Đàm Ma Mật Đa
Minh Thành Tổ Chu Lệ | Đức Nghiêm Đức Thuận Nguyên Nhứt, Việt Dịch


Đàm ma mật đa, Trung Hoa dịch là Pháp Tú. Sư người Kế tân.[18] Mới bảy tuổi sư đã thông minh sáng suốt, mỗi lần thấy pháp sự[19] tự nhiên vui mừng, cha mẹ rất thương yêu quí trọng, bèn cho sư xuất gia.

Ở Kế tân có nhiều bậc hiền tài, nên sư luôn được gần gũi các bậc minh sư, nhờ đó am tường tất cả các bộ kinh, đặc biệt rất thông thạo pháp thiền, thấu hiểu được những nghĩa lí sâu xa vi diệu. Sư là người sâu sắc có huệ giải, oai nghi chánh trực. Sư vốn có hai chân mày liền nhau, nên người đời thường gọi là: “Mi thiền sư”.

Thuở thiếu thời, sư thích du phương và lập chí giáo hóa, trải qua nhiều nước, cuối cùng đến Qui tư. Trước khi sư đến một ngày, vua mơ thấy một vị thần báo mộng:

– Có một người phúc đức lớn, ngày mai sẽ vào nước này, ngài hãy cúng dường vị ấy.

Sáng ra, vua lệnh cho các quan ở biên ải:

– Nếu có người lạ đến, hãy nhanh chóng báo cho trẩm biết.

Không bao lâu, quả thật sư đến. Vua đích thân ra ngoài thành nghinh đón và thỉnh về hoàng cung. Từ đó, vua theo sư thụ giới và dâng cúng tứ sự. Tuy sư đã có nơi an trú, nhưng có thể đi bất cứ lúc nào, không xem trọng lợi dưỡng. Ở được vài năm sư có ý muốn đi. Vị thần lại đến báo mộng cho vua:

– Người phúc đức kia sẽ bỏ ngài ra đi.

Vua giật mình tỉnh giấc, liền cùng với quần thần tha thiết thỉnh sư ở lại, nhưng sư không nhận lời.

Sư vượt sa mạc đến Đôn Hoàng, lập tinh xá trên vùng đất trống, trồng cả ngàn cây Nại, [20] khai khẩn đến trăm mẫu vườn, xây dựng phòng xá, vườn rừng, ao hồ rất trang nghiêm. Một thời gian ngắn, sư lại đến Lương châu, trùng tu ngôi chùa nơi phủ quan. Đồ chúng theo sư tu học rất đông, khiến pháp thiền vô cùng hưng thịnh.

Sư thường đến kinh đô ở vùng Giang Tả và muốn hoằng truyền giáo pháp nơi đây. Niên hiệu Nguyên Gia thứ nhất (424) đời Tống, sư đến đất Thục, không bao lâu sư đến đất Thiểm, rồi dừng tại Kinh châu, xây dựng một ngôi thiền đường ở chùa Trường Sa, chí thành khẩn thiết muốn thỉnh xá lợi. Hơn mười ngày liền có cảm ứng, từ một bình đồng phát ra âm thanh, ánh sáng tỏa khắp thiền đường. Từ đó tín tâm của đạo tục ngày càng dõng mãnh, mọi người đều gắng lòng.

Một thời gian sau, sư đến kinh đô, đầu tiên dừng ở chùa Trung Hưng[21], về già trụ ở Kì Hoàn. Sư giáo hóa khắp các nước, danh tiếng vang dội. Khi sư vừa đến, cả kinh đô đều kính lễ thăm hỏi, từ Tống Văn Đế cho đến Viên hoàng hậu, thái tử, công chúa, đều thiết trai ở cung quế[22] và truyền giới ở hậu cung. Vua sai sứ hàng tuần đến thăm hỏi sư. Ở chùa Kì hoàn sư dịch được các bộ kinh như: Thiền kinh, Thiền pháp yếu, Phổ Hiền quán, Hư không tạng quán… Sư thường giảng dạy pháp thiền, mọi người dù ở xa ngàn dặm vẫn đến tham học. Dân chúng xa gần đều gọi sư là: “Đại Thiền Sư”.

Thái thú Cối Kê là Bình Xương Mạnh Khởi, tin sâu Phật pháp, hết lòng phụng sự Tam bảo, ngưỡng mộ pháp thiền. Khi đến vùng Triết hữu ông cũng thỉnh sư cùng đi, và xây cho sư một ngôi chùa trong núi ở huyện Mậu. Phía đông vùng này, dân chúng phần nhiều theo đồng bóng, từ khi sư đến giáo hóa, mọi người đều cải tà qui chánh, hết lòng tin phục.

Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười (433), sư trở về kinh đô dừng lại chùa Định Lâm Hạ [23] ở Chung sơn. Bản tính sư trầm lặng, thích cảnh núi rừng. Sư cho Chung sơn trấn nhạc, đẹp sánh ngang với núi Tung Hoa, [24] nên thường than: “Nền móng chùa Hạ gần khe suối, thế đất nghiêng”.Sư liền chọn vùng đất cao xây dựng chùa Thượng.

Niên hiệu Nguyên Gia thứ mười hai (435), sư cho đốn cây, dọn đá tạo dựng chùa Thượng, dân chúng thán phục sư nên cúng dường rất nhiều vật liệu xây dựng. Thiền phòng, tự viện, điện đường rất hùng tráng.

Lúc đó, các vị sa môn ở xa vạn dặm cũng tìm đến tham học, tụng tập trang nghiêm, học hỏi chí thành. Sư vang danh khắp nơi, thành tựu giáo hoá. Về sau Đạt thiên sư ở chùa Định Lâm là đệ tử xuất chúng của sư, đã truyền bá tông phong của thầy ngày càng hưng thạnh. Cho nên, truyền giáo đã lầu mà không ai có thể thay thế, sự nghiệp hiển vinh mà không bị suy tàn, đó là nhờ ân đức của sư để lại.

Bắt đầu từ Tây Vức đến Nam thổ, nơi nào đi qua sư đều lập đàn hội bố thí, diễn thuyết Phật pháp. Lúc từ Kế tân lên đường, sư được vị thần Ca tì la theo hộ tống, trên đường đến Qui tư vị thần muốn trở về, liền hiện hình thưa:

– Ngài thần lực vô biên, đến đi tự tại, tôi không thể cùng ngài đến Nam thổ được.

Nói xong thần liền ẩn mất.

Đến kinh đô sư họa lại bức tượng của vị thần trên vách tường chùa Thượng. Từ đó đến nay vẫn còn linh nghiệm, những người thành tâm đến cầu nguyện đều được như ý. Đến ngày mồng sáu tháng bảy, niên hiệu Nguyên Gia thứ mười chín (442), sư viên tịch tại chùa Thượng, trụ thế 80 tuổi.