Sư họ Tôn, quê ở Xương Lê, sau dời đến Anh Đào, Cự Lộc. Bản tánh sư cao thượng hòa nhã, các kinh luận chỉ cần xem qua một lần liền thông hiểu. Sư xuất gia và thụ sa di từ nhỏ, mỗi khi nhàn rỗi thường cùng bọn trẻ thí võ làm vui, nhưng vì yếu sức nên bị chúng bạn khinh thường. Sư buồn tủi liền vào điện đóng cửa, ôm chân thần Kim Cang, thệ rằng:
– Sức con yếu kém nên bị chúng bạn làm nhục, ngài nổi tiếng có sức mạnh, xin ngài giúp con. Con xin đỡ chân ngài bảy ngày, ngài hãy cho con sức mạnh. Nếu không được như nguyện, dù chết con cũng không đổi ý.
Rạng sáng ngày thứ sáu, thần Kim Cang xuất hiện, cầm một bát gân bảo sư:
– Này tiểu tử! Ngươi muốn có sức mạnh thì hãy ăn bát gân này!
Vì giữ trai giới nên sư từ chối. Vị thần dùng chày dọa nạt, sư sợ quá liền ăn, ăn xong, thần bảo:
– Ngươi có sức mạnh rồi, nhưng hãy cố gắng siêng năng tu tập.
Nói rồi vị thần bỏ đi, trời cũng vừa sáng, sư trở về phòng. Hôm sau, sư cùng chúng bạn chơi đùa, cũng lại bị khinh thường, sư liền nói:
– Tôi đã có sức mạnh, e rằng các bạn không thắng được đâu!
Bọn trẻ liền đến kéo thử cánh tay của sư, thấy gân cốt cứng rắn, không giống người bình thường, chúng rất kinh ngạc. Sư bảo:
– Hãy tỉ thí với tôi!
Nói rồi, cùng nhau vào trong điện, sư đi ngang trên tường, từ tây sang đông đến vài trăm bước, lại vọt một cái đầu đụng xà nhà cao ba bốn nhận; lại có thể kéo vật nặng đến ba vạn cân. Sư mạnh mẽ, nhanh nhẹn khiến mọi người đều kinh hãi và kính phục.
Có lần sư ở chùa Tung Nhạc, nơi đây có khe nước chỉ đủ dùng cho trăm tăng chúng. Bấy giờ, một thiếu phụ xuất hiện, mặc y phục thô xấu cầm chổi ngồi bên thềm nghe chúng tăng tụng kinh. Mọi người không biết đó là vị thần bèn la mắng, đuổi đi. Thiếu phụ tức giận đưa chân đạp khe nước, lập tức dòng nước liền khô cạn và vị thần ấy cũng biến mất. Mọi người liền thưa với sư. Sư gọi:
– Ưu bà di!
Gọi đến ba lần thì thiếu phụ xuất hiện. Sư bảo:
– Đây là nơi chúng tăng tu hành, ngươi phải nên ủng hộ.
Thiếu phụ liền đưa chân khươi khe nước, lập tức nước vọt ra. Mọi người đều cho là việc kì lạ.
Sau đó, sư đến tịnh tu ở núi Vương Ốc[30] phía tây Hoài châu. Một hôm, nghe hai con hổ ẩu đả nhau, gầm rống chấn động cả núi rừng, sư liền cầm tích trượng đến can ra, chúng đều bỏ đi.
Lần nọ, sư bỗng thấy hai quyển kinh Tiên trên giường, liền bảo:
– Tôi tu theo Phật, há lại cầu trường sinh trong cõi này ư?
Sư nói xong, hai quyển kinh liền biến mất. Sau đó, sư dời đến núi Thanh La ở, được những người bệnh hủi đến cúng dường. Họ hôi hám, lở loét nhưng sư vẫn thụ nhận không chút e ngại. Lần nọ, sư ngồi lâu mỏi chân bèn duỗi ra, có vị thần đến đỡ, giúp sư trở lại ngồi kiết già. Từ đó, sư thường nhập định, mỗi kì bảy ngày.
Vua hạ chiếu triệu sư vào cung, nhưng sư không tuân chỉ. Vua dùng mọi phương cách tha thiết thỉnh mời, sư mới nhận lời. Hôm sư sắp ra đi, hai bên hang núi bỗng chấn động, vang ra những âm thanh bi thiết, khiến lòng người lo lắng sợ hãi, cầm thú hoảng hốt bay chạy tứ tán, suốt ba ngày như thế. Sư quay lại bảo:
– Loài cầm thú cũng có tánh chuộng đạo đức, giữ lòng nhân. Há chẳng phải ái tình dễ vướng mắc, còn tự tại thì khó ràng buộc ư?
Thế là sư không thuận theo tình cảm để ở lại mà chấn tích đến Chương Phủ.[31] Có lần một vị khách tăng cầm tích trượng đến, khi sắp đặt chỗ ở, sư hỏi hạ lạp của vị ấy.
Vị tăng đáp:
– Tôi thấy nơi đây đã ba lần xây dựng già lam.
Nói rồi vị tăng biến mất. Sau đó, có người đào giếng nhặt được hai vật trang trí trên hai đầu nóc chùa ngày xưa.
Trước hang sư tọa thiền có một khe sâu. Một hôm có một người mặc áo lông, thân hình cao lớn, dung mạo như người Hồ, đặt chảo đốt lửa. Lúc nước sắp sôi, chợt có một con rắn lớn từ dòng nước bò ra muốn vào trong chảo, sư đưa chân hất chảo, rắn liền bò trở lại dòng nước, người mặc áo lông cũng biến mất.
Đêm đó, có một vị thần đến đảnh lễ sư, thưa:
– Con của đệ tử hàng năm bị ác thần ăn thịt, nay vì bọn trẻ tiếc mạng sống, không muốn dâng nạp, còn đệ tử già yếu sắp chết, nên tự đến thế mạng. Mong nhờ oai lực của ngài, giúp đệ tử được thoát nạn này.
Sư liền dùng nước phun lên, bỗng chốc biến thành sương mù.
Bấy giờ có người sàm tấu với Tuyên Đế là sư ngang bướng khinh thường vua. Tuyên Đế nổi giận đích thân muốn đến hại sư. Tuy trước đó sư chưa bao giờ đến nhà bếp, nhưng khi đoán biết được việc này, sư liền xuống dặn chúng tăng:
– Ngày mai có khách quí đến đây, hãy làm nhiều thức ăn để tiếp đãi.
Đến canh năm, sư chuẩn bị xe đến cửa núi cách chùa hơn hai mươi dặm, một mình đứng bên đường. Không bao lâu vua đến, kinh ngạc hỏi nguyên nhân, sư đáp:
– Tôi sợ máu mình làm ô uế chốn Già lam, nên đến đây đợi ngài.
Vua bảo Thượng thư lệnh Dương Tuân Ngạn:
– Bậc chân nhân như vậy, sao có thể hủy báng ta!.
Vua quay lại nói với sư:
– Trẩm chưa từng thấy sự linh hiển của Phật pháp, ngài có thể cho trẩm thấy được không?
Sư đáp:
– Đó chẳng phải việc làm của sa môn.
Nhưng vua cố nài thỉnh, nên sư bèn tung tấm ca sa trên đất. Vua sai hơn mười người đến nhấc lên nhưng không hề lay động. Sư bảo một sa di đến thử, vị ấy cầm lên một cách nhẹ nhàng.
Liễu thị vợ của Đỗ Xương ở Tung Dương, [32] tâm rất đố kị. Một hôm, Đỗ Xương gội đầu, bảo nô tì Kim Kinh chải tóc, Liễu thị ganh ghét liền chặt hai ngón tay của Kim Kinh. Không lâu, Liễu thị bị chồn cắn đứt hai ngón tay. Lại có nô tì Ngọc Liên, đàn hát rất hay, Đỗ Xương luôn khen ngợi, sủng ái. Liễu thị thấy vậy bèn cắt lưỡi cô ta, không lâu lưỡi của Liễu thị bị lở loét. Lúc bệnh nguy cấp, bà liền đến gặp sư xin sám hối. Sư biết trước việc này nên bảo:
– Phu nhân có tâm tật đố sâu nặng, ngày trước chặt hai ngón tay của nô tì, nên chính mình cũng bị mất hai ngón tay. Nay lại cắt lưỡi của người khác nên lưỡi của phu nhân mới bị như vậy. Nếu phu nhân chí thành sám hối thì có thể qua khỏi.
Liễu thị tha thiết lễ bái sám hối, qua bảy ngày sư lớn tiếng trì chú, ngay khi ấy, trong miệng Liễu thị có hai con rắn bò ra, dài hơn một thước. Sư trì chú liên tục nó liền rơi xuống. Sau đó, lưỡi của Liễu thị cũng bình phục.
Lúc sư sắp viên tịch, trong chùa có nhiều mùi hương lạ, người nghe đều khởi lòng cung kính. Trong ngày đó, vua lệnh cho bốn chúng[33], các chùa và hàng vạn nhân dân mang ngàn cây gỗ thơm đến chùa. Đúng trưa thì trà tì, mọi người đều gào khóc thảm thiết chấn động cả núi sông. Bỗng có vài trăm con chim trắng tụ tập quanh trên chỗ trà tì, kêu lên những tiếng bi ai, một hồi lâu rồi bay đi.