Ý nghĩa nguyên gốc của chữ Trai (齋) là ăn đúng thời, tức là “quá Ngọ chẳng ăn”. Đấy chính là [ý nghĩa] theo kinh văn trong giới luật. “Trai” lại còn có nghĩa là “răn dè, tôn kính”. Vì thế, trong ngày trai phải cẩn thận, ít dục, tự giữ mình thanh tịnh. Về sau, coi chuyện sát sanh ăn thịt đã là bất tịnh, lại còn tổn thương tâm từ bi, cho nên trong ngày trì trai, bèn đoạn tuyệt chuyện ăn thịt. Nay thì chỉ không ăn thịt bèn gọi là “trì trai”, rốt cuộc đã sơ sót “thanh tịnh, tự giữ mình”. Đúng là thiện sự chẳng hoàn toàn vậy! Lục Trai Nhật là vì trong những ngày ấy chư thiên đi xét án khắp thiên hạ, xem xét con người thiện hay ác, hãy xem [điều này] trong kinh Ma Ha Bát Nhã. Thuyết Thập Trai phát xuất từ kinh Địa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện, nghĩa là trong các ngày ấy, các tội kết tập, biện định nặng nhẹ. Vì thế, hãy nên giữ gìn cái tâm. Nếu có thể lễ Phật, tụng kinh, sẽ có thể tiêu trừ tội chướng. Quán Âm Trai Nhật chẳng rõ, nhưng đại ý cũng là như trên đã nói.