Kinh Diệu Pháp Liên Hoa từ lúc dịch từ tiếng Phạn sang tiếng Hoa đến nay đã gần một ngàn sáu bảy trăm năm. Trong những bộ kinh lớn ở Trung Quốc, bộ kinh được mọi người đọc tụng, nghiên cứu, lưu hành phổ biến nhất, hoằng dương long thạnh nhất chính là bộ kinh này. Đây là do chúng sinh xứ này đặc biệt có đầy đủ căn tánh Đại thừa, cho nên các kinh điển được đọc tụng, hoằng truyền, phần lớn là Đại thừa, đặc biệt kinh này là thạnh hành nhất. Xưa nay ở mọi nơi, thỉnh thoảng có [pháp hội] đọc tụng hoặc giảng giải [kinh Pháp Hoa], nhưng ở xứ Ninh ba này, sự hoằng dương lưu hành [kinh này] lại càng thạnh hành hơn. Như người Ninh Ba biết có kinh điển Đại thừa, tức là liên hệ đến kinh này. Hiện nay, đạo tràng Diên Khánh Tự này lại là nơi mà ngài Tứ Minh Tôn Giả Pháp Trí Đại Sư đời Tống đã từng hoằng dương kinh này. Nhân vì phái Thiên Thai tôn sùng kinh Pháp Hoa, cho nên các vị hoằng truyền kinh Pháp Hoa sau này đều tôn sùng ngài Trí Giả Đại Sư. Đương thời, ngài Trí Giả giảng thuyết kinh này được ghi lại lưu truyền đến đời sau gồm có hai bộ là Pháp Hoa Huyền Nghĩa và Pháp Hoa Văn Cú. Pháp Hoa Huyền Nghĩa giảng giải ý nghĩa thâm sâu huyền diệu của kinh, Pháp Hoa Văn Cú giải thích ý nghĩa của kinh văn, phân tích từng câu từng chữ. Ý nghĩa của hai bộ sách này rộng lớn sâu xa, muốn nghiên cứu tường tận cũng không phải là điều dễ dàng. Cho nên hiện nay tôi (Thái Hư) chỉ ghi lại những ý tưởng chính yếu của ngài Trí Giả Đại Sư, nêu lên sơ lược để cho những người học Phật sơ cơ dễ hiểu.
Ngài Trí Giả Đại Sư giải thích đề kinh dùng Ngũ trùng huyền nghĩa: (1) Danh: kinh này dùng pháp và dụ làm danh. (2) Thể: dùng thực tướng của các pháp làm thể. (3) Tông: dùng nhân quả Nhất thừa làm tông. (4) dùng đoạn nghi sinh tín làm dụng. (5) Giáo: dùng vô thượng đề hồ làm giáo tướng.
Trong phần Ngũ trùng huyền nghĩa, trước tiên dùng Thất phiên cộng giải. Tương truyền, ngài Trí Giả trong chín tuần (90 ngày) chỉ giảng về ý nghĩa của một chữ "Diệu", mà vẫn chưa khai triển hết ý nghĩa của nó, đủ biết là nội dung sâu rộng biết chừng nào.
Cho nên hiện nay tôi y cứ vào ý nghĩa đó mà cải biến để giải thích thành bốn phần như sau: (1) Thích danh, (2) Đề cương, (3) Khảo kinh, và (4) Giải văn.