Home > Khai Thị Phật Học > -Ton-Gia-Atisha
Tôn Giả Atisha
| Hòa Thượng Thích Pháp Chánh, Việt Dịch


A1. Vì muốn thuyết minh nguồn gốc thanh tịnh của pháp nên nhấn mạnh sự trọng yếu của tác giả
B1. Dòng họ viên mãn
B2. Công đức bổn sinh
C1. Công đức của sự học rộng hiểu rõ giáo lý
C2. Công đức của sự như lý tu hành chứng đắc
B3. Sự nghiệp đối với Phật giáo
C1. Sự nghiệp ở Ấn Độ
C2. Sự nghiệp ở Tây Tạng

Theo quy tắc thuyết pháp của chùa Tế Ca Ma La Hỷ La (Vikramashila), trước tiên phải nói rõ ba sự việc: (1) sự quan trọng của tác giả, (2) sự quan trọng của Pháp, và (3) phải nên giảng pháp và nghe pháp như thế nào.

Hiện nay, phần dẫn đạo của bổn luận được chia làm bốn: (A) Vì muốn thuyết minh nguồn gốc thanh tịnh của pháp nên nhấn mạnh sự trọng yếu của tác giả. (A) Vì muốn chúng sinh khởi tâm tin tưởng kính trọng những điều được giảng dạy nên nhấn mạnh sự trọng yếu của pháp. (A) Đối với pháp đầy đủ hai loại trọng yếu, phải nên lắng nghe và giảng giải như thế nào. (A) Làm thế nào để dùng chánh giáo dẫn đạo đệ tử theo thứ tự.

A1. Vì muốn thuyết minh nguồn gốc thanh tịnh của pháp nên nhấn mạnh sự trọng yếu của tác giả.

Bổn luận căn cứ tổng quát vào Hiện Quán Trang Nghiêm Luận của ngài Di Lặc và căn cứ chi tiết vào Bồ Đề Đạo Đăng Luận, cho nên tác giả của Bồ Đề Đạo Đăng Luận cũng là tác giả của bổn luận, tên ngài là Đại A Xà Lê Nhiên Đăng Cát Tường Trí (Dipankarasrijnana), biệt hiệu là Tôn giả Atisha.

B1. Dòng họ viên mãn.

Ngài La Trá Ngõa (Nag tso) ca tụng:

Phương đông, vùng Nhạ Hỏa (Za hor),
Ở đó có thành lớn,
Tên Thứ Đệ Tụ Lạc (Vikramanipuna),
Trong đó có vương cung,
Lầu các rất nguy nga,
Tên gọi là Kim Tràng (Golden Banner),
Nhà vua tên Thiện Đức (Kalyanashri),
Phong phú nhiều tài bảo,
Giống như vua Trung hoa,
Vương phi Cát Tường Quang (Prabhavati),
Sinh được ba hoàng tử,
Tên là Liên Hoa Tạng (Padmagarba),
Nguyệt Tạng (Candragarba),
Cát Tường Tạng (Srigarba),
Thái tử Liên Hoa Tạng,
Có năm vợ, chín con,
Con lớn Phú Cát Tường (Punyasri),
Là người đầy tài năng,
Hiệu là Đạt Na Hỷ (Dhanashri),
Cát Tường Tạng hiện là,
Tỳ kheo Tinh Tiến Nguyệt (Viryacandra),
Còn hoàng tử Nguyệt Tạng (Tôn giả Atisha),
Là bổn sư của tôi.

B2. Công đức bổn sinh.

C1. Công đức của sự học rộng hiểu rõ giáo lý.

Tôn giả Atisha, vào khoảng hai mươi mốt tuổi, đã thông đạt giáo điển của cả Phật giáo và ngoại đạo, cùng bốn minh khác là thanh minh (ngôn ngữ), nhân minh (luận lý học), công xảo minh (kỹ thuật) và y phương minh (y thuật) đến trình độ rốt ráo. Năm mười lăm tuổi, tôn giả chỉ nghe giảng Chánh Lý Trích

Luận (Drop of Reasoning) một lần mà đã có thể biện luận chiết phục một ngoại đạo trứ danh, và từ đó tôn giả được vang danh khắp mọi nơi . Sau đó tôn giả đến Hắc Sơn Đạo Trường, gần gũi Lạt ma La Hầu La Cổ Đạt (Rahulagupta). Vị lạt ma này đã từng được Hỷ Kim Cang (Hevajra – Không Trí Kim Cang) hiện thân cho thấy, và cũng được Kim Cang Không Hành Mẫu (Vajradakini) 8 thọ ký sẽ được thành tựu. Tôn giả Atisha được vị lạt ma này làm pháp quán đảnh, hiệu là Trì Mật Kim Cang (Jnanaguhyavajra). Từ đó đến năm hai mươi chín tuổi, tôn giả hầu như đã thông đạt tất cả kinh giáo, do đây bèn khởi niệm cho rằng mình đã tinh thông âm vận của tất cả Mật chú. Thế nhưng, sau đó tôn giả được các Không hành mẫu, v.v..., thị hiện trong mộng cho thấy còn rất nhiều bộ Mật kinh mà tôn giả chưa từng học qua, và cũng nhờ những sự chỉ điểm này mà tôn giả đã xả bỏ tâm kiêu mạn. Từ đó các đạo sư cùng các bổn tôn, hoặc chỉ điểm công khai, hoặc thị hiện trong mộng, đều khuyên tôn giả nên xuất gia thì mới có thể làm lợi ích lớn cho Phật pháp và chúng sanh. Tôn giả y theo lời khuyên, bèn tìm đến cầu xin xuất gia với ngài Giới Khải (Silaraksita), một vị thượng tọa trì luật đã chứng gia hành vị của Đại Chúng Bộ. Từ đó cho đến năm ba mươi mốt tuổi, tôn giả đã học tập tất cả giáo lý của Hiển giáo, đặc biệt tôn giả đã y chỉ ngài Pháp Khải Luận Sư (Dharmaraksita) ở A Đăng Đả Bồ Nhật (Otanta puri), nghiên cứu bộ Đại Tỳ Ba Sa Luận (Maha Vibhasa) suốt mười hai năm.

Đối với bốn bộ luận trọng yếu, ngài đã học tập cực kỳ tinh thông, do đó đối với dị nghĩa, cùng những chỗ thủ xả, sai biệt, tuy cực kỳ nhỏ nhiệm giữa các bộ luận, ngài cũng có thể nhận biết rõ ràng, không hề lầm lẫn.

C2. Công đức của sự như lý tu hành chứng đắc.

Ba tạng (kinh, luật, luận) bao quát tất cả những lời Phật dạy, vì vậy, công đức của sự tu chứng cũng được bao gồm trong ba học (giới, định, tuệ). Giới học là chỗ nương tựa của tất cả công đức của định tuệ, đây là điều mà tất cả các kinh luận đều ca ngợi. Muốn cầu chứng đắc định tuệ, trước tiên cần phải có đầy đủ tịnh giới làm tăng thượng duyên. Ở đây có ba giai đoạn: (1) Trước tiên, đầy đủ giới biệt giải thoát thù thắng: Tôn giả sau khi thọ giới tỳ kheo, yêu thích hộ trì giới luật giống như con trâu Mao thương tiếc cái đuôi của nó (Hán: mao ngưu ái vĩ), giữ gìn các giới nhỏ nhặt, dù mất thân mạng cũng không vi phạm, huống chi là các giới trọng. Vì lý do này, ngài được xưng tụng là Đại thượng tọa trì luật. (2) Kế đó, đầy đủ giới Bồ tát: Tôn giả lúc đang tu tập pháp Phát Bồ đề tâm lấy từ bi làm căn bổn, tuy đã từng đi học hỏi nhiều vị thiện tri thức, nhưng không bao lâu thì đến y chỉ Kim Châu Đại Sư (Dharmakirti ở Suvaradvipa), tu tập những pháp môn tối thắng do các ngài Di Lặc, Văn Thù, Vô Trước, và Tịch Thiên truyền thừa. Ngài tu tập thành tựu pháp môn Hoán đổi mình và người, cho nên Bồ đề tâm tùy thời sanh khởi. Từ nguyện muốn vào hạnh, cho nên ngài đã thọ giới Bồ tát, rộng tu các hạnh, không bao giờ vi phạm. (3) Sau cùng, đầy đủ giới Kim cang thừa: Do ngài đầy đủ sự sanh khởi theo thứ tự pháp quán tự thân thành bổn tôn, cùng tam ma địa Kim cương tâm viên mãn thứ đệ, cho nên đã trở thành một hành giả Du Già cao cấp. Đặc biệt, đối với cấm giới, ngài không bao giờ vi phạm, đồng thời, gìn giữ nghiêm mật các Tam ma da. Đối với ba loại giới pháp nêu trên, không những ngài hăng hái hoan hỷ lãnh thọ, mà còn thực hành gìn giữ cấm giới, không hề vi phạm.

Giả như có lỡ vi phạm thì lập tức sám hối trừ diệt, khôi phục sự thanh tịnh.

Đầy đủ định học, có hai phần: (i) cộng: trong pháp chỉ, chứng đắc sự kham năng của tâm, (ii) bất cộng: chứng đắc thứ tự sinh khởi tối cực kiên cố. Lại còn tu các cấm giới sáu năm, hoặc có người nói ba năm.

Đầy đủ tuệ học, có hai phần: (i) tu tập chỉ quán song vận, chứng đắc Quán hành tam muội, (ii) thành tựu thứ đệ viên mãn, chứng đắc thù thắng tam muội.

B3. Sự nghiệp đối với Phật giáo.

C1. Sự nghiệp ở Ấn Độ.

Lúc ở chùa Đại Bồ Đề ở Kim Cương Tòa (Bồ Đề Đạo Trường), tôn giả đã từng ba lần chế phục các ngoại đạo làm cho họ quy phục Phật giáo. Hơn nữa, đối với những người trong các bộ phái Phật giáo, hoặc chưa thông hiểu Phật pháp, hoặc có kiến giải sai lầm, hoặc có nghi hoặc, ngài đều giúp họ tẩy trừ nghi hoặc, sai lầm, quay về an trụ trong chánh kiến. Đối với các giáo phái, bất luận Đại thừa hay Tiểu thừa, ngài đều cung kính, tôn trọng.

C2. Sự nghiệp ở Tây Tạng.

Người Tây Tạng đã nhiều lần nghinh thỉnh tôn giả đến nước họ hoằng pháp, nhưng ngài đều từ chối. Mãi đến khi vua Tây Tạng là Bồ Đề Quang (Byang chub od) lên ngôi, phái sứ giả đến cung thỉnh, lúc ấy ngài mới nhận lời. Theo lời cầu thỉnh của mọi người, ngài đã chỉnh đốn lại Phật giáo, đồng thời soạn thuật nhiều tác phẩm như Bồ Đề Đạo Đăng Luận, v.v..., tổng nhiếp tất cả tâm yếu của hai thừa Hiển, Mật. Tổng cộng, ngài đã cư trú tại Tây Tạng hai mươi năm, giáo hóa vô số. Những người có căn cơ thích hợp đều được lợi ích.

Những người có thể tạo luận giải thích nêu rõ mật ý của Đức Thế Tôn cần phải có đủ ba điều kiện: (1) phải tinh thông ngũ minh, (2) yếu nghĩa của sự tu trì, giáo thọ từ Đức Thế Tôn phải do sư trưởng truyền thừa đời đời không gián đoạn, (3) cần phải thấy được Bổn tôn hứa khả. Trên nguyên tắc, chỉ cần hội đủ một trong ba điều kiện là có thể tạo luận, thế nhưng nếu hội đủ cả ba thì là điều tốt nhất. Đại A Xà Lê Atisha là bậc đã hội đủ cả ba điều kiện này.

Bổn tôn nhiếp thọ: Như ngài La Trá Ngõa (Nag tso) ca tụng:

Cụ Đức Hỷ Kim Cang (Hevajra),
Kiến Lập Tam Muội Vương
(Trisamayavyuharaja),
Dũng Thức Thế Tự Tại (Lokesvara),
Cùng Tôn Thắng Độ Mẫu (Tara),
Đều hiện thân khai thị,
Lúc thức, hoặc trong mộng,
Tôn giả đều được nghe,
Pháp rộng sâu thâm diệu.

Lạt ma truyền thừa: Sự truyền thừa của Phật giáo có hai: (1) cộng, tức là giáo pháp Tiểu thừa dành cho hai bậc hạ sĩ và trung sĩ, (2) bất cộng, tức là giáo pháp Đại thừa. Pháp Đại thừa lại chia làm hai là Ba la mật thừa (Hiển giáo) và Kim cang thừa (Mật giáo). Ba la mật thừa lại chia làm hai phái là phái Thâm quán và phái Quảng hành. Phái Quảng hành lại chia làm hai phái của hai ngài Văn Thù và Di Lặc. Kim cang thừa cũng có nhiều truyền thừa. Tôn giả Atisha đối với tất cả giáo pháp này đều học tập viên mãn. Những bậc thiện tri thức mà ngài đã từng theo học, như bài kệ tán thán:

Thường gặp thầy y chỉ:
Hinh Để Ba (Santi pa),
Kim Châu (Ser ling ba),
Giác Hiền (Bhadrabodhi),
Cát Tường Trí (Jnanasri),
Đều được tô tất địa,
Riêng bên dòng Long Thọ,
Phái Thâm quán, Quảng hành,
Theo thứ tự truyền thừa,
Tất cả ngài đều học.

Các bậc thiện tri thức đã thành tựu mà tôn giả Atisha theo học có mười hai vị, ngoài ra cũng còn nhiều vị khác. Vì thế, A xà lê Atisha có năng lực rất lớn, khéo quyết trạch mật ý của Đức Như Lai. Trong các đệ tử nổi danh của ngài, ở Ấn Độ có các ngài Tỷ Đóa Ba (Bi do ba), Pháp Sinh Tuệ (Dharma karamati), Trung Đạo Sư Tử (Madhyasinha), Địa Tạng

(Ksitigarbha), Mật Hữu (Mitraguhya), v.v...; ở Tây Tạng, các đệ tử có thể thọ trì pháp tạng của tôn giả cũng không phải ít, trong số này, nhân vật xuất sắc nhất là ngài Chủng Đôn Kiệt (Dromdon ba Gyel way jung nay).

Trên đây chỉ nói sơ lược những dữ kiện quan trọng về tôn giả Atisha, còn phần chi tiết đã được tường thuật trong bổn truyện của ngài.