương (biệt y) cho 5 thức trước. Còn Ý thức thì nương vào Ý căn, chứ không có căn đặc biệt nào khác. Hành phái Du già theo nghĩa Duy thức mà nói về 6 căn, chủ trương 6 căn, 6 cảnh đều là do thức bên trong biến hiện ra. Sáu căn có thể được xem là toàn thể thân tâm của con người, như kinh Pháp hoa cho rằng đọc tụng, biên chép kinh điển thì 6 căn được thanh tịnh. [X. luận Câu xá Q.1-3; luận Thành duy thức Q.1; luận Thuận chính lí Q.6; luận Đại thừa a tì đạt ma tạp tập Q.1]. (xt. Ngũ Căn, Lục Cảnh, Lục Thức, Căn).

Kinh Sách Liên Quan

    
1 Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai Bổn Nguyện Công Đức Kinh Ban Phiên Dịch Vạn Phật Thánh Thành Tải Về
2 Dược Sư Kinh Sám Hòa Thượng Thích Trí Quang Tải Về
3 Kinh Dược Sư dịch giảng Thượng Tọa Thích Vĩnh Hóa Tải Về