Home > Sách Phật Giáo > Luan-Ve-Bon-Chan-Ly

1.1 Phẩm Tư Trạch (Thứ Nhất)


Bát nhã khắp các pháp
Lòng từ nhiếp chúng sanh
Vô tướng nói chánh pháp
Đãnh lễ bậc trời người
Đại Thánh Chiên Diên luận
Nói lược nghĩa sâu xa
Đại đức, Phật Đà Mật
Rộng nói lời và nghĩa
Lần lượt tô bồi thêm
Rộng lược nghĩa tương xứng
Chơn lý, tướng hòa nhau
Ta thấy hai luận rồi
Liền bỏ chỗ rộng rãi
Nên tạo luận trung bình
Lợi ích nói người nghe
Chánh pháp được lâu bền
Nếu người thấu Tứ Đế
Bốn niềm tin khó động
Chẳng hề thấy mặt khác
Quyết lìa bốn đường ác
Cùng tám người, trời, thức
Sau tất đến chỗ khổ
Nên tạo luận Tứ Đế
Chẳng do chỗ muốn đủ
Duyên khởi nghĩa nhiều loại
Ý câu trước sau sẽ
Khó kia và ý nghĩa
Tổng biệt tướng cùng lý
Chứng nghĩa cùng thí dụ
Nương thuyết Tứ Đế nầy
Nguyện chúng sanh rõ biết Được cõi trời, Niết bàn.

Thánh Đế có bốn. Đây là lời trong kinh và do nhơn gì duyên gì mà Đức Thế Tôn Như Lai nói kinh này? Vì sao Thánh Đế lại chỉ có bốn mà không hơn không kém? Sao nghĩa là Thánh và sao gọi là Đế? Hay lấy chữ Thánh để tạo ra chữ Đế chăng? Trước đó cả hai chẳng có tên là Thánh Đế, nếu nói Thánh nghĩa là Đế thì việc nầy chẳng phải. Lại có kinh nói rằng: Đế (chơn lý) chỉ có một chứ không bao giờ có hai. Sao lại có bốn nghĩa mà chẳng bị sai trái?

Lại có kinh nói rằng: Tất cả các pháp hành đều là khổ. Do vậy chỉ có hai Đế. Do đó mà nghĩa Tứ Đế chẳng đúng.

Lại nữa trong kinh Tăng Nhất nói: Sự an lập các pháp từ một đến hai cho đến nhiều. Vì sao ý nghĩa của Đế ấy lại riêng rẽ chẳng tăng hơn một? Lại nữa bốn tướng ấy lại chẳng giống nhau. Tại sao cùng một lúc mà được cùng thấy? Lại nữa Tứ tướng của Bà La Môn Đế cùng với Thánh Đế có nghĩa gì sai khác chăng? Tiếp nói kệ rằng:

Sao gọi Tứ Thánh Đế
Chẳng Đế, cảnh không có
Chỉ hai, tăng cùng thấy
Tịnh Thánh Đế khác gì?

Vì sao chư Phật ở trong Tứ Đế đều cùng chung một ý? Vì sao chỉ lấy Tứ Đế mà chư Phật cho là cao cả để nói? Vì sao lại cùng quán Tứ Đế làm cảnh? Trí huệ bình đẳng mà kết quả lại có sự sai biệt? Vì sao các vị A La Hán đối với Tứ Đế trí tuệ viên mãn chẳng dư mà không giống với chư Phật là được nhất thiết trí? Nếu không giống nhau vậy thì trong Tứ Đế có chỗ chẳng rõ. Nếu tất cả pháp đều ở trong Tứ Đế thì hơn hẳn xa Ba Diệp Thí Kinh; nên mau giải cứu. Nếu chẳng giải cứu thì sẽ có Ngũ Đế. Nếu không là Ngũ Đế thì các pháp khác đều là phi Đế. Nếu các khổ có bốn mà tên gọi Thánh Đế và lại nói: một sự khổ cũng đầy đủ là Thánh Đế rồi. Như thế thì kinh ấy tức chẳng cần nói nữa. Nếu thế thì Tứ Đế nên biết và nói là khổ.

Nghĩa nầy thật chẳng đúng. Nếu biết một Đế lại biết các Đế khác nữa, mà sau đó còn nói thêm ba Đế nữa thì quả thật không cần thiết. Vì sao ở phía trước nói khổ đế mà chẳng nói nguyên nhơn trước cái quả ấy? Có gì sai khác giữa một và hai duyên sanh.

Vì sao nói Diệt Đế sau rồi tiếp theo mới đến Đạo Đế? Lại nói kệ rằng: Một ý, quả ấy chơn,

Nhất thiết trí như lá, Bốn khác một, chẳng dùng, Đầu khổ nhơn duyên diệt.

Thánh Đế có bốn. Vì sao Đức Thế Tôn lại nói kinh nầy?

Đáp: Vì có các đệ tử muốn chứng Thánh đạo và trước đó ở nơi ngoại đạo đã thọ pháp tà, hoặc những việc hay làm của ngoại đạo như đạo không ở yên một chỗ, đạo hộ mệnh, đạo sai biệt, đạo lão Thanh Văn, đạo Tư Cù Đàm, đạo lấy cánh chim làm áo, đạo nước lạnh, đạo để tóc, đạo lửa, đạo khỏa thân v.v… Như vậy các đạo ấy mỗi mỗi đều rõ biết pháp ấy rồi và chỉ biết pháp của mình là chơn thật, chẳng có chân lý nào khác, chẳng sai quấy, chẳng chết, lấy đó làm kết quả; còn các pháp khác thì chẳng đúng. Nghe như thế rồi không có trí quyết đoán được và chẳng biết pháp nào là chơn thật và ai là chẳng đúng. Vì các đệ tử mà đối với Đế, phi Đế đã khởi lên vô minh hoặc làm Đế hiển thật. Do vậy mà Đức Phật đã nói ra kinh nầy. Ví như có người khoa trương loại đồ anh lạc giả và ở đây muốn làm cho thấy loại anh lạc thật.

Lại nữa có các pháp sai biệt; nên nói nghĩa như thế nầy. Kẻ bỏ tục xuất gia giữ tướng Sa Môn, ở nơi A Lan Nhã, hành pháp đầu đà, gặp ngay bạch pháp giảm thiểu tiền tài, thủ hộ tàm quý, chứng được giới đức, khống chế các căn, tôi luyện nội tâm để chiến đấu với thiền định. Những ai mà làm được như thế thì tự họ chính là những vị Sa Môn của ta. Vì những Sa Môn khởi lên tăng thượng mạn, cho nên ta làm cho thấy rõ được những Sa Môn chân thật vậy. Đối với trong chánh pháp thành vị Sa Môn đúng nghĩa, chẳng phải do làm nhiều như trong Kinh Sa Môn nói. Nếu có được như thế đầy đủ như đã nói trong kinh thì đây thật là pháp Sa Môn. Do quán Tứ Đế nên được thành lập. Chẳng phải do sự tu hành có tính cách thế gian làm cứu cánh để được lưu hành mà gọi là Sa Môn, như kệ khỏa thân nói.

Lại nữa ở đây miễn được chín nạn. Việc nầy đã có trước Phật, để cho xa lìa pháp nầy và lấy thiện căn, dầu thơm huân tập nơi tâm nầy và nơi con đường Thánh ấy là món ăn của ý, của việc làm đầy đủ thanh tịnh, nên đã cùng với Thánh Đế thông đạt và tâm siêng năng và làm cho khuất phục nơi Thánh Đế và được biết như là vị thuốc vậy. Do đó Đức Thế Tôn nói ra kinh nầy cũng giống như muốn trị bịnh thì vị thầy thuốc phải cho thuốc. Lại khi nghe con đường ác, khổ, thật khó sanh tâm nhẫn, tâm sợ hãi xa lìa và vì những người nầy mà hiển ra nhơn duyên để làm cho chẳng bị đọa lạc vào con đường ác, cho nên nói ra kinh nầy, vì sao vậy?

Vì lẽ khi bị sanh vào địa ngục thì các chúng sanh sáu phương đều bị lửa vây đốt cháy, thân thể bị nhắc lên giống như đốt sắt. Khi ra vào đều bị lửa vây chặt thiêu đốt thọ khổ. Lại có những người đói khát phải ăn hòn sắt nóng và uống nước đồng sôi hoặc bị chém, hoặc bị phanh thây, cưa chặt thành khúc chịu khổ; lại có chó dữ chim sắt mổ cắn ăn thịt. Hoặc thọ sanh vào ngạ quỷ, đói khát khổ sở thường hay theo thân. Cổ họng như kim châm hằng muốn ăn uống nhưng chung quy chẳng bao giờ no.

Sự khát nước hành hạ muốn có nước nhưng do vì nghiệp đã tạo, đã đến gần sông rồi lại thấy tòan là nước sôi; hoặc thấy máu huyết phẩn dãi hôi thối đầy khắp, gặp cây có quả lại biến thành cây không trái. Như kệ nói rằng:

Nóng như trời mùa hạ,
Gió gặp sức lửa đốt,
Giọt mưa như thấm biển,
Che lấp như nung nấu.

Cho nên ngạ quỷ thọ khổ vô cùng. Hoặc sinh vào con đường súc sanh thường bị câm điếc và hay bị giết phá, cùng ăn thịt nhau rồi sanh ra sợ hãi nghi ngờ, tâm thường chẳng an, thọ khổ như vầy. Hoặc sinh Tu La óan kết sự keo kiệt, kiêu mạn và khi phạm thọ rồi thì chịu khổ. Đệ tử của Phật nghe sự khổ ở những đường ác rồi sợ bị đọa vào kia, do vậy muốn rõ biết Tứ Đế để chẳng bị đọa vào đó, là nhơn duyên nói ra kinh nầy. Cũng giống như người bị trôi vào biển liền dùng chiếc thuyền để cho và làm cho cứu được sự chết. Như trong kinh nói:

Nếu có chúng sanh nào đối với sự khổ nầy hay thấy như thật, liền được giải thoát bốn con đường ác và tất cả những sự khổ của sanh, già và bệnh.

Lại nữa vì làm cho chúng sanh xa lìa năm loại tà, lời nói ngông cuồng. Một là có thể sanh vào đường ác; hai là theo việc làm của người xấu; ba là xa rời người hiền; bốn là hay phát khởi phiền não; năm là lấy việc dối trá làm chính. Vì làm cho thuyết kia được lợi ích các chúng sanh; nên có năm phần chánh ngữ. Một là tương ưng với cái đức của mình; hai là làm theo người hiền lương; ba là sanh ra các căn lành; bốn là làm cho xa rời rừng sanh tử chém giết nhau; năm là làm cho được an vui, lìa năm lời nói tà ngụy và thực hành được năm lời nói đúng đắn, cho nên nói ra kinh nầy. Giống như bỏ vật quý giả mạo lấy vật quý chân thật.

Như trong kinh nói: Đừng nói lời tà lời ác. Nếu chư Tăng tụ họp nên làm hai việc. Một là im lặng như Thánh; hai là nói năng chánh pháp như Thánh.

Lại nữa có những kẻ phàm phu họ tự chấp trước những dị biệt Đế như tôi chấp cái nầy là thật, kia chấp đó là sai. Do sự chấp trước nầy mà cùng nhau sinh sự, cũng giống như người mù xem voi. Vì muốn chỗ hơn không sai mà tranh luận, lại chẳng khởi lên sự điên đảo. Vì đây là Thánh Đế trí tuệ nên mới nói kinh nầy. Vì hiện bày ra ý nầy để cho những kẻ chấp trước, nói thường hay đoạn mà những người nầy sinh ra đấu tranh, khi người ấy thấy được Tứ Đế liền chẳng như thế vì rõ biết chỗ không rồi vậy. Như kinh Khư Đa Kha nói.

Lại nữa hay nương vào Thầy ở nơi vắng vẻ, thọ hạnh đầu đà, làm giảm thiểu nhu cầu, gìn giữ sáu căn, tiết giảm sự ăn uống; đầu, giữa, cuối đêm hay rõ vui và một lòng nghe, như chơn lý mà suy nghĩ nói năng đọc tụng lời chơn chánh. Ngồi ngay ngắn thiền định đếm hơi thở quan sát. Do nhơn duyên nầy mà luôn luôn được thành thục. Tâm địa nhẹ nhàng; hoặc sự giao động ít. Vì những người nầy làm cho rõ biết; nên nói kinh nầy, như người rõ biết thì cho thuốc thang làm lợi lạc. Vì chơn thật nghĩa, duy chỉ lấy trí căn, cốt chỉ làm cho rõ biết.

Nên biết rằng đây là căn duyên của Bốn Thánh Đế. Như trong kinh đã vì sự rõ biết mà nói. Lại nữa vì phá Tư hoặc mà hiện ra hai phương tiện nên nói kinh nầy. Như kệ nói rằng:

Sanh khởi, diệt lìa sáng,
Nhiều loại chấp nơi tà,
Thấy gồm sáu hai loại,
Vô minh nơi nhân quả,
Bậc thánh rõ việc nầy,
Muốn hiện lý bất động,
Tạo ra duyên giải thoát, Nên Phật nói kinh nầy.

Lại nữa ngay cả Phạm Thiên hay loài người, Bà Lợi hay Tu La, Rồng v.v.., cùng với các thần

Dược Xoa, Diệm Ma v.v… Nếu chẳng thấy được Tứ Thánh Đế thì chẳng ra khỏi ngục tam giới như con tằm trong kén, luân chuyển trong sáu đường giống như bánh xe lăn vào chỗ tối tăm rồi lún sâu vào chỗ nguy hiểm gặp lửa đốt cháy chung quanh.

Nếu rõ biết được Tứ Thánh Đế liền phá chỗ tối tăm vô minh, được trí sáng suốt, giải thoát khỏi bốn đường khổ, không còn bị trói buộc vào đó là do Tứ Thánh Đế nầy chơn thật, chẳng hai, chẳng điên đảo, chẳng đấu tranh, hay thành Như Lai, xuất thế hữu dụng nơi đời. Vì muốn hiểu rõ lý ấy mà nói kinh nầy. Luận chủ muốn hiểu Tứ Đế nghĩa không có gì sánh bằng; nên nói kệ rằng:

Biết ngoài Đế chẳng lìa,
Luật, lý hành hơn kia,
Chẳng thể độ sanh già,
Chết ưu bi biển lớn,
Đây là kẻ Thánh trí,
Tham sân tạo đấu tranh,
Kẻ trí cầu giải thoát,
Ngoài Đế không nên biết,
Nếu người rõ Thánh Đế,
Rõ biết đường tà ác,

Lìa nơi chỗ nhiễm độc,
Thường hành nơi bốn tâm,
Những khổ ở đầy khắp,
Giải thoát ngục tam giới,
Rõ biết cầu Niết Bàn,
Nên thấy rõ Thánh Đế.

Lại nói thêm kệ rằng:

Đệ tử và Sa Môn,
Xa lìa đường sợ hãi,
Sai trái cùng tà chấp,
Bậc Thầy phá hiển phàm.

Sao gọi là Thánh Đế? Tại sao chỉ có bốn mà không nhiều hơn lại cũng chẳng ít hơn?

Đáp: Câu hỏi nầy chẳng phải là hỏi. Vì tất cả nơi như thế đều vô cùng. Lại nữa do thân kiến, đoạn kiến, thường kiến, vô sự kiến và vì sự đối trị bốn loại nầy cho nên Thánh Đế chỉ nói bốn. Lại nữa vì để đối trị với bốn loại điên đảo nên nói Tứ Đế. Giống như Tứ Niệm Xứ. Lại nữa vì để xa lìa bốn việc tà chấp, bởi do chúng sanh có tất cả bốn loại tà chấp nên mới nói vậy. Những gì là bốn?

Đó là quả nhơn giải thoát phương tiện tà chấp; một là quả tà chấp. Ta thấy niệm ái nghiệp là chỗ sanh ra để các ấm giới nhập vào. Sự bất tịnh hôi thối giống như thây chó chết. Ba khổ đốt cháy rơi vào chỗ khổ. Vô thường cứng như kim cương cũng bị phá hoại. Ta và những gì thuộc về ta là kẻ tạo tác ra và kẻ thọ lãnh sự tạo tác ấy. Làm cho kẻ thọ nhận ấy là chỗ xa lìa và ở trong ấy chấp về thường, lạc, ngã, tịnh. Đây chính là chấp tà về kết quả. Vì để lìa khỏi sự chấp nầy nên nói Khổ Thánh Đế.

Hai là kẻ chấp tà vào nguyên nhơn. Nghĩa là Thế chủ, Phạm Vương, Tự Tại và con người cho rằng cùng lúc tự tánh nhất định tự nhiên và không có nguyên nhơn đời trước do thế nói rằng: Đất, nước, lửa, gió, lẫn hư không đều chẳng có. Đây là chẳng có nguyên nhơn không bình đẳng và chấp vào nhơn để làm sanh nhơn. Đây gọi là chấp vào nguyên nhơn tà. Vì để lìa khỏi sự chấp tà nầy cho nên nói Tập Đế.

Ba là chấp tà vào sự giải thoát. Trở về năm, nhập vào Tỳ Nữu thể lực (Visnu) rồi nhập vào không. Cho đến ở nơi thế tục không bị khổ, được tồn tại độc lập bên trên, lìa ngũ đức và quả tam định, rồi bỏ từ từ, rồi bỏ hẳn. Như thế là kẻ chấp vào sự giải thoát chẳng phải định chẳng phải vĩnh cữu gọi là chấp vào sự giải thoát. Vì để phá vào chấp nầy nên nói ra Diệt Đế.

Bốn là chấp vào phương tiện tà. Nghĩa là xa lìa ngũ trần, ăn uống, y phục, chỗ ngồi nằm, sinh sống v.v.., như gió, nước, hoa, quả, gốc, mầm, cành, lá, lúa gạo, dầu mè, phân bò, dùng những thứ nầy làm đồ ăn uống. Dùng vỏ cây hoặc cỏ hay da dê, lấy những thứ nầy trên mặt đất rồi lấy chày giả cho nhuyễn ra để nằm lên trên ấy; hoặc đầu chúc xuống chân đưa lên; hoặc tùy theo hướng của mặt trời mà hướng thân theo đó. Hay mặc áo ấm để lặn vào trong nước, rồi đi trên lửa, nước mà không chìm; nương vào thời tiết, nghiệp hết chứ không có nguyên nhơn. Do những việc làm nầy mà chứng được Niết Bàn. Đây có tên là chấp vào những phương tiện tà. Vì để lìa những sự chấp trước nầy nên nói về Đạo Đế. Nên có bốn việc vậy, mà từ đó nói về Tứ Đế. Giống như con đường Thánh.

Lại nữa vì để phân biệt pháp hy hữu nầy; nên Thánh Đế lại có bốn. Vì sao vậy? vì lẽ chúng sanh chấp vào ấm rồi nương vào chỗ chấp trước ấy. Nên nói khổ phải nên rõ biết mà chẳng có sự an vui thanh tịnh. Sự tham ái mất đi rồi, tức liền có sự tịch diệt. Cái khổ mất đi rồi thì sự ngã mạn cũng tịch diệt; nên phải đối trị với tâm khổ ấy. Bốn sự tu hành nầy làm cho vô minh mất đi và đạo chính là việc có thể đối trị lại với vô minh.

Lại nữa tất cả những người cầu giải thoát nếu diệt khổ sẽ được vui. Đây chính là điều quan trọng. Vậy phải diệt khổ ra sao? Lấy Tập mà diệt vậy.

Được an vui là do tu đạo vậy. Đây chính là Thánh Đế vậy.

Kinh Luận Sư nói: Nếu người nào quán thấy sự sanh tử mà sợ hãi, quán Niết Bàn là công đức thì liền nhập vào chánh định vậy. Sự sanh tử sợ hãi nghĩa là sao?

Nghĩa là khi thọ sanh thì thức khởi lên theo.

Thức nầy khởi lên là nguyên nhơn khiến xảy ra sự tham ái. Còn Niết Bàn công đức là sao?

Nghĩa là thức chẳng khởi lên niềm vui và thức nầy cũng chẳng khởi lên phương tiện. Tức đây là Thánh đạo; cho nên nói ra Tứ Đế. Lại nữa phân biệt thế và xuất thế nhơn quả, cho nên nói ra Tứ Đế. Lại nữa vì thông đạt bốn loại. Lại vì nương vào bốn loại nên nói ra Tứ Đế. Lại vì tướng riêng của bốn loại mà nói ra Tứ Đế.

Hỏi: Ý nghĩa của Thánh và nghĩa của Đế là thế nào?

Đáp: Thánh có Tám.

Một là tự tại. Nếu bị trói buộc vào kia tức chẳng tự tại. Đây tên là Bộc lệ (Nô bộc lệ thuộc), chẳng phải tên vì Thánh. Chư Phật và các vị đệ tử đối với tâm và pháp hai nơi tự tại. Cho nên gọi là Thánh.

Hai là chẳng tham ái nô dịch như hứa với người tự tại xuất gia.

Ba là hạt giống thánh phát sanh; nên gọi là Thánh nhơn, như sanh vào giòng giống Bà La Môn.

Bốn là sanh nơi Thánh địa. Đất nghĩa là chơn thật chẳng sanh, giống như sanh vào ở giữa đất nước.

Năm nghĩa là những việc làm lìa sanh tử; như Bà La Môn.

Sáu là chẳng hề lên xe sanh tử; như xả bỏ chẳng đắm trước.

Bảy là chẳng hề sanh nữa; giống như hạt giống lép.

Tám là cung kính để vãng sanh, là phước đức vậy; giống như các vị Hoàng Đế. Lại có bài kệ tán rằng:

Tự tại lìa tham nô,
Giống thánh sanh đất thánh,
Xa rời chẳng lên xe,
Chẳng sanh, sanh cung kính.

Còn Đế có bảy nghĩa:

Một là chẳng điên đảo nên nghĩa là Đế, giống như tướng của lửa.

Hai là thật nên nghĩa là Đế, giống như trong kinh nói.

Ba là chẳng thay đổi nên nghĩa là Đế

Bốn là chẳng phải hai việc làm, nên nghĩa là Đế. Giống như cây Đề Già Xà Ya Đạt Đa.

Năm là chẳng liền khởi, nên nghĩa là Đế. Từ trí nầy chẳng liền khởi lên, chẳng cùng với hỏa luân trí.

Sáu là chẳng sai khác nên nghĩa là Đế. Giống như nghiệp và các Thánh giới.

Bảy là văn nghĩa tương xứng, nên nghĩa là Đế. Vì sao vậy? Nghĩa là sự khổ ấy chính là nghĩa của khổ. Do bảy nghĩa nầy; nên có tên là Đế.

Hỏi: Nếu dùng Thánh để gọi là Đế thì cả hai ở phía trước chẳng nên gọi là Đế. Lại nữa nếu nói

Thánh Gia Đế nên gọi tên là Đế thì nghĩa nầy chẳng phải bất định sao?

Đáp: Đế chính là nhơn của Thánh, có thể sanh ra Thánh được. Ví như chỗ ở của Phạm Vương; cho nên gọi là Thánh Đế. Như trong kinh nói: Bốn điều đầy đủ ấy là Thánh và tương ưng với nghĩa ấy. Lại nữa Thánh nhơn cũng nói, cho nên gọi là Thánh Đế. Như vị Thầy chỉ đường, như trong kinh nói.

Nếu là các Đức Như Lai thì phải dùng điều chơn chánh để nói và đều nói Tứ Thánh Đế.

Hỏi: Nếu các bậc Thánh nói thì gọi làThánh Đế; còn phàm phu nói thì gọi là phàm Đế sao?

Đáp: Do thần lực của Phật nói và thành lập lời dạy của Phật theo chánh giáo; nên chẳng phải là chân lý của kẻ phàm. Như Xá Lợi Phất thực hành nhơn duyên. Lại nữa vì các bậc Thánh rõ biết trứớc, giống như thuốc tiên. Lại nữa các bậc Thánh nương vào sự chân thật cho nên gọi là Thánh Đế.

Ví như thế để hỏi rằng phàm phu nương vào chỗ thấy không thật nghĩa, chẳng phải Thánh, chẳng phải đế sao?

Đáp: Với con mắt không thanh tịnh tức chẳng thể thấy, giống như người mù mà chọn của quý, như người mắt yếu mà xem mặt trăng. Kẻ phàm phu say cuồng chẳng thể thấy được. Đây ví như cỏ phủ trên đầu 100 con voi. Lại nữa do trí tuệ huân tập để luận bàn và lấy làm thể của Thánh; nên nói là Thánh Đế; giống như chim, rắn cùng gạo. Lại nữa như trong kinh nói: Vô thượng Thánh huệ chiếu soi; nên gọi là Thánh Đế.

Hỏi: Lại có kinh nói rằng Đế chỉ có một, chẳng có hai. Sao lại có đến bốn nghĩa mà chẳng phải sai trái?

Đáp: Dùng nghĩa chẳng trái ngược nên chỉ một phẩm loại không khác. Còn bốn ở đây ví như bốn sự trái ngược, lại do nghĩa của Đế mà ra. Một dùng cho Thánh đạo. Bốn dụ như từng phần của con đường. Lại thông qua các pháp tướng. Một dụ cho sắc tướng khác. Bốn dụ cho tứ đại. Lại nữa vô ngã, bình đẳng vậy. Một là vô ngã, tất cả đều bình đẳng, giống như đồng dị vậy. Lại nữa chẳng thay đổi khác. Nương vào tâm giải thoát để nói đế chỉ có một chứ không có hai. Vì sao vậy? Khổ và Thánh Đế đều có sự đổi khác như trong kinh nói. Tất cả những hữu vi, hư không là pháp bị hoại, thì một là chơn thật, không hoại tâm giải thoát. Như tướng biến đổi tương ưng, tất cả đều thật chẳng hư. Nghĩa của bốn ở đây cũng như thế. Cho nên Thánh Đế có bốn.

Hỏi: Lại có kinh nói: Tất cả các hành pháp đều khổ, duy chỉ hai Đế bốn nghĩa thì không thành?

Đáp: Đây là ý chỉ của phân biệt bộ nói. Tất cả các pháp hữu vi là vô thường, nên khổ. Chẳng phải do một nghĩa đế mà khổ. Vì muốn xa lìa điều nầy nên Đức Thế Tôn đã tu thanh tịnh phạm hạnh. Đây tên gọi là Khổ Đế.

Lại muốn nói rộng ra cho nên có bốn nghĩa chẳng khác. Lại có 3 loại khổ nói trong các kinh, tất cả các hữu phi đều nhiếp từng phần. Hữu vi khổ là nói đầy đủ phần như nương vào khổ khổ để nói về các loại khổ, khổ căn, khổ giới, khổ thọ v.v… nương vào sự hoại của hành khổ để nói, lại cũng như thế. Nương vào tất cả thọ để nói khổ. Nếu vô thường là khổ là nói tất cả hữu vi; hoặc nương vào hành khổ, để nói chỗ sanh khởi. Đây là khổ có sanh, là khổ do sắc sanh, tức là sự khổ sanh; hoặc nói đây là Khổ Đế, dùng nhiều ý để nói về khổ. Cho nên tất cả đều chẳng có chỗ sai khác. Lại nữa không thay đổi, nương vào Niết Bàn để nói tất cả hữu vi là do khổ khổ vậy, do khổ tướng tương ưng với nhau, nên nương vào nghĩa Tứ Đế chẳng chạy đâu cả.

Hỏi: Lại nữa trong Tăng Nhất nói an lập các pháp từ một cho đến hai và đến nhiều nữa. Vì sao nghĩa của Đế chỉ độc có một mà không hơn?

Đáp: Vì là nghĩa chơn thật vậy, chẳng phải điên đảo. Phật nói tất cả đều là chơn lý (Đế). Duy có một, hai, ba thì gọi là tăng; chứ Đế thì không tăng hơn một vì phân biệt Đế để quán nên nói có bốn. Vì an lập trí và tướng nên giống như Tứ Niệm Xứ, như phía trước nhơn duyên thành lập Tứ Đế. Nghĩa nầy nên biết, vì biết Thánh Đế nên là bốn.

Biết khổ có nguyên nhơn, tức thấy được pháp. Như trong kinh nói: Nếu người nào rõ biết được mười hai duyên sanh tức là rõ biết pháp, thông đạt mười sáu tướng xuất thế đều do thấy rõ được chân lý vậy. Nhơn duyên cột chặt chính là nghĩa của vô thường, giống như nghe tiếng mà Nan Đà đã trãi qua sự chứng ngộ. Vô thường chính là khổ, mà khổ thì vô ngã, mà vô ngã chính là không. Người nào rõ biết điều nầy, ấy chính là rõ biết pháp, rành rẽ mười sáu tướng được tịch diệt và lìa khổ. Đây chính là nghĩa ấy. Thánh Đế có bốn, lại nói là tối thượng phẩm, chẳng cùng với cảnh giới của trí, cho nên không tăng hơn một.

Hỏi: Lại có bốn tướng chẳng giống nhau. Vì sao trong một lúc mà lại cùng thấy được?

Đáp: Do tướng vậy. Trong kinh nói do sự tu tập tưởng về vô thường, bạt trừ tất cả tham ái, đây là tưởng cảnh giới, tức chính là Khổ Đế. Tất cả sự tham ái chính là Tập Đế. Bạt trừ tất cả chính là Diệt

Đế. Vô thường tưởng chính là Đạo Đế! Đây chính là nghĩa nầy vậy. Duy bốn chẳng đồng với một thì thấy được, lại do sự chọn lựa của tư tưởng mà có, như trong kinh nói: Nên tưởng về nguyên nhơn vô thường rồi chọn lựa năm ấm tham ái, chưa sanh liền được sanh, sanh rồi lại mất đi. Trong nầy ngũ ấm chính là Khổ Đế; sự tham ái chính là Tập Đế. Chưa sanh và diệt tức là Diệt Đế. Vô thường và sự chọn lựa chính là Đạo Đế. Đây là ý nghĩa vậy, nên một lúc mà thấy được bốn chân lý.

Lại nữa do quán về sự mất mát vậy. Như nương vào kinh để quán về kiết xứ là chỗ tổn thất của tham ái, tức là Diệt. Kết xứ chính là Khổ Đế. Tham ái chính là Tập Đế. Diệt tức là Diệt Đế. Quán về sự sai trái mất mát tức là Đạo Đế. Đây chính là nghĩa mà cùng lúc thấy được chơn lý. Lại nữa cùng một lúc thấy được chân lý cũng giống như lửa. Lửa có thể đốt cháy các vật, cùng lúc có thể đốt mà có thể chiếu sáng. Quán về Đế cũng lại như thế. Cái nầy sinh cái kia mất; mỗi mỗi tự tướng đều lìa diệt, chứng tu đồng tại một lúc.

Lại nữa giống như mặt trời có thể đốt cháy các vật; nhưng nhờ nước mà nuôi hoa và mỗi mỗi có tướng khác nhau. Sự đốt cháy ấy cùng lúc phá, dưỡng. Đây sự quán về chân lý cũng thế. Lại nữa giống như cây đèn. Cây đèn cũng có thể đốt cháy các vật mà khi cho dầu vào thì sáng lên và mỗi mỗi đều có tướng khác. Sự đốt cháy và chiếu sáng ấy cùng trong một lúc. Sự quán về chân lý cũng như vậy. Lại giống như chiếc thuyền. Thuyền có khả năng chuyên chở đến kia và chẳng giống tướng của vật. Nghĩa là bên nầy bên kia hai bờ vật đến vật đi. Cùng chuyên chở và cùng lìa khỏi ngay một lúc. Như vậy quán về chân lý lại cũng như thế.

Phân Biệt Bộ nói: Nếu tu khổ tướng, quán đạt tâm sanh diệt, sợ hữu vi, tu vô nguyện giải thoát môn. Nếu quán hữu vi, duy chỉ có sanh diệt, chẳng thấy những pháp khác, tu không giải thoát môn. Nếu quán tịch tịnh, chẳng thấy hữu vi và tướng sanh diệt thì tu vô tướng giải thoát môn. Trong đây tướng khổ chính là Khổ Đế. Tướng sanh tức là sự phiền não. Nghiệp, ấy chính là Tập Đế. Tướng diệt chính là Diệt Đế. Pháp nầy có thể làm cho tâm lìa tướng, thấy vô tướng. Đây chính là Đạo Đế. Nếu thấy pháp vô vi, yên lặng lìa sanh diệt thì bốn nghĩa thành một lúc. Điều khác nầy của vô vi tịch tịnh có tên là Khổ Đế. Do trừ được điều nầy nên pháp vô vi tịch tịnh đây gọi là Tập Đế. Pháp vô vi chính là Diệt Đế. Có thể quán điều nầy tịch tịnh và thấy vô vi. Đây chính là Đạo Đế, dùng nghĩa nầy vậy. Bốn tướng tuy khác biệt; nhưng cùng quán được trong một lúc. Phía sau sẽ so sánh nhiều hơn, bây giờ chẳng giải nhiều. Có bài kệ tán rằng:

Tướng chọn lựa sai trái (lầm lẫn)
Ví như lửa, đèn, thuyền
Tướng khổ ra khỏi cửa
Một lúc thấy Tứ Đế

Hỏi: Bà La Môn Đế và Thánh Đế có gì sai biệt nhau?

Đáp: Đức Thế Tôn chính là chơn Thánh, chơn Bà La Môn. Đế nầy chẳng có sự sai biệt, giống như

Đế Thích cùng Thiên Đế vậy. Vả lại Bà La Môn Đế là nhiếp chỗ Đạo Đế. Thánh Đế là đạo quả đối trị và đạo cảnh giới là chỗ nhiếp. Lại nữa một hướng thiện là Bà La Môn Đế. Còn thiện ác vô ký chính là

Thánh Đế. Lại nữa chỉ có Đạo là Bà La Môn Đế và Đạo quả chính là Thánh Đế.

Hỏi: Vì sao chư Phật ở nơi Thánh Đế đồng có một huệ?

Đáp: Vì thông đạt vô dư pháp và tướng bình đẳng vậy; giống như dùng mắt tịnh để quán sắc. Lại nữa chẳng thấy được pháp vậy, giống như lửa nhiệt cháy sáng. Việc nầy đối với thế gian là một huệ cùng chỗ chứng. Lại giống như tấm kiến chiếu rõ mà chư Phật thông đạt cả pháp giới. Rõ biết điều nầy tất cả hai đời công đức như hiện tại, giống như tấm kính có nhiều nước, nhưng mặt trăng chỉ hiện lên đó có một hình ảnh. Liền tán bài kệ rằng;

Hai người một không khác,
Đạo thiện quả có khác,
Vô dư, chứng thấy vậy,
Kiếng pháp đều giống huệ.

Hỏi: Vì sao chỉ dùng Tứ Đế mà chư Phật nói là cao cả hơn hết?

Đáp: Có thể mang chúng sanh ra khỏi biển sanh tử, giống như pháp xuất thế. Lại nữa chân lý ấy là tối thắng, giống như chân lý ấy hơn cả. Lại có thể nhiếp tất cả các pháp chơn thật. Giống như ví dụ hơn cả Đổ Ba Diệp. Lại giống như Phạm Thích sánh với chư Thiên chẳng thể thấy vậy. Niềm vui, sức lực của Tỳ Sưu Nữu Thiên (Visnu) rõ biết chưa hết, mà trí viễn hành của các tiên nhơn đã được. Lại nữa cũng có nghĩa là vô phân biệt trí cảnh giới. Lại hay rõ điều nầy tất cả công đức là chỗ trang nghiêm như Xá Lợi Phất và Đức Thế Tôn. Lại có nghĩa là đầy đủ. Do chỗ chẳng đồng; nên đây nói là công đức tối thắng! cho nên nói Tứ Đế là hơn cả.

Hỏi: Vì sao cùng quán Tứ Đế làm cảnh cho nên trí tuệ bình đẳng, mà cái quả lại có sự sai biệt?

Đáp: Chẳng phải do sự đồng cảnh cho nên trí tuệ cũng đồng. Ví dụ như định và tham dục. Lại nữa do trí huệ sai biệt cho nên quả ấy có sự khác nhau. Giống như do nghiệp lực sai biệt cho nên quả ấy có sự sai biệt. Lại vì tu theo con đường khác cho nên gặp quả chẳng giống nhau. Giống như hạt giống không giống nhau; nên kết quả cũng khác nhau. Lại nữa do sự quán khác nhau về thượng, trung, hạ phẩm nên gặt được quả không giống nhau.

Hỏi: Như A La Hán đối với Tứ Đế, trí độn ngoài ra chẳng khác với tất cả trí, tức là không sai biệt, nếu chẳng đúng thế thì ở nơi Tứ Đế có còn vô minh chăng?

Đáp: A La Hán chẳng rõ ngoài Tứ Đế, mà cảnh giới của chư Phật thì không có vô minh. Vì sao vậy? cho nên nói rằng: A La Hán là chẳng biết gì ngoài Tứ Đế. Chẳng có vô minh, như trong kinh Thắng Đổ Ba Diệp Dụ nói. Lại nữa đức Thế Tôn đã phán quyết rằng đối với khổ và Đế mà chẳng rõ; đó chính thị là vô minh. Chẳng rõ ngoài Tứ Đế bốn phần Bì Đà Bì Đà thì chẳng gọi là vô minh.

Lại nữa chánh đối với Đế, trí đối trị với phiền não; nên nói là vô minh; chẳng phải là chẳng biết tất cả trí. Bốn loại khác nói là vô minh. Vì sao vậy? Vì chính sự khổ một phần tương tục mỗi mỗi khác nhau, nương vào sanh tử trong vô thỉ. A La Hán lại chẳng thể thấy được tâm nầy. Như đã sanh rồi, do như thế nầy mà tăng thượng duyên, duyên vào nhau mãi cùng với tư duy, thiện ác vô ký v.v… Như thế nhơn là chỗ sanh và duyên vào để nhiếp lấy. Như tại đất nầy là Tích Vị.

Lại nữa tâm thứ hai cùng với tâm giữa sau, như phương pháp nầy bắt đầu từ sát na, La Bà Mâu Hưu Đa (Lava: chỉ một thời gian ngắn; 60 sát na là một hơi thở; 10 hơi thở là một La Bà); ngày đêm nữa tháng, một tháng thời tiết năm tháng, sanh biến và diệt đi, tự nối tiếp nhau mà A La Hán lại chẳng thể thấy, hà huống có thể thấy tất cả loại khổ. Chính cái khổ của mình ấy lại chẳng thấy, làm sao có thể thấy cái khổ của người khác được. Vì vậy A La Hán chẳng thể thấy tất cả trí cảnh giới. Trong Tứ Đế tổng quát hay riêng lẽ chẳng có vô minh.

Lại nữa nếu lìa Tứ Đế để đối trị vô minh thì ngoài cảnh giới của trí lại có các pháp khác tồn tại.

Thanh văn cảnh giới có A La Hán lại cũng chẳng thể thấy. Như Xá Lợi Phất nói: Ta chẳng thấy có người trời mà chỉ có thể thấy biết ta. Nhập vào định quán và xưng tán ta, làm cho cái ta thoái khởi. Duy chỉ có Đức Thế Tôn gọi là tịch tịnh định, cho đến Mục Liên cũng chẳng thể giải là Xá Lợi Phất đã nhập đã khởi. Cho đến hóa độ cho Nan Đà Ya Bà La Môn và ngoài ra Sanh Ưu Bà Đề Xá, như thế trí tuệ biện tài, giải nói tu tập v.v.., họ đã chẳng thể được. Như Xá Lợi Phất, Ca Diếp Ba cũng lại như vậy. Cho nên lìa Tứ Đế để đối trị với vô minh thì đây gọi là phi trí. Đây không phải là vô minh.

Hỏi: Tất cả pháp, Tứ Đế đều nhiếp như trong kinh Thắng Đổ Ba Diệp Dụ, nên liền cứu giải; nếu chẳng cứu giải sẽ có Ngũ Đế. Nếu không có Ngũ Đế thì các pháp khác là phi đế chăng?

Đáp: Tự nhiên mất, rồi chẳng ra ngoài khỏi Đế và cảnh giới của thức vậy. Cho nên chẳng thể quán. Vì sao mà chẳng thể quán? Vì biết rằng pháp nầy chẳng thể hết và khổ hết, chẳng xa lìa sự mong cầu nơi ngoại đạo, chẳng thấy, chẳng thể động như cờ của Đế Thích. Nếu rõ được điều nầy, chẳng thể gọi là rõ biết vi tế. Cũng như bắn phá tóc cho đứt thì chẳng thể làm được. Cho nên chẳng liền tu học.

Lại nữa cũng có luận sư nói rằng: Tất cả pháp đều do tướng, mà tất cả nhập vào Đế để nhiếp. Tuy nhiên Bỉ Đà và Bỉ Đà Phần Túc Truyền Thế Bổn lượng phán hay luận Tăng Khứ Du Già Thật Quảng; Dục Trần Luận; Bi Thế Sư Luận; Y

Phương Luận; Tướng Luận; Tóan số Luận; Thời Trí luận; Thú luận; Nga Vực luận; Minh luận; Ca Vũ Trang Nghiêm luận; Nhơn Vũ luận; Thiên Vũ luận; Thiên Tiên Vương Truyền Đẳng luận; Ngoại Đạo luận; thường làm những việc của ngoại đạo v.v.., cho đến 96 loại. Lại có những loại dùng đến cỏ thuốc, cây, gai v.v.., da cây, nhụy hoa, quả, lá cùng với sức lực và mùi vị thục đức v.v… Lại có thế gian bất khả tư nghì hy hữu, bốn loại biến dị lớn về nghiệp quả báo v.v… Có luận có thể phân biệt điều nầy. Phật nương vào luận nầy để nói Thắng Đổ Ba Diệp Dụ. Như thế các nghĩa chẳng vì ngươi mà nói; chẳng sanh ra công đức vậy, có thể tạo nên những nghi hoặc, tăng trưởng những pháp hữu vi. Cho nên chẳng nói, giống như thuốc độc lại gặp thuốc tăng thêm. Để phản bác lại các chú thuật huyễn hóa Bì Đa La Luận, vì làm tổn não kẻ khác mà Phật đã chẳng nói ngoài Tứ Đế nầy. Do đó mà không nói riêng.

Hỏi: Sao nói bốn khổ gọi là Thánh Đế mà cũng nói đầy những khổ là Thánh Đế? Như vậy thì những kinh ấy tức chẳng phải nói. Lại theo lời người thì đối với sự khổ có tên là khổ. Như thế thì nghĩa nầy chẳng đúng chăng?

Đáp: Kinh nầy dùng trí để nói Khổ Đế và không phân biệt các cảnh nên nói bốn việc. Lại nữa do cảnh giới an lập vậy; nên trí được thành lập, giống như sáu thức. Lại cũng do công năng vậy. Trí thể duy nhất, đại để là bốn. Như Tứ Chánh Cần, rõ biết cũng lại như thế. Lại nữa Tứ Thánh Đế rõ biết là tất cả. Đối với Tứ Đế quán, nói trí là hơn cả. Do nghĩa nầy mà nói rằng sự rõ biết như cảnh.

Lại nữa muốn rõ và quyết định xa lìa thì chính là công đức Tứ Đế. Tùy theo đó mà nói một khổ cũng đủ Thánh Đế cùng với nghĩa ấy giống nhau, rồi rõ nghĩa để nói. Khổ ấy chính là liễu nghĩa chân lý. Vì sao thế? Phật bảo Khổ Đế có tướng sanh và an lập nơi bốn loại để quán. Nếu chẳng phải như thế thì tuy chỉ có một quán, đó là sự tu tập. Nếu lấy kinh nầy để phân biệt các Đế thì tuy chỉ một đế mà là chỗ Đạo Đế; nghĩa là chẳng nói Đế vậy. Kinh nầy chẳng chứng được nghĩa nầy nên nương vào A Tỳ Đạt Ma và tạng luận để được thành lập.

Hỏi: Nếu rõ biết một đế lại rõ biết các Đế khác, như vậy nói thêm ba Đế sau, chẳng ra vô dụng sao?

Đáp: Ta chẳng nói thấy Khổ Đế tức thấy các đế khác, Ta nói cùng lúc thấy được Tứ Đế. Cùng lúc lìa bỏ, cùng lúc trừ khử, cùng lúc được, cùng lúc tu. Nói các Đế khác chẳng phải là vô dụng, giống như nói Khổ Đế, lại có thêm cảnh giới làm chỗ ngăn chia số lượng, như nói Đạo số lượng. Lại có bốn loại tùy theo sự hiểu biết về một, rồi liền thông qua Đế khác. Ví dụ như rõ biết một hạt gạo, liền rõ biết những hạt gạo khác. Cho nên Tứ Đế tất cả đều dùng như thế.

Lại nữa khi nhập quán môn, khi quán về sự thủ ấm tức lìa xả ái niệm, như rõ biết oan gia. Sự chấp giữ về ấm chính là khổ đế. Ái niệm chính là Tập Đế. Lìa xả tức là Diệt Đế. Rõ biết chính là Đạo Đế. Nương vào khổ quán môn nghĩa nầy như vậy. Biết tham ái liền xả bỏ. Do đây mà khổ không sanh và tham ái chính là Tập Đế. Chỗ tham ái tức là Khổ Đế. Khổ không sanh chính là Diệt Đế. Rõ biết ấy là Đạo Đế. Nương vào Tập Đế để vào cửa quán như thế, khi rõ biết chính là tịch diệt rồi. Nếu người chứng được điều nầy thì vô minh liền diệt, hữu vi tham khát ấy liền tịch tịnh. Hữu vi tịch diệt tức là Diệt Đế. Ở đây chỗ lìa pháp tức là Khổ Đế, vô minh tham ái tức là Tập Đế. Rõ biết như thế là Đạo Đế. Nương vào Diệt Đế để vào cửa quán như thế, rõ biết pháp trợ đạo liền sanh tu tập. Phiền não chứơng và những sự sai khác liền xã. Do sự xả bỏ nầy mà có sanh. Trợ đạo chính là Đạo Đế. Có ấy tức Khổ Đế; phiền não nghiệp tức Tập Đế. Xả điều nầy và chẳng sanh chính là Diệt Đế. Nương vào cửa quán Đạo Đế như đây. Do quán về Đế nầy, tuy lại nói quán một mà cả những Đế khác nữa, chẳng phải là điều vô dụng.

Hỏi: Vì sao phía trước nói là Khổ Đế? Đáp: Vì muốn diệt khổ mà tu quán Tứ Đế và người xuất gia sống đời phạm hạnh; nên trước nói về khổ. Lại nữa sanh, già, chết là những việc khổ không cùng, niệm niệm hằng bức bách. Hành nhơn quán điều nầy muốn thoát nguyên nhơn của sự khổ, giống như sư tử, những duyên bên ngoài chẳng thể chữa trị được, mà do thời tiết từ lâu xa là bệnh gốc vậy. Hành nhơn quán điều nầy rồi liền muốn khỏi nguyên nhân bệnh ấy. Giống như vị thầy thuốc thấy khắp trong ba cõi đều bị tai họa tật bệnh hòanh hành. Hành nhơn quán điều nầy liền cầu ra khỏi nguyên nhơn ấy. Giống như tìm cây độc; lại như hạt bụi mất đi, xa lìa sự ác và nương vào sự dừng lại vậy. Nơi nơi sợ hãi; cho nên trước nói về sự khổ.

Hỏi: Nếu chưa nói nguyên nhơn mà trước nói quả thì sao lại chẳng sai trái với mười hai duyên sanh?

Sanh là lần lượt, cái nhơn mười hai duyên sanh trước, sau đó có quả. Chọn lựa lần lượt. Đối với Tứ Đế trước là quả và nguyên nhân lại nói sau. Cho nên cả hai thuyết đều chẳng sai khác. Lại nữa trong quả lại có mê duyên làm nhơn cho quả vậy.

Như kinh nói: Nếu đây có thì kia lại cũng vậy. Do sanh ở đây thì kia cũng sanh vậy. Lại trong nguyên nhân kia có mê duyên và quả theo nhơn ấy. Như trong kinh nói: Già, chết và hữu, pháp gì làm cho có? Do nghĩa nầy mà các hữu đều phá. Tất cả đều chẳng sai khác; chỉ nói nghịch thuận thôi. Hai thuyết chẳng đồng. Nói nghịch là duyên sanh. Đây gọi là Tứ Đế. Cho nên chẳng sai trái với mười hai duyên sanh.

Hỏi: Vì sao trước nói Diệt Đế sau đó mới nói Đạo Đế?

Đáp: Có hai loại nghĩa. Một là thuận và hai là nghịch. Như trong kinh nói: Giới thanh tịnh là tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh chính là huệ thanh tịnh; cho đến giải thoát tri kiến và minh giải thoát. Đây có tên là nói thuận còn nói ngược lại: Giải thoát chính là lấy sự lìa dục làm duyên. Lìa dục tức là xa lìa các duyên ác. Xa lìa tức là lấy sự thấy chơn thật làm duyên. Cho đến không lo lắng là do lấy giới thanh tịnh làm duyên vậy

Luận về bốn chân lý Phẩm Tư Trạch cứu cánh

Từ Ngữ Phật Học Trong: 1.1 Phẩm Tư Trạch (Thứ Nhất)