Thích Huyền Sướng
Minh Thành Tổ Chu Lệ | Đức Nghiêm Đức Thuận Nguyên Nhứt, Việt Dịch


Sư họ Triệu, quê Kim Thành, Hà Tây. Lúc sư còn nhỏ, gia đình bị giặc Hung Nô sát hại, khi họ định giết sư, thì tướng giặc ngăn lại, nói:

– Ánh mắt của đứa bé này chiếu ra ngoài, đây chẳng phải là đứa trẻ tầm thường.

Nói xong, ông ta liền tha. Nhân đây sư đến Lương Châu xuất gia. Về sau giặc Hung Nô bạo ngược, hủy diệt Phật pháp giết hại sa môn, chỉ có sư được thoát nạn.

Đến ngày 17 tháng 5 nhuần, niên hiệu Nguyên Gia 22 (445), sư từ Bình Thành đến Thượng Cốc ở Đại quận, rồi đi về phía đông, vượt núi Thái Hành đến U Kí, lại theo hướng nam đến Mạnh Tân. Sư chỉ mang theo một bó dương chi[39] và lá hành. Khi Kị binh của Hung Nô sắp đuổi kịp, sư liền lấy bó dương chi tung cát mù mịt, khiến người, ngựa không thể tiến tới. Lát sau cát lắng xuống, giặc lại đuổi tiếp, sư liền lao xuống sông, đặt lá hành vào mũi để thở bơi qua sông.

Ngày mồng 1 tháng 8, sư đến Dương Châu. Bấy giờ, sư đã thông suốt kinh luật, hiểu sâu yếu chỉ thiền, có thể đoán biết những việc tốt xấu rất ứng nghiệm.

Cuối đời Tống, sư lên thuyền đi đến Thành Đô, trú ở chùa Đại Thạch, đích thân họa tượng mười sáu vị thần như: Kim Cương Mật Tích v.v. Niên hiệu Thăng Minh thứ ba (479), sư đi về phía tây ngoạn cảnh Mân Lãnh và đến huyện Quảng Dương phía bắc quận Mân sơn. Tại đây sư thấy núi Tề Hậu hùng vĩ nên sư có ý định trụ suốt đời, bèn kết cỏ làm am cạnh hang núi.

Về sau, đệ tử Pháp Kì thấy thần nhơn cưỡi ngựa mặc đơn y màu xanh, nhiễu quanh núi một vòng và trở lại chỉ nơi lập tháp.

Ngày 23 tháng 4 niên hiệu Kiến Nguyên thứ nhứt (479) nhà Tề, sư xây dựng chùa Tề Hưng. Sau đó, Huệ thái tử nhiều lần sai sứ mang chiếu chỉ đến thỉnh, thấy không thể từ chối nên sư lên thuyền đi về phía đông, giữa đường mắc bệnh. Sư vừa đến kinh đô, bốn chúng đều tôn kính, ít lâu sau sư thị tịch, thọ thế 69 tuổi.

Từ Ngữ Phật Học Trong: Thích Huyền Sướng