Hầu hết đồ chúng đại thừa bất luận tăng tục đều không hiểu rõ về sự khác biệt giữa giáo pháp của đại và tiểu thừa, thậm chí giữa đạo Phật và các tín ngưỡng khác. Vì lý do này sự tu hành của những người đó là sự pha trộn của cả đại, tiểu lẫn thế tục, cụ thể về thế tục hay được gọi là nhân thừa, đó là chỉ chú trọng vào việc cúng lễ cầu xin phúc báo thế gian, về tiểu thừa thì thọ giữ bát giới và tỳ kheo giới, về đại thừa thì thờ phụng các đại Bồ tát và trì tụng kinh điển đại thừa, tuy nhiên họ coi nhẹ và thậm chí bỏ lơ nền tảng của đại thừa là tâm bồ đề, nên chẳng mấy người phát tâm này, mà không tâm bồ đề thì không có đại thừa Phật giáo. Sự tu học pha trộn ấy tạo thành một thứ thừa pháp hỗn độn, tiểu không ra tiểu, đại cũng chẳng thành đại, do vậy không phải là đạo Phật mà cũng không hẳn là nhân đạo thế gian, tạm gọi là tạp thừa tín ngưỡng.
Hãy lắng lòng chiêm nghiệm về các thừa pháp thế gian và xuất thế gian, tiểu thừa và đại thừa.
Nhân đạo hay nhân thừa.
Nhân đạo là các pháp thiện hóa con người, bao gồm hai phương diện cao thấp, cao thì giúp họ có nhân cách cao thượng, coi đạo đức trọng hơn lợi kỉ, trở thành bậc Thánh nhân trong thiên hạ, và trong vạn người may ra có được một Thánh nhân. Bậc thấp thì dạy họ thờ cúng tạo phúc để cầu được vinh hoa phú quý, khang kiện trường thọ ở thế gian, xu hướng này chiếm tuyệt đại đa số. Sở dĩ gọi là nhân đạo vì đạo này dành riêng cho loài người, hơn nữa mọi tư duy và hành động đều nhằm xây dựng cho ngã và hoàn cảnh của ngã trong hiện đời, thế nên đạo Phật sếp nhân đạo vào pháp thế gian. Có lẽ đạo này phổ biến nhất, những kẻ tin vào đạo cầu cúng, xin xỏ cho ta và mọi thứ của ta đó có mặt trong mọi tôn giáo kể cả đạo xuất thế gian như đạo Phật vẫn có bóng dáng của nhân đạo xen tạp bên trong, và được gọi là nhân thừa. Đạo đức của Nho giáo là khuôn mẫu tiêu biểu cho nhân đạo và Khổng tử là đại biểu cho Thánh nhân ở thế gian.
Thanh văn thừa.
Đồ chúng đại thừa biết đến Thanh văn thừa qua tên gọi tiểu thừa, sở dĩ gọi là tiểu thừa vì sự giới hạn của cả trí huệ lẫn từ bi, nguồn gốc của sự giới hạn ấy là do không phát vô thượng tâm tức bồ đề tâm. Do giới hạn, Thanh văn không đủ trí huệ thành Phật, cũng như không đủ từ bi nguyện độ nhất thiết chúng sinh nên gọi là tiểu thừa. Hành gỉa của tiểu thừa chú trọng vào việc thọ trì tỳ kheo giới gìn giữ tâm thanh tịnh, nhờ thanh tịnh nên vô dục, diệt tận tham sân si, không còn tạo vọng nghiệp, chấm dứt tập đế nên diệt trừ được khổ. Do tỳ kheo giới là nhân của quả vô dục, người trì giới này thành tựu ba nghiệp thanh tịnh, nên giới tỳ kheo có đặc tính phòng phi chỉ ác, ngăn ngừa mọi sai quấy và chặn đứng mọi điều ác, đạt được an lạc, giải thoát mọi khổ não cho riêng mình, nhưng không đủ từ bi độ sinh vì vậy tỳ kheo giới được gọi là biệt giải thoát giới, hàm nghĩa chỉ riêng mình giải thoát mà không đủ năng lực giải thoát cho chúng sinh.
Nếu đạo Phật chỉ thuần là tiểu thừa, hẳn đạo Phật sẽ không đạt được sự giác ngộ cứu cánh tức thành Phật, cũng như không giải thoát viên mãn tức độ nhất thiết chúng sinh, bởi giác ngộ cứu cánh mới đạt được giải thoát viên mãn, khi nói cứu cánh hay viên mãn có nghĩa chẳng có trói buộc hay u mê nào hiện hữu nữa. Như trong ánh sáng không còn chút bóng tối nào, không những thế ánh sáng tới đâu bóng tối tan biến tới đó. Cũng vậy sự giác ngộ cứu cánh không có chút u mê nào trong đó mà đến đâu thì phá vỡ u mê đến đấy. Trong sự giải thoát viên mãn cũng không có mảy may trói buộc ngăn ngại, nên pháp này tới đâu mọi sự trói buộc chướng ngại đều bị đứt đoạn tan biến. Và sự giác ngộ cứu cánh, giải thoát viên mãn được gọi là Phật, nên cầu giác ngộ cứu cánh, giải thoát viên mãn đồng nghĩa với cầu thành Phật, hoặc ngược lại cầu thành Phật đồng với cầu giác ngộ viên mãn, giải thoát cứu cánh, như thế trong mỗi chúng sinh đều sẵn có tính giác ngộ giải thoát viên mãn này, và tính này được gọi là Phật tính, nên đức Phật khẳng định "tất cả chúng sinh đều có Phật tính nên đều có thể thành Phật". Đó là lý do đức Phật cho thật pháp là đại thừa nhất thật pháp.
Đại thừa.
Khác với tiểu thừa, bất cứ một pháp nào thật sự thuộc đại thừa đều phải vô hạn, từ trí huệ thành Phật đến từ bi độ sinh đều không có giới hạn, trí huệ của đại thừa là nhất thiết trí, từ bi của đại thừa là đại bi tâm độ nhất thiết chúng sinh, từ ngữ nhất thiết là đối tượng của tâm đại thừa vô hạn.
Phật là tổng hợp của hai lực vô hạn là trí huệ và từ bi nên Phật cũng vô hạn. Chính xác hơn thì Phật chính là bản tâm vô hạn biến khắp; nhất thiết hữu tình và vô tình đều nhiếp trong bản tâm vô hạn này, nên sự sự vật vật đều mang tính vô hạn của bản tâm được gọi là Phật tính, do đó đại thừa nêu nghĩa nhất thiết sự vật, tình hay vô tình đều đồng viên chủng trí, hàm ý không gì không là bản tâm tức Phật, nhưng do mê tâm chấp các huyễn pháp là thật nên chúng sinh thấy vạn vật trùng trùng sai khác, nên sinh đủ vọng tâm tương ưng với các sai khác trên, Pháp tướng tông miêu tả tính mê chấp đó là tính biến kế sở chấp.
Đại thừa là thật pháp, là diệu dụng của bản tâm vô hạn, đại thừa pháp bao gồm hai phương tiện thiện xảo là thùy tích và quy bản, thùy tích tức thị hiện mọi hóa thân độ sinh thuộc giả đế hay hạ hóa của tâm bồ đề, và quy bản tức sự thành Phật nhập niết bàn thuộc không đế hay thượng cầu của bồ đề tâm. Bản tâm tức bồ đề tâm tổng hợp nhị đế không giả, thùy quy tự tại, đó chính là trung đế, do yếu tố này bồ đề tâm là chỗ nương tựa của nhất thiết chúng sinh, người nào phát tâm được gọi là Bồ tát vì là chỗ dựa của muôn loài.
Mật tông nhấn mạnh giác ngộ giải thoát phải bao gồm trí huệ và phương tiện. Trí huệ là thành Phật, phương tiện là độ sinh. Thành Phật độ sinh mới thực sự giải thoát, ngẫm xem có trí tuệ thành Phật mà vẫn không đủ phương tiện để độ sinh sao có thể gọi là Phật được. Thuyết vô cấu xưng kinh dạy "Đâu là sự trói buộc? Và đâu là sự giải thoát của Bồ tát? Đáp: trí tuệ mà không có phương tiện đi kèm là trói buộc, trí tuệ mà có phương tiện đi cùng là giải thoát. Phương tiện không có trí tuệ đi cùng là trói buộc, phương tiện mà có trí tuệ đi kèm là giải thoát.". Trí huệ và phương tiện gắn kết không thể tách rời đó là bồ đề tâm, do vậy tâm bồ đề chính là nền tảng của sự giác ngộ giải thoát. Từ chối phát bồ đề tâm đồng nghĩa với chối từ sự giải thoát.
Đại thừa mở bày cho chúng sinh trở về với bản tâm vô hạn, không còn sinh tử luân hồi. Chư Phật dùng phương tiện thiện xảo thùy tích để đưa chúng sinh quy bản, đó là nhân duyên đức Phật thị hiện nơi đời. Quy bản là thành Phật, thùy tích là độ sinh. Thành Phật độ sinh chính là tâm bồ đề, như vậy đại thừa và bồ đề tâm không khác mà chính là. Tôn giả Atisa nói "nên biết tâm bồ đề là mạng mạch của Phật pháp, chỉ có việc phát tâm là khó quyết định nhất.". Nếu không phát tâm độ sinh thì không thể có đại thừa. Ngài Tsong kha pa nói "Hành giả cần phải gánh vác trách nhiệm to tát là (phát tâm) đưa tất cả chúng sinh đến sự giải thoát, nếu không gánh vác nổi trọng trách này tất không thể tiến nhập đại thừa.". Quả vậy trí huệ mà không thành phương tiện độ sinh thì không phải trí huệ thanh tịnh và đức đừng quên rằng chư Phật lấy pháp thanh tịnh làm thân, thế nên không hành độ sinh tất không thể thành Phật, nên nói là không thể tiến nhập đại thừa.
Quy y Phật đạo.
Người quy y đại thừa Phật pháp có nghĩa nương tựa và quay về với Phật tức giác ngộ, với pháp tức chân chính và với tăng tức thanh tịnh. Nói chung quy y là phát tâm trụ vào giác chính và tịnh, do giác nên hiểu rõ, không si mê ngộ nhận nhân quả, do chính nên gieo nhân thiện bỏ nhân ác tức đoạn nhất thiết ác, tu nhất thiết thiện, do tịnh nên tất cả vì lợi ích chúng sinh tức độ nhất thiết chúng sinh. Đó là trí huệ tư duy và hành động từ bi của hành giả quy y đại thừa.
Ngày nay đa số người quy y đại thừa Phật pháp đều không thực hành đúng ba pháp quy y, họ không cầu giác ngộ dù được nhắc nhở nên vẫn chìm trong si mê, không cầu chân chính dù được chỉ dạy nên vẫn chỉ vì mình mà sẵn lòng làm thiện hoặc ác, không cầu thanh tịnh dù được khuyến khích nên vẫn nhiễm ô tham dục không thể lợi ích chúng sinh. Dẫu họ đã không giữ đúng tinh thần phát nguyện quy y tam bảo là sẽ sống theo giác chính và tịnh, mà lại còn ngày đêm đối trước tôn tượng chư Phật dùng tâm không giác ngộ cầu xin mọi thứ không chân chính, để mưu lợi kỷ, tuy nhiên đáng buồn hơn cả là họ không hề nhận ra rằng người quy y lẽ ra không bao giờ làm các việc hồ đồ đó, nhất là điều hồ đồ sai quấy ấy được họ lập đi lập lại hằng ngày. Những người đó là đồ chúng dùng tâm tiểu thừa tu hành nhân thừa nhưng cầu Phật Bồ tát gia hộ cho nhân thừa trụy lạc của họ. Đức Phật gọi bọn họ là ngoại đạo trong nhà Như Lai.
Ngoài ra phần đông tăng ni đại thừa tuân thủ và coi trọng giới Thanh văn hơn là Bồ tát giới, họ học và giữ giới tỳ kheo còn giới Bồ tát bị lơ là bỏ qua, họ ca ngợi tỳ kheo là phúc điền của tín chúng, nếu cúng dường cho tỳ kheo sẽ có công đức, và chẳng hề khuyến khích hay tán thán cũng như tu học Bồ tát giới, việc này khiến ngay cả những người từng thọ Bồ tát giới cũng theo đó coi thường giới mình đã lãnh thọ, thậm chí những người đã thọ Bồ tát giới khi gieo duyên xuất gia cũng nhất thời thọ giới sa di hay tỳ kheo, họ quên mất Bồ tát giới đã thọ, đinh ninh tỳ kheo là bậc xuất gia giải thoát, nhưng trên thực tế quả vị cao nhất của tỳ kheo chỉ là A la hán, quả Thánh ấy lại không được tín chúng ngưỡng mộ thờ kính cúng dường, lý do vô cùng đơn giản, đó là do các đại A la hán không hứa khả cứu khổ như các vị đại Bồ tát, nên những tín chúng đại thừa không ngưỡng mộ các vị A la hán bằng Bồ tát, do vậy mà không khó để thấy ngay đến các tỳ kheo và tỳ kheo ni được coi là phúc điền kia cũng cùng với đồ chúng kính mộ tỳ kheo giới của họ đều cùng nhau thờ phụng lễ bái cầu xin các vị đại Bồ tát và lơ là với các tỳ kheo chứng Thánh là A la hán, như vậy rõ ràng chúng sinh cần Bồ tát hơn La hán và như thế tất nhiên là cần phải xem trọng Bồ tát giới hơn tỳ kheo giới và phải gieo duyên xuất gia bằng tu học Bồ tát giới và thực hành Bồ tát đạo thay vì thọ học giới tỳ kheo.
Những đồ chúng đại thừa gieo duyên thành tỳ kheo thì cần cạo tóc thọ giới tiểu thừa, nhưng nếu muốn gieo duyên thành Phật giác ngộ giải thoát thì phải gieo duyên bằng sự phát tâm bồ đề, thọ Bồ tát giới, hành Bồ tát đạo, cần hiểu rằng xuất gia theo đại thừa là "thống lý đại chúng nhất thiết vô ngại" điều này không có ở tỳ kheo và tỳ kheo giới. Thế nên hãy nghĩ cho chính xác là mình muốn thành tỳ kheo hay thành Phật để chọn gieo cho đúng duyên.
Kinh Phạm Võng dạy "Bồ tát giới thị chư Phật chi bản nguyên, hành Bồ tát đạo chi căn bản, thị đại chúng chư Phật tử chi căn bản.", Bồ tát giới là nguồn gốc của chư Phật, là căn bản hành Bồ tát đạo và của đại chúng Phật tử. Đáng trách là đồ chúng đại thừa quá mê muội nên coi thường bản nguyện của chư Phật, thờ ơ với Bồ tát đạo mà các vị Bồ tát đang hành để nhờ đó những đồ chúng thiểu trí có người nương nhờ mà cầu xin, ngẫm xem nếu Bồ tát không hành Bồ tát đạo thì khác gì A la hán và như thế chúng sinh mất chỗ dựa cầu xin. Những người tu học đại thừa nên sớm tỉnh ngộ mà phát tâm thọ trì Bồ tát giới thay vì chúi mũi vào việc tin rằng sự gieo duyên hay xuất gia đều do tỳ kheo giới đảm trách.
Tạp thừa.
Với những dữ liệu trên cho thấy đồ chúng đại thừa ngày nay chỉ ôm bảng hiệu đại thừa, còn thực tế thì toàn là tạp thừa, một thừa hỗn hợp giữa nhân thừa, tiểu thừa và chút ít đại thừa qua việc thờ phụng Bồ tát và tụng kinh đại thừa qua loa, ngoài ra chẳng có chút sắc thái nào của đại thừa trong việc tu học, hoàn toàn không có chút bóng dáng nào của sự chân chính quy y tam bảo được thấy trong mọi động thái tu học, kể cả trong tư duy lẫn hành động, tựa như treo bảng đầu tư rồng mà kinh doanh toàn rắn.
Phân Biệt kinh dạy:
Có ba hạng thờ Phật. Hạng thứ nhất là đệ tử ma thờ Phật, hạng thứ hai là thiên nhân thờ Phật, hạng thứ ba là đệ tử Phật thờ Phật.
Đệ tử ma thờ Phật là gì? Đức Phật nói "tuy thọ Phật giới nhưng tâm ưa thích nghiệp tà, tin vào sự cậy nhờ của thân quyến, không tin sự chân chính, không biết có tội ác, giả danh thờ Phật thường cùng với tà tư chết đọa địa ngục chịu khổ lâu dài, sau đó thác sinh làm quyến thuộc của ma, thực khó được độ, đám này do có chút phúc đời trước, tạm thấy chính đạo, nhưng do vô trí không hiểu nên lại thành tà kiến, đó là đệ tử ma thờ Phật.
Thiên nhân thờ Phật là gì? Thọ trì năm giới, tu hành thập thiện một đời không phạm, tin có tội phúc, làm lành được lành, sau khi mạng chung sinh lên cõi trời.
Đệ tử Phật thờ Phật là gì? Phụng trì chính giới, quảng học kinh giới tu tập trí huệ, biết ba cõi vốn khổ, tâm không tham trước chỉ muốn giải thoát, thương xót chúng sinh thường hành sáu độ cứu tế chúng sinh, không tham thân mạng, cầu phúc lâu dài, không làm nghiệp tà, đó là đệ tử Phật thờ Phật
Tóm lại, hành theo nhân thừa thì thành Thánh nhân thế gian, tu tập theo tiểu thừa, thọ trì giới tỳ kheo thì chứng A la hán quả, phát tâm bồ đề thọ Bồ tát giới, hành Bồ tát đạo thì chứng thành Phật quả. Còn như tu hành theo tạp thừa, không có bất cứ niềm tin vững chắc nào vào một trong các thừa trên thì chứng quả gì đây?. Tạp thừa này càng lúc càng lấn áp cả tiểu lẫn đại thừa, và chúng quả là ngoại đạo trong nhà Như Lai, nếu không thế thì cũng là cánh tay đắc lực của Ma.
Kết luận.
Sở dĩ đạo lý giác ngộ do đức Phật chỉ dạy được gọi là đạo Phật, vì Phật có nghĩa là giác ngộ, do đó nếu pháp nào không mang tính giác ngộ tất không phải đạo Phật, như đức Phật tuyên thuyết "như nước trong biển cả chỉ duy có một vị mặn, đạo ta cũng chỉ duy có một vị giải thoát", suy cho cùng, ngẫm cho kỹ chỉ có thật đại thừa mới là đạo Phật chân thật, ngay đến quyền đại thừa hay tiểu thừa đều chỉ là phương tiện pháp nên không thật sự là đạo giải thoát chân thật của đạo Phật. Phương tiện là ngón tay, cứu cánh chân thật là đối tượng của ngón tay. Tín chúng tu học đại thừa có trách nhiệm chứng cứu cánh mà không được mải mê đắm trong nghiền ngẫm học hỏi và ca ngợi phương tiện để lãng quên cứu cánh. Nhận ra cứu cánh chân thật được gọi là giác ngộ giải thoát, thế nên phải cẩn thận tránh không đi lạc qua các nẻo phương tiện mà xa lìa cứu cánh như lời cảnh báo của tam tổ Tăng Xán "hào ly hữu sai, thiên địa huyền cách", sai một ly xa vạn dặm.
Chúng sinh u mê trí hèn nên chỉ cầu các thứ hạnh phúc an lạc nhất thời tạm bợ như kẻ hành khất chỉ cầu xin được sống qua từng ngày trong bao đời. Bậc trí giả cầu tìm hạnh phúc an lạc vĩnh hằng, như trưởng giả luôn cầu tìm tài sản vô giá hưởng đến muôn đời. Tín chúng nên xem xét sự lựa chọn thừa pháp yêu thích của bản thân để hiểu rõ tâm tính mình thuộc ăn mày hay trưởng giá. Nếu đã là tính ăn mày thì đừng than thân trách phận mà hãy chịu khó cầu xin, sống cho qua mọi kiếp sống, nếu là tính trưởng giả thì sẽ thung dung nhàn nhã ban bố sự cứu giúp cho những kẻ thở than trong vô lượng đời.
VTA 22.6.2023