Tác Giả

Đại Sư Hám Sơn

1. Bài Tựa Về Tịnh Độ Chỉ Quy
2. Chánh Hạnh Niệm Phật
3. Cư Sĩ Tại Gia Thọ Năm Món Dục Lạc Nồng Hậu Cội Rễ Phiền Não Sâu Dày
4. Đại Sư Hám Sơn Khai Thị Đại Chúng
5. Điều Thiết Yếu Khi Niệm Phật
6. đối với sanh tử tâm phải khẩn thiết
7. Đức Phật trụ thế thuyết pháp lợi sanh khiến bốn chúng đều được đắc độ
8. Được Thân Người Là Khó
9. Khai Thị Cho Thiền Nhân Huệ Cảnh
10. Khai Thị Cho Tịnh Chi
11. Khai Thị Tham Thiền Thiết Yếu
12. Khai Thị Về Những Điếm Thiết Yếu Khi Niệm Phật
13. Khai Thị Về Tịnh Độ
14. Luận Về Sự Cảm Ứng
15. Người Học Đạo Trước Hết Phải Quyết Định Phát Khởi Ý Chí Tu Hành Dài Lâu
16. Người Xuất Gia Phải Hội Đủ Những Điều Kiện Sau
17. Nhân Quả Thiện Ác Trên Thế Gian Đều Theo Nhau Như Bóng Với Hình
18. Những Điểm Thiết Yếu Khi Niệm Phật
19. Pháp Môn Tịnh Độ
20. Phật Dạy Rằng Pháp Ở Trên Và Dưới Ba Cõi Chỉ Do Một Tâm Tạo Tác
21. Rời Tham Dục Được Tịch Tĩnh Là Điều Quan Trọng Nhất
22. Sự Thiết Yếu Của Việc Niệm Phật Cùng Tham Thiền
23. Tất Cả Nghiệp Hạnh Ở Thế Gian Đều Là Vô Thường
24. Thư Đáp Đức Vương
25. Tịnh Độ Chỉ Quy
12

Pháp Âm Liên Quan Tới Tác Giả

Tôi sinh ở Toàn Tiêu thuộc quận Nam Kinh. Mẹ tôi một Phật tử mộ Đạo, suốt đời thờ Đức Đại Sĩ Quan Thế Âm. Một hôm bà nằm mộng thấy Đức Đại Sĩ dắt đến một đứa trẻ bà vui mừng ôm lấy. Sau đó bà mang thai, và tôi ra đời ngày 12 tháng 10, 1545.

Vào năm 1574 tôi hai mươi chín tuổi. Tôi đã từng gặp khó khăn không hiểu nổi luận “Vật Bất Thiên” của Tăng Triệu, nhất là phần về Toàn Lam và Yển Nhạc mà tôi đã thắc mắc bao năm nay. Nhưng lần này khi xem đến chỗ vị Phạm Chí già trở về nhà sau khi làm tăng cả đời và nghe hàng xóm la, “Ồ, xem kìa cái người ngày xưa vẫn còn!” và vị Phạm Chí trả lời, “Không đâu, trông tôi có thể giống người xưa ấy nhưng thật ra tôi không phải là hắn”. Tôi hoát nhiên ngộ. Đoạn tôi tự nhủ, “Thật ra, vạn pháp nào có đến đi ! Ôi, chân lý này đúng biết nhường nào!”. Tôi lập tức rời chỗ ngồi ra lạy Phật. Đang khi đảnh lễ tôi cảm thấy, “Chẳng có động khởi”. Tôi bèn vẹt màn cửa và ra đứng ở bục bên ngoài. Một cơn gió bỗng thổi qua cây cối trong sân, cuốn lá bay lên trời. Tuy nhiên, trong khi nhìn lá bay, tôi chẳng cảm thấy có gì động cả. Tôi tự nhủ: “Đây chính là ý chỉ của Toàn Lam và Yển Nhạc. À giờ đây ta hiểu rồi!”. Từ đó trở đi, vấn đề sinh tử -mối nghi “sinh tùng hà lai, tử tùng hà khứ”- hoàn toàn thấu suốt. Tôi liền làm một bài kệ:

Sinh tử ngày đêm,
Nước trôi hoa tạ.
Hôm nay mới biết,
Lỗ mũi hướng hạ.
(Sinh tử trú dạ,
Thủy lưu hoa tạ.
Kim nhật phương tri,
Tỉ khổng hướng hạ.)

Vào năm 1575 tôi ba mươi tuổi. Thức ăn thường ngày của tôi là cháo cám, cỏ hoang và nước cơm. Khi tôi mới đến núi này có người cho hai, ba thưng gạo, có thể ăn được hơn sáu tháng. Một hôm sau khi ăn cháo xong đi kinh hành. Bỗng nhiên tôi đứng lặng, thấy mình không còn thân tâm. Tôi chỉ thấy một Toàn Thể chiếu diệu – biến tại, viên mãn quang minh. Như đại viên kính mà sơn hà đại địa chỉ là ảnh hiện trong ấy. Sau khi bừng tỉnh khỏi kinh nghiệm ấy, tôi thấy thân tâm “trạm nhiên” như thể không có, bèn làm kệ:

Hốt nhiên, tâm thôi vọng động;
Nội thân, ngoại cảnh – trạm nhiên,
Sau lần chuyển thân,
Thấu thoát cái Không lớn.
Ôi! Vạn pháp thung dung lai khứ!

Từ đó trở đi, cả kinh nghiệm nội lẫn ngoại tại trở nên trong suốt. Các âm thanh, tiếng nói, hình ảnh, cảnh vật, sắc tướng, và đối tượng không còn là trở ngại nữa. Tất cả những mối nghi trước đây đều tiêu tán. Khi tôi về trù phòng, tôi thấy cái nồi lớn phủ đầy bụi. Nhiều ngày đã trôi qua suốt cái kinh nghiệm ấy mà tôi không hay biết, vì chỉ có riêng mình với mình.

Vào 1576 tôi ba mươi mốt tuổi. Tôi mặc tọa và bắt đầu quan sát chung quanh, vẫn chưa chắc chắn là tôi đang ở đâu. Đoạn tôi nhớ lại những kinh nghiệm đã qua, và cả những kinh nghiệm ấy lẫn các kinh nghiệm hiện tại hình như là các biến cố trong mộng – không còn đạt đến được hay hiện hữu nữa. Bất cứ gì đã làm phiền não tôi biến mất như mây đen trước một bầu trời trong trẻo. Tất cả không gian trong suốt như thể vừa được tẩy rửa. Tất cả những hình ảnh bóng dáng tan dần vào cái không khoảng khoát thanh tịnh. Tâm tôi quá trống trải, thế gian quá êm đềm, niềm vui quá to tát, chữ nghĩa không thể nào mô tả được. Tôi bèn viết bài thơ như sau:

Khi nào hoàn toàn bình tịnh,
Ta đạt được Chân Giác.
Vì mặc chiếu dung nhiếp cả không gian
Ta nhìn lại được thế gian,
Chỉ toàn đầy mộng huyễn!
Ôi! Hôm nay ta thực sự liễu ngộ
Giáo lý của đức Phật chân thực nhường nào!

Vào năm 1579 tôi ba mươi bốn tuổi. Tôi mải miết chép kinh. Trong khi chép, mỗi một nét chữ mỗi một chấm câu, tôi niệm danh hiệu Phật một lần. Trong khi ở núi chép kinh, tôi luôn luôn có những giấc mơ kỳ diệu. Một đêm tôi mơ tôi vào hang Kim Cương. Trên cửa hang bằng đá, có khắc “Đại Trí Điện”. Khi tôi bước vào, một khoảng mênh mông mở rộng. Những lâu đài nguy nga trang nghiêm không thể tả sừng sững trước tôi. Trong lâu đài ở giữa chỉ có một toạ cụ vĩ đại, trên đó Đại Sư Thanh Lương nằm, trong khi bạn tôi Diệu Phong đứng cạnh làm thị giả. Lập tức tôi sụp lạy trước ngài, đoạn đứng bên trái ngài. Rồi Thanh Lương Đại Sư giảng giáo lý Hoa Nghiêm cho chúng tôi. Trước hết ngài giảng Nhập Pháp Giới Viên Dung Quang Cảnh. Ngài giảng sự tương nhập của vô lượng Phật sát và sự “tương dung” của Chủ, Bạn – Cảnh Giới khứ lai bất động. Ngài giảng đến đâu, cảnh giới hiện tiền lập tức. Nhờ thế tôi hiểu sự tương nhập của thân tâm. Sau bài pháp, Diệu Phong hỏi, “Đây là cảnh giới kinh nghiệm gì?” Đại Sư cười đáp, “Đây là cảnh giới phi cảnh giới”. Khi tỉnh dậy tôi thấy thân tâm trạm nhiên hài hoà – không còn trở ngại và hoài nghi.

Một đêm khác tôi mơ thấy thân tôi bay lên trời, trôi nổi trên vòm trời cao ngất. Đoạn tôi từ từ đáp xuống một nơi mà tôi chẳng thấy có gì cả. Ở đó mặt đất trong suốt, như một mặt kính pha lê vĩ đại. Tôi nhìn về nơi xa tít nơi có một lâu đài nguy nga, lớn đến nỗi choáng cả bầu trời. Tất cả các biến cố, tất cả thiên hạ và hành động của họ, kể cả những chuyện tầm phào nơi chợ triền đều phản chiếu và hiển hiện trong toà lâu đài mênh mông ấy. Ở giữa có một tòa to cao, mầu tím. Tôi tự nhủ, “Đây hẳn phải là Kim Cương toà. Sự rực rỡ của tòa nhà này, đến mức mà trí tưởng tượng của con người không hình dung nổi. Hoan hỉ được ngắm một cảnh tuyệt như vậy, tôi muốn đến gần lâu đài. Đoạn tôi nghĩ, “Làm thế nào mà những sự thể bất tịnh và tầm thường của thế gian lại được hiển hiện trong tòa lâu đài thanh tịnh và thiêng liêng này?”. Ngay khi ý tưởng này khởi lên, tòa lâu đài dang xa khỏi tôi. Tôi bèn nói, “Tịnh hay bất tịnh, đều do tâm mình!”. Lập tức tòa lâu đài hiện ra gần gũi.

Sau một lát tôi nhận thấy có nhiều tăng thị giả tất cả đều cao lớn duyên dáng và đẹp đẽ đứng trước Đại Tòa. Bỗng một ông tăng từ sau tòa xuất hiện cầm một cuốn kinh trong tay và nói với tôi, “Thầy sẽ giảng kinh này. Thầy sai tôi đưa kinh cho ông”. Tôi nhận kinh và quan sát, thấy kinh toàn viết bằng chữ Phạn – một ngôn ngữ mà tôi không hiểu. Tôi bèn hỏi ông tăng, “Thầy là ai?”. Ông tăng đáp, “Di Lặc Bồ Tát”. Theo chân ông tăng tôi leo những bậc lên một bục cao tôi đứng lặng ở đó mắt nhắm, thấy vừa hồi hộp vừa hoan hỉ. Nghe tiếng chuông ngân; tôi thấy Di Lặc Bồ Tát đã lên gần đến Tòa. Tôi đảnh lễ. Gương mặt ngài rực rỡ ánh vàng không gì trên thế gian này sánh được. Rõ rệt rằng tôi là khách danh dự và Di Lặc Bồ Tát sẽ giảng kinh này đặc biệt cho tôi. Tôi quỳ xuống và mở kinh ra thì nghe ngài nói, “Phân biệt là Thức, vô phân biệt là Trí. Dựa vào Thức là Nhiễm, dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có sinh tử; Tịnh chẳng có chư Phật”. Bỗng nhiên cả thân lẫn tâm thấy trống không, và tôi tỉnh giấc với tiếng ngài còn vẳng bên tai. Từ ấy tôi thấu triệt được sự dị biệt giữa Thức và Trí. Tôi biết tôi đã lên cõi Trời Đâu Suất – Cung điện của Đức Di Lặc.

Vào 1581 tôi ba mươi sáu tuổi. Tôi nguyện khai một Pháp Hội vĩ đại. Cũng năm ấy Diệu Phong đã thích máu chép trọn Kinh Hoa Nghiêm, Sư cũng muốn lập một Pháp Hội vô phân biệt. Để thực hiện mục đích Sư lên kinh sư quyên tiền. Trong một thời gian ngắn thu được tiền và thực phẩm cần thiết, mà còn mời được cả năm trăm cao tăng khắp nước đến dự Hội. Tất cả các vấn đề quản lý, như chuẩn bị đồ tiếp tế và lương thực, chỗ ở, vân vân, đều do một tay tôi lo liệu. Tôi bận bịu đến nỗi suốt chín mươi ngày đêm tôi không có dịp để ngủ. Vào một ngày tháng mười Diệu Phong đến với năm trăm vị tăng. Tất cả Pháp Hội kể cả trong lẫn ngoài có khoảng một ngàn người. Tất cả tiện nghi, đồ tiếp viện, và thực phẩm đều đâu vào đấy. Suốt cuộc hội không hề có thiếu thốn hay mâu thuẫn.

Trong bẩy ngày đầu tiên chúng tôi tổ chức một hội cầu nguyện cho các sinh linh ở dưới nước cũng như ở trên cạn. Suốt thời gian này tôi không ăn lấy một hạt cơm, mà chỉ uống nước. Mỗi ngày tôi lo thay năm trăm bàn đồ cúng Phật, tất cả đều hoàn hảo mỹ mãn. Thiên hạ không hiểu làm sao tôi có thể làm được; họ tin rằng tôi phải có thần thông. Nhưng thật ra, tôi biết tôi đủ sức làm vậy nhờ ân điển của Đức Phật.

Vào 1586 tôi bốn mươi mốt tuổi. Sau một thời gian dài hành cước và làm việc, tôi đã có thể ở yên trong liêu mới cất của riêng tôi. Cả thân tâm được ngơi nghỉ nên tôi bắt đầu cảm thấy an lạc kỳ diệu. Một buổi chiều trong khi thiền định tôi thấy rõ rệt cái Toàn Thể Chiếu Diệu, trong suốt, trạm nhiên, trống không, và minh nhiên như một đại dương trong vắt – chẳng có gì hiện hữu! Tôi liền thốt ra bài kệ sau:

Biển lặng trời thanh tuyết nguyệt quang,
Bên trong phàm thánh tuyệt hành tàng.
Mắt kim cương mở không hoa rụng;
Đại địa đều qui tịch diệt tràng!

Sau kinh nghiệm này tôi trở về phòng. Trên bàn tôi có cuốn Kinh Lăng Nghiêm. Tôi tình cờ mở ra và gặp câu văn như sau:
“Rồi ông sẽ thấy cả thân lẫn tâm, cùng với núi, sông, không gian, và trái đất của thể giới bên ngoài thẩy đều ở trong cái Chân Tâm linh diệu này”.
Bỗng nhiên chỉ thú của cả cuốn kinh liễu ngộ rõ rệt trong tâm tôi và hiện ra linh động trước mắt tôi. Tôi liền viết một tiểu luận “Lăng Nghiêm Huyền Cảnh”, trong khoảng thời gian một cây nến cháy. Tôi vừa viết xong thì Thiền đường mở cửa. Gọi vị duy na vào, tôi cho ông đọc luận tôi vừa viết. Khi nghe ông đọc tôi cảm thấy như tôi nghe những ngôn ngữ từ một giấc mộng.

Vào 1589 tôi bốn mươi bốn tuổi. Vào năm này tôi bắt đầu đọc Đại Tạng. Tôi cũng giải Kinh Pháp Hoa và Khởi Tín Luận.
Từ ngày rời Ngũ Đài Sơn tôi đã có ý định về thăm song thân, nhưng tôi sợ bị những hệ luỵ thế gian làm mờ mắt. Lúc ấy tôi tự xét mình kỹ lưỡng để quyết định xem tôi đủ sức về thăm cha mẹ hay không. Một buổi chiều trong khi thiền định, tôi ngẫu nhiên thốt ra bài kệ sau:
Ngày ngày sóng nổi ngập thái không,
Chim cá cùng bơi một kính trong.
Đêm qua trăng bỗng rụng bên trời,
Sáng bừng như lẫn ngọc ly long.

Lập tức tôi gọi thị giả và bảo ông ta, “Bây giờ tôi có thể về quê thăm cha mẹ được rồi!”.

Cố Giáo Sư Minh Chi
Cố Giáo Sư Trương Đình Nguyên
Cư Sĩ Bành Tế Thanh
Cư Sĩ Bích Ngọc
Cư Sĩ Cao Hữu Đính
Cư Sĩ Chân Hiền Tâm
Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Cư Sĩ Đạo Quang
Cư Sĩ Diệu Âm
Cư Sĩ Diệu Hà
Cư Sĩ Định Huệ
Cư Sĩ Đoàn Trung Còn
Cư Sĩ Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Cư Sĩ Dương Đình Hỷ
Cư Sĩ Đường Tương Thanh
Cư Sĩ Giang Đô Trịnh Vĩ Am
Cư Sĩ Giang Vị Nông
Cư Sĩ Hạnh Cơ
Cư Sĩ Hồ U Trinh Ở Núi Tứ Minh
Cư Sĩ Hoàng Phước Đại
Cư Sĩ Hồng Như
Cư Sĩ Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Cư Sĩ Huệ Thiện
Cư Sĩ Huỳnh Lão
Cư Sĩ Khánh Vân
Cư Sĩ Lâm Cự Tinh
Cư Sĩ Lâm Khán Trị
Cư Sĩ Lê Huy Trứ MSEE
Cư Sĩ Lê Sỹ Minh Tùng
Cư Sĩ Liêu Nguyên
Cư Sĩ Liêu Địch Liên
Cư Sĩ Lưu Minh Chánh
Cư Sĩ Lưu Thừa Phù Ghi Chép
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh
Cư Sĩ Lý Nhất Quang
Cư Sĩ Mao Lăng Vân cung kính kết tập
Cư Sĩ Minh Chánh
Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt
Cư Sĩ Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyên Giác
Cư Sĩ Nguyên Hồng
Cư Sĩ Nguyễn Lang
Cư Sĩ Nguyên Phong
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sâm , Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyễn Hữu Kiệt
Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến
Cư Sĩ Nguyễn Xuân Chiến
Cư Sĩ Như Hòa
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Cư Sĩ Phúc Trung
Cư Sĩ Phương Luân
Cư Sĩ Quách Huệ Trân
Cư Sĩ Quảng Minh
Cư Sĩ Tâm Phước
Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Cư Sĩ Thiên Nhơn
Cư Sĩ Thôi Chú Bình
Cư Sĩ Thuần Bạch
Cư Sĩ Tiểu Bình Thật
Cư Sĩ Tịnh Mặc
Cư Sĩ Tịnh Nghiệp
Cư Sĩ Tịnh Thọ
Cư Sĩ Tô Khắc Minh
Cư Sĩ Tôn A Tử
Cư Sĩ Trần Anh Kiệt
Cư Sĩ Tuệ Khai
Cư Sĩ Uông Trí Biểu
Cư Sĩ Viên Đạt
Cư Sĩ Võ Đình Cường
Cư Sĩ Vọng Tây
Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Diễn Bồi
Đại Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Mộng Tham
Đại Lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tinh Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Đại Sư An Thế Cao
Đại Sư Bách Trượng Hoài Hải
Đại Sư Châu Hoằng
Đại Sư Chí Công
Đại Sư Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa
Đại Sư Đạo Nguyên
Đại Sư Đạo Tuyên
Đại Sư Diệu Hiệp
Đại Sư Diệu Khẩu
Đại Sư Diệu Không
Đại Sư Đời Tống, Nguyên Chiếu
Đại Sư Duy Tắc Thiền sư Thiên Như Đời Dao Tần
Đại Sư Gia Tường Cát Tạng
Đại Sư Hải Đông
Đại Sư Hám Sơn
Đại Sư Hàm Thị
Đại Sư Hoài Cảm
Đại Sư Hoằng Nhất
Đại Sư Hoằng Tán
Đại Sư Huệ Ngộ
Đại Sư Khuy Cơ
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc
Đại Sư Pháp Tạng Hiền Thủ
Đại Sư Phi Tích
Đại Sư Pomnyun Sunim Trí Quang
Đại Sư Quán Đảnh
Đại Sư Quảng Khâm
Đại Sư Tăng Triệu
Đại Sư Thái Hư
Đại Sư Thân Loan
Đại Sư Thang Hương Danh
Đại Sư Thanh Lương Trừng Quán
Đại Sư Thật Hiền
Đại Sư Thật Xoa Nan Đà
Đại Sư Thích Ấn Thuận
Đại Sư Thích Tăng Triệu
Đại Sư Thích Tịnh Chiếu
Đại Sư Thiện Đạo Đời Đường
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả
Đại Sư Thượng Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Tĩnh Am
Đại Sư Tông Bổn
Đại Sư Tri Lễ
Đại Sư Triệt Ngộ
Đại Sư Trung Phong Minh Bổn
Đại Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Ưu Đàm
Đại Sư Vi Lâm Đạo Bái
Đại Sư Viên Hư
Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ
Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Đời Đường Sa Môn Văn Thẩm Thiếu Khương
Đời Lưu Tống Cương Lương Gia Xá
Hòa Thượng DaLai Lama
Hòa Thượng Thích Bảo Lạc
Hòa Thượng Thích Bích Liên
Hòa Thượng Thích Chân Thường
Hòa Thượng Thích Diệu Liên
Hòa Thượng Thích Đồng Bổn
Hòa Thượng Thích Đổng Minh
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Hòa Thượng Thích Đức Thắng
Hòa Thượng Thích Giác Khang
Hòa Thượng Thích Giác Qủa
Hòa Thượng Thích Giác Quang
Hòa Thượng Thích Hân Hiền
Hòa Thượng Thích Hoằng Tri
Hòa Thượng Thích Hoằng Trí
Hòa Thượng Thích Hồng Đạo
Hòa Thượng Thích Hồng Nhơn
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng
Hòa Thượng Thích Huyền Dung
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
Hòa Thượng Thích Huyền Vi
Hòa Thượng Thích Khánh Anh
Hòa Thượng Thích Khế Chơn
Hòa Thượng Thích Mãn Giác
Hòa Thượng Thích Minh Cảnh
Hòa Thượng Thích Minh Châu
Hòa Thượng Thích Minh Lễ
Hòa Thượng Thích Minh Thành
Hòa Thượng Thích Nhất Chân
Hòa Thượng Thích Như Điển
Hòa Thượng Thích Pháp Chánh
Hòa Thượng Thích Phước Nhơn
Hòa Thượng Thích Phước Sơn
Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Hòa Thượng Thích Quang Phú
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Hòa Thượng Thích Tâm Quang
Hòa Thượng Thích Thái Hòa
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Hòa Thượng Thích Thiên Ân
Hòa Thượng Thích Thiện Châu
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ
Hòa Thượng Thích Thiện Phụng
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Hòa Thượng Thích Thông Bửu
Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Hòa Thượng Thích Tịnh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Tịnh Từ
Hòa Thượng Thích Toàn Châu
Hòa Thượng Thích Trí Chơn
Hòa Thượng Thích Trí Hoằng
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
Hòa Thượng Thích Trung Quán
Hòa Thượng Thích Từ Quang
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa
Hòa Thượng Thích Viên Giác
Hòa Thượng Thích Viên Huy
Hòa Thượng Thích Viên Lý
Tam Tạng Pháp Sư Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm
Tam Tạng Pháp Sư Đề Vân Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Thượng Nhân Pháp Nhiên
Thượng Tọa Thích Chân Tính
Thượng Tọa Thích Chánh Lạc
Thượng Tọa Thích Đồng Ngộ
Thượng Tọa Thích Đức Trí
Thượng Tọa Thích Giải Hiền
Thượng Tọa Thích Hằng Đạt
Thượng Tọa Thích Hạnh Bình
Thượng Tọa Thích Huyền Châu
Thượng Tọa Thích Mật Thể
Thượng Tọa Thích Minh Tuệ
Thượng Tọa Thích Nguyên Bình
Thượng Tọa Thích Nguyên Chơn
Thượng Tọa Thích Nguyên Hùng
Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Thượng Tọa Thích Nhuận Châu
Thượng Tọa Thích Phổ Huân
Thượng Tọa Thích Phước Hòa
Thượng Tọa Thích Phước Thái
Thượng Tọa Thích Quảng Ánh
Thượng Tọa Thích Tâm Hải
Thượng Tọa Thích Tiến Đạt
Thượng Tọa Thích Trí Đức
Thượng Tọa Thích Trí Siêu
Thượng Tọa Thích Trường Lạc
Thượng Tọa Thích Vĩnh Hóa
Tiến Sĩ Lê Sơn Phương Ngọc
Tiến Sĩ Sinh Học Matthieu Ricard
Tiến Sĩ Vật Lý Trịnh Xuân Thuận
Tỳ Kheo Thích Đăng Quang
Tỳ Kheo Thích Đồng Thọ
Tỳ Kheo Thích Đồng Tịnh
Tỳ Kheo Thích Duy Lực
Tỳ Kheo Thích Giác Nghiên
Tỳ Kheo Thích Giới Bổn
Tỳ Kheo Thích Giới Đức
Tỳ Kheo Thích Giới Nghiêm
Tỳ Kheo Thích Hoằng Đạo
Tỳ Kheo Thích Hoằng Thường
Tỳ Kheo Thích Huệ Chiểu Chùa Đại Vân Ở Chuy Châu
Tỳ Kheo Thích Minh Điền
Tỳ Kheo Thích Minh Định
Tỳ Kheo Thích Minh Trí
Tỳ Kheo Thích Nguyên Chứng
Tỳ Kheo Thích Tâm Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thanh Giác
Tỳ Kheo Thích Thiện Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thiện Trang
Tỳ Kheo Thích Thông Huệ
Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ
Tỳ Kheo Visuđhacara



Trong 48 lời đại nguyện của Ðức A-di-đà, lời đại nguyện thứ 19 nói một cách rõ ràng rằng nếu có người chí tâm phát nguyện muốn sanh về nước Ngài, lúc lâm chung nhất định Ngài sẽ đến tiếp dẫn. Cho nên, hễ có phát nguyện là quyết định phải được vãng sanh.