Tác Giả

Đại Sư Quảng Khâm

Hòa thượng Quảng Khâm sinh vào đời nhà Thanh, năm Quang Tự thứ 18 (1892). Ngài họ Hoàng, tên tục là Văn Lai, quê ở Phúc Kiến, Trung Hoa. Gia đình ngài rất nghèo, đến độ anh ruột ngài không có đủ tiền để cưới vợ. Năm ngài bốn tuổi, vì không đủ sức nuôi dưỡng ngài, cha mẹ ngài phải đem ngài bán làm con nuôi cho gia đình họ Lý ở Tấn Giang.

Thật may mắn, bố mẹ nuôi của ngài đều người rất tốt, cả đời sống bằng nghề trồng trọt. Họ thương yêu ngài như con ruột vậy. Bà Lý là người tin Phật sâu xa, suốt đời trường trai. Bà thường đem ngài lên chùa cầu nguyện bởi từ nhỏ ngài thường bệnh hoạn, thân thể yếu ớt.
Xuất gia và lập chí ngủ ngồi

Năm ngài chín tuổi, bà Lý qua đời; hai năm sau dưỡng phụ ngài cũng nối gót từ trần, khiến ngài bỗng chốc trở thành cô nhi. Bấy giờ, bà con họ hàng ai nấy đều tranh dòm, chờ chực để chiếm đất đai ruộng vườn, tài sản của gia đình họ Lý để lại. Ðiều ấy khiến ngài, một trẻ thơ, cảm nhận sâu xa mùi vị chua chát của thói đời và tánh vô thường của mọi sự. Trong đầu ngài nảy sinh ý niệm thoát trần: Ngài đem hết của cải đất đai nhường lại cho bà con, rồi một mình tìm tới Chùa Thừa Thiên ở Phúc Châu xin xuất gia.

Bấy giờ, phương trượng Chùa ThừacThiên là Hòa thượng Chuyển Trần, dạy ngài quy y, tu Khổ hạnh với Thầy Thụy Phương. Ngài được phân phối cho việc lao tác, trồng rau, nhổ cỏ....; đây là những việc công quả tập sự dành cho người muốn xuất gia.

Ðến năm 19 tuổi, do nhiều nhân duyên đặc biệt, Ngài đã qua Nam Dương. Ở đây, vì không có trình độ học vấn nên ngài phải làm việc lao động chân tay. Một hôm, nhân cùng đồng bạn lên núi đốn củi, ngài nói với bạn về trực giác linh cảm của mình rằng chiếc xe vận tải chở củi sẽ lật ở dốc núi, nhưng không ai tin. Không lâu, chiếc xe quả nhiên bị lật thật. Ðiều này khiến bạn ngài ngạc nhiên, bảo rằng: "Có được trực giác như vậy sao anh không chịu tu hành, phát triển tâm linh, sau này độ thế?" Nghe qua, ngài như chợt tỉnh, liền đáp thuyền về lại Trung Hoa. Bấy giờ ngài đã 35 tuổi, sau gần 16 năm sống ở Nam Dương.

Về lại Chùa Thừa Thiên, ngài chính thức xuống tóc, lạy Hòa thượng Thụy Phương làm Thầỵ Pháp danh của ngài là Chiếu Kính, tự Quảng Khâm. Sau khi xuất gia, ngài chuyên chú tu Khổ hạnh, ăn những thức không ai thèm ăn, làm những việc không ai chịu làm, thường luôn ngồi Thiền, một lòng niệm Phật. Có một thời gian Nngài giữ trách nhiệm Hương đăng (thắp nhang, quét tước điện Phật) và đánh bảng thức chúng mỗi sáng. Nhiều lần ngài ngủ say quá nên trễ nãi việc đánh bảng. Ðiều này khiến ngài vô cùng hổ thẹn, sám hối sâu xa trong lòng, rồi từ đó lập chí ngủ ngồi.

Năm 1933, sau sáu năm làm Sa di tu Khổ hạnh, bấy giờ ngài mới đi cầu thọ giới Tỳ khưu nơi Hoà thượng Diệu Nghĩa, Chùa Từ Thọ, Phủ điền. Thọ Giới rồi, Ngài liền xin phép Phương Trượng Chuyển Trần đi ẩn tu; lúc ấy Ngài vừa đúng 42 tuổi. Bấy giờ, một thân một mình, với ít áo quần và hơn 10 ký gạo. Ngài nhắm núi Thanh lương, tỉnh Tuyền Châu, tiến bước.

Nơi ấy, ở giữa sườn núi, ngài tìm thấy một thạch động đủ rộng để an thân tu Ðạo. Ðộng này vốn là nơi mãnh hổ thường lui tới; thế nhưng khi gặp hổ, ngài chẳng hãi sợ. Ngài bảo cho chúng biết ý định muốn dùng động này để tu hành và khuyên chúng hãy tìm nơi khác. Lạ thay, hổ như hiểu ý ngài, rõ lời người. Ngài lại vì hổ mà thuyết Tam Quy y; hổ nghe rồi vẫy đuôi đi mất. Không lâu sau, hổ ấy đem bầy hổ lại: nào hổ mẹ, hổ con... đùa giỡn, gần gũi với ngài như gia súc vậy. Bởi thế, sau này người dân quanh đấy gọi ngài là Phục Hổ Hòa thượng.

Bấy giờ, Hòa thượng ở sơn động ngày ngày tọa Thiền, niệm Phật; chẳng bao lâu lương thực cạn sạch, ngài bèn hái trái cây rừng để ăn. Trong núi, ngoài hổ còn có khỉ, vượn. Bọn ấy, lạ thay, thường hay đến động; chúng lại đem cả hoa quả cây trái lại cúng dường ngài nữa!

Hòa thượng thường hay nhập Ðịnh. Có lần Ngài nhập Ðịnh đến vài tháng, không ăn uống, không động đậy thân thể; thậm chí hơi thở dường như dứt tuyệt. Có người gần đấy thấy vậy thì lầm tưởng rằng ngài đã viên tịch, nên tức tốc cấp báo với Hòa thượng Chuyển Trần để lo việc hỏa táng. May thay, lúc ấy có vị cao tăng là Ðại sư Hoằng Nhất đang ở chùa gần đấy, nghe được tin trên bèn cùng Hòa thượng Chuyển Trần lên núi xem hư thực. Tới nơi, Ðại sư Hoằng Nhất biết ngài đang nhập Ðịnh, liền gõ ba tiếng khánh, đánh thức ngài dậy từ trạng thái Thiền định. Tin ngài nhập Ðịnh lan truyền khắp nơi khiến ai ai cũng tán thán.
Tháng ngày qua như tên bắn, thấm thoát Hòa thượng đã ở trên núi Thanh Lương được 13 năm. Bấy giờ ngài, đã 54 tuổi (1945), trở về Chùa Thừa Thiên. Hai năm sau, 1947, Ngài rời Ðại lục, đáp thuyền tới Ðài Loan. Ở đây, bắt đầu quãng đời hoằng pháp của Ngài:

- 1948, ngài xây một ngôi chùa nhỏ ở Ðài bắc, tên là Quảng Minh Tự.
- 1951, xây Quảng Chiếu Tự.

- 1952, ngài tìm thấy một thạch động ở núi Thành Phước rất đặc biệt: khi mặt trời và mặt trăng mới mọc thì ánh sáng chiếu thẳng vào cửa động. Bởi thế, Ngài đặt tên là Nhật Nguyệt Ðộng và quyết định ở đấy ẩn tu. Nơi ấy xưa nay vốn không có nước, song từ khi ngài vào ở bỗng có một suối nước mát tự nhiên vọt lên kế bên. Trên đỉnh núi ấy, ngài dựng một chòi tranh để ở. Một đêm nọ, có con trăn khổng lồ bò lại chòi tranh cầu pháp; ngài liền vì nó thuyết Pháp và truyền Tam Quy y.

- 1955, tín đồ ở Ðài Bắc cúng dường ngài một cuộc đất do hỏa sơn tạo nên; Ngài bèn xây Thừa Thiên Tự ở đó.

- 1963, Ngài hưng kiến Tường Ðức Tự; xây Quảng Long Tự ở núi Long tỉnh.

Ðến năm 1964, Ngài đã ở Ðài Loan được 17 năm. Trong suốt thời gian ấy, ngài đã nhập định ba lần và mỗi lần lâu hơn cả tháng. Hằng ngày, ngài chỉ ăn một bữa và chỉ ăn trái cây; Ngài không ăn đồ nấu nướng hay chiên xào gì cả. Vì vậy, tín đồ gọi Ngài là Thủy Quả Hòa thượng - Ông Thầy Ăn Trái Cây. Trừ khi trời mưa, thường thì mỗi đêm ngài đều ngồi tọa Thiền cho tới sáng ở ngoài vườn hay trong rừng, chứ không ngủ trong phòng như người khác. Ðấy là những công hạnh đặc biệt của ngài.

Phật tử gọi Ngài là Thủy Quả Hòa thượng - Ông Thầy Ăn Trái Cây.

Năm ngài 80 tuổi, có lần ngài biểu thị cho Ðại chúng biết ý định "Xả Báo" - nhập Ðịnh - của ngài. Lúc ấy các đệ tử vô cùng khẩn thiết, cầu xin ngài tiếp tục từ bi trụ thế. Bấy giờ ngài vì tùy thuận chúng sanh nên trì hoãn việc nhập Ðịnh, tiếp tục công cuộc độ sinh. Từ ấy Ngài đi Nam đầu, Ðài-trung, Gia nghĩa, Hoa liên... hoằng Pháp độ chúng.

Ðến năm 84 tuổi, ngài bắt đầu cấm túc, ở luôn tại chùa Thừa Thiên trên núi Thanh lương không còn xuống núi nữa. Công cuộc xây chùa vẫn tiếp tục, song do các đại đệ tử của ngài chủ động: trùng tu Chùa Thừa Thiên, xây Quảng Thừa Nham (1974), Diệu Thông Tự (1982).
Năm ngài 94 tuổi (1985), ngài chủ trì Tam Ðàn Ðại Giới, truyền giới cho hơn 2.500 vị Tăng, Ni và cư sĩ; tạo thành một Pháp Hội trang nghiêm vĩ đại nhất ở Ðài Loan lúc bấy giờ.
Thân ngài vô cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên ngủ ngồi, không nằm; và vẫn ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi đêm. Bấy giờ thức ăn trái cây của ngài phải được nghiền thành chất lỏng để dễ ăn
Thân ngài vô cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên ngủ ngồi, không nằm; và vẫn ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi đêm. Bấy giờ thức ăn trái cây của ngài phải được nghiền thành chất lỏng để dễ ăn

Bấy giờ tuy đã gần kề trăm tuổi, ngài vẫn sống rất đơn giản, đạm bạc; lời nói của ngài bình dị, khiêm nhường; bước đi của ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy chống, không nhờ người đỡ tay.

Nếu ai gặp ngài lúc ấy sẽ thấy thân ngài vô cùng nhẹ nhàng, linh hoạt; động tác thanh thoát. Ngài vẫn y nhiên ngủ ngồi, không nằm; và vẫn ngồi ngoài vườn lộ thiên tĩnh tọa mỗi đêm. Bấy giờ thức ăn trái cây của ngài phải được nghiền thành chất lỏng để dễ ăn.

Cuối năm 1985, ngài trở về Chùa Thừa Thiên. Ngài thị hiện có bệnh; cự tuyệt mọi thứ ẩm thực, thuốc men; cũng không tiếp kiến tín đồ.

Ngày Tết Nguyên đán năm ấy, 1986, ngài triệu tập tất cả đệ tử ở các chùa và tu viện khắp nơi lại để phú chúc, phân phối hậu sự. Ngài chỉ bảo việc hỏa táng, phân chia linh cốt tại Thừa Thiên Tự, Quảng Thừa Nham, và Diệu Thông Tự, đồng thời trả lời mọi nghi vấn của tín chúng. Sáng ấy, sau giờ thọ trai, Ngài quyết định xuống Diệu Thông Tự ở Cao Hùng. Hôm sau, mồng hai Tết, khí lực của Ngài vô cùng suy nhược.

Mồng ba Tết, thể lực của ngài bình phục. Ngài cùng đại chúng lên điện niệm Phật. Ngài lại nói chuyện một cách thong dong tự tại với các tín đồ đệ tử; tinh thần vô cùng sáng suốt và lạc quan như không có chuyện gì xảy ra.

Sáng mồng bốn Tết, ngài gọi tất cả đệ tử cùng ngài ra bên ngoài điện đón nắng. Ngài nói với một đệ tử, thầy Truyền Văn, rằng: "Ngươi được rồi đấy; song bọn họ - đại chúng - còn chưa xong đâu!"

Mồng năm Tết (ngày 13 tháng 2 năm 1986), ngài ngồi xếp bằng yên định, tinh thần hòa hoãn, chẳng chút xao động; rồi dạy các đệ tử đồng thanh niệm Phật.
Bấy giờ tuy đã gần kề trăm tuổi, ngài vẫn sống rất đơn giản, đạm bạc; lời nói của ngài bình dị, khiêm nhường; bước đi của ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy chống, không nhờ người đỡ tay.

Bấy giờ tuy đã gần kề trăm tuổi, ngài vẫn sống rất đơn giản, đạm bạc; lời nói của ngài bình dị, khiêm nhường; bước đi của ngài vẫn vững chãi, không cần dùng tới gậy chống, không nhờ người đỡ tay.

Vào hai giờ chiều hôm ấy, Ngài bảo đại-chúng: "Vô lai vô khứ, một hữu sự!" (chẳng đến chẳng đi, chẳng việc gì); rồi nhìn đại-chúng gật đầu, mỉm cười. Không lâu sau, đại chúng thấy ngài ngồi yên bất động liền đến bên quan sát kỹ, mới hay Ngài đã an nhiên theo tiếng niệm Phật, viên tịch rồi.

Nhìn lại cả đời ngài, xuất thân tuy nghèo khổ song bản tánh tự an, ngay thật, bình dị; đến khi xuất gia, ngài thật sự buông bỏ vạn sự, chân thành ẩn tu, thực hành đủ thứ khổ hạnh gian khó. Bởi nhân địa chân thật như vậy, nên kết quả là cảm ứng bất khả tư nghị ; sau khi xuống núi, tới Ðài-loan hoằng dương Phật Pháp, ngài đã tiếp độ không biết bao nhiêu chúng sanh, từ người đến thú, từ dương giới đến âm giới, từ hữu tình đến vô tình... Và, nhất là sự viên tịch vô cùng tự do tự tại của ngài - một minh chứng hùng hồn nhất về sự diệu kỳ của Phật Pháp, cũng như về khả năng thành tựu sự giải thoát, đạt Ðạo của những bậc chân tu, thật hành.

Xá lợi kỳ diệu của HT Quảng Khâm

Hòa thượng Quảng Khâm được tôn vinh là vị Đạo sư tinh tấn của Phật Giáo – đã sống suốt một đời tu khổ hạnh, đồng thời cũng là một đời đầy truyền kỳ. Ngài từng sống khổ tu trong động trên đỉnh núi 13 năm, hàng phục mãnh hổ, cảm hoá vượn linh, nhập định bốn tháng suýt bị hoả thiêu, biết trước bão tố, tránh trước tai nạn xe, trước lúc vãnh sanh tự an bài hậu sự …. Rồi “ vỗ bụng thanh thoát ra đi ”.

Thật ra, Ngài “ không đến cũng không đi, chẳng có việc gì ”; Xá-lợi để lại sau khi trà–tỳ (hoả thiêu) cũng biểu thị tính thần kỳ và linh hiển.

Theo lời kể truyền lại: Sau Lễ trà-tỳ, người ta nhặt được tổng cộng trên một trăm viên Xá-lợi lớn, những viên còn lại tương đối nhỏ hơn được các đệ tử tại gia chia nhau thỉnh hết. Có một Phật tử tới chậm quỳ trước lò hoả táng cầu nguyện suốt đêm, đến khi trời sáng thấy trước chỗ quỳ có một viên Xá-lợi lớn.
Ảnh:Daitangkinhvietnam.org

Lại có một Phật tử đem một nắm tro linh cốt về thờ trong nhà, sau đó phát hiện ra có mấy viên Xá-lợi.


Hai vợ chồng đệ tử nọ than dự đại lễ trà-tỳ Sư phụ xong, ngay trong ngày đó trở về miền Bắc. Hôm sau (mồng 7 tháng 2) họ nghe nói Hoà thượng để lại nhiều Xá-lợi, liền vội vã lái xe quay vào Nam, đến lò hoả táng, phát hiện trên mái lò có rất nhiều Xá-Lợi.

Một thiếu nữ phật tử tìm thấy trong những hoa Xá-lợi một hoa hình dạng rất giống toà sen của Bồ-Tát Quán Thế Âm.

Một bà già tuổi cao, mắt mờ không biết làm sao tìm kiếm cho ra những hạt Xá-lợi nhỏ li ti, bà liền quỳ xuống cầu xin Sư phụ từ bi, ba lần khấn lạy … được ba viên Xá-lợi! Thật là không thể nghĩ bàn.
Ảnh chụp lại xá lợi HT Quảng Khâm. Ảnh:TT Thích Chân Tính

Ảnh chụp lại xá lợi HT Quảng Khâm. Ảnh:TT Thích Chân Tính

Một ông họ Trương bảy mươi tuổi mắt mù, nhà ở Đài Bắc, cũng là đồ đệ của Ngài Quảng Khâm (ông thọ giới trong mùa đông năm trước ). Vì ông bị bệnh phong thấp nên người nhà chưa kịp báo tin về sự viên tịch và lễ hoả táng Hoà thượng. Hay tin Sư phụ vãng sanh, ông liền cùng với đứa cháu gái, trong ngày 7 tháng 3 thuê xe xuống miền Nam. Đến “Hoả hoá trường” chùa Diệu Thông, tất cả Xá-lợi trong lò hoả táng đã được chia hết cho các Phật tử đến trước!

Đau buồn cùng cực, ông khóc ròng vật mình ngã xuống trước lò, hai tay cào vốc hai nắm tro, lấy khăn tay bọc lại, rồi lên chiếc xe cũ ra về; trên đường đi ông không ngừng mặc niệm “Nam-mô A-Di-Đà Phật”. Về tới nhà ông đem ngay nắm tro hoả táng đặt lên một cái dĩa sơn mài… kỳ lạ thay, trong nắm tro có trên 30 viên Xá-lợi - lớn có nhỏ có – lóng lánh sáng trưng, những ai chứng kiến đều cho là kỳ diệu! 

Lời dạy của HT Quảng Khâm về tu học

Làm đến chết, chính là bán mạng mà làm, là biểu hiện của “bố thí”; làm hết mình cho đến hơi thở cuối cùng cũng không tiếc nuối, đòi hỏi phải rất “tinh tiến”; kết quả lại bị người chê ghét, chính là tu “nhẫn nhục”; bị người khác hiềm khích, tâm chúng ta không động, không buồn, chính là “thiền định”; không động tâm, không dùng lời đáp trả, gọi là “giữ giới”; nếu muốn xua đuổi những điều không vui trong ý nghĩ, thì phải hạ khẩu khí xuống, chính là biểu hiện của “trí huệ”. Những điều này gọi là Lục Độ Tổng Tu!

Quảng Khâm hòa thượng: “Đúng sai, tốt xấu ngoài miệng không nên nói, trong bụng minh bạch là được rồi”.
HT Quảng Khâm và HT Tuyên Hóa

HT Quảng Khâm và HT Tuyên Hóa

Một hôm, những nhà như trẻ đến khách đường để tiếp khách vãng lai đến thăm chùa, họ phải tiếp nhận những phiền não thị phi của người thường. Sau khi khách về, Quảng Khâm hòa thượng liền nói với các nhà sư trẻ: “Bất kể chuyện tốt hay xấu, đúng hay sai, ngoài miệng không được nói bừa, trong tâm minh bạch là được rồi. Miệng lẩm bẩm không ngừng, không có chuyện cũng thành có chuyện, ắt sẽ gây hại cho chính mình. Người không có chuyện gì cũng cằn nhằn cần chú ý, bởi vì nó rất tai hại”.

Quảng Khâm hòa thượng tiếp tục nói:

“Thấy người khác làm việc tốt, tâm chúng ta không được hoan hỉ, họ làm việc xấu cũng không được khởi tâm, phải kiềm chế cho tốt cái tâm này, không được phiền não. Người khác không tốt, những tật xấu của người khác, đó là chuyện của họ, nếu chúng ta phiền não, vậy thì chính là sự ngu dốt của chính mình. Như vậy, bất luận mọi chuyện tốt xấu ra sao, phải giữ được tâm bất động, là phải nhẫn nhục.

Nếu có thể đột phá quan này, thì về sau gặp bất cứ chuyện gì cũng không bị phiền não, cái phải trải qua quá trình học tập và tu luyện chính mình thì mới đạt được, khi nghiệp chướng được tiêu trừ, thì tự nhiên bản thân sẽ tốt lên”.

Bản thân chúng ta phải giống như ánh sáng của mặt trời, đối với vạn vật đều coi như nhau, chiếu sáng cho người tốt, người xấu cũng chiếu sáng.
Tốt xấu là chuyện của thế tục, chúng ta phải đối xử từ bi với tất cả mọi người, nếu so đo với người thường, thì bản thân mình cũng là “tám lạng nửa cân”.
Khi nghiệp chướng được tiêu trừ, thì tự nhiên bản thân sẽ tốt lên

Khi nghiệp chướng được tiêu trừ, thì tự nhiên bản thân sẽ tốt lên

Phật Pháp là trọn vẹn, là vô biên không giới hạn, luôn khoan dung và độ lượng, con người thế gian dù có thay đổi như thế nào thì Phật Pháp vẫn luôn bất biến.
Tu hành chính là quá trình chúng ta ở trong thế tục mà vứt bỏ những điều của thế tục, dùng tâm từ bi để đối đãi với sự việc và con người ở thế gian. Bất kỳ chúng ta ở nơi nào, chỉ cần có tâm nguyện muốn tu luyện, nguyện ở trong khổ nạn, thị phi mà luyện tâm của chính mình, như vậy nhất định sẽ được đề cao.
Tại thế tục, chúng ta đã hình thành thói quen hưởng thụ, đã quen với việc tự đắc, bảo thủ không chịu nổi sự ràng buộc ước chế… đều là những tâm cần phải bỏ.
Tượng ngài tại chùa Thừa Thiên, Đài Loan

Tượng ngài tại chùa Thừa Thiên, Đài Loan

Bây giờ đã xuất gia rồi, càng phải cần tu bỏ những thói quen không tốt đã hình thành trong chúng ta từ trước đến giờ, và thay vào đó những pháp lý của Phật Pháp. Đây là chuyện không hề dễ làm, nó đòi hỏi chúng ta phải tin, nguyện ý, nỗ lực sửa đổi, tu luyện đến khi đạt được mục đích cuối cùng, khai huệ khai ngộ mới thôi.

Dịch giả: Ni chúng Tự Viện Vĩnh Minh Lâm Đồng
Hiệu đính: Giáo sư Phạm Phú Thành & Đại Đức Thích Giải Hiền
BBT tổng hợp
Cố Giáo Sư Minh Chi
Cố Giáo Sư Trương Đình Nguyên
Cư Sĩ Bành Tế Thanh
Cư Sĩ Bích Ngọc
Cư Sĩ Cao Hữu Đính
Cư Sĩ Chân Hiền Tâm
Cư Sĩ Chánh Trí Mai Thọ Truyền
Cư Sĩ Đạo Quang
Cư Sĩ Diệu Âm
Cư Sĩ Diệu Hà
Cư Sĩ Định Huệ
Cư Sĩ Đoàn Trung Còn
Cư Sĩ Đức Hạnh Lê Bảo Kỳ
Cư Sĩ Dương Đình Hỷ
Cư Sĩ Đường Tương Thanh
Cư Sĩ Giang Đô Trịnh Vĩ Am
Cư Sĩ Giang Vị Nông
Cư Sĩ Hạnh Cơ
Cư Sĩ Hồ U Trinh Ở Núi Tứ Minh
Cư Sĩ Hoàng Phước Đại
Cư Sĩ Hồng Như
Cư Sĩ Hồng Dương Nguyễn Văn Hai
Cư Sĩ Huệ Thiện
Cư Sĩ Huỳnh Lão
Cư Sĩ Khánh Vân
Cư Sĩ Lâm Cự Tinh
Cư Sĩ Lâm Khán Trị
Cư Sĩ Lê Huy Trứ MSEE
Cư Sĩ Lê Sỹ Minh Tùng
Cư Sĩ Liêu Nguyên
Cư Sĩ Liêu Địch Liên
Cư Sĩ Lưu Minh Chánh
Cư Sĩ Lưu Thừa Phù Ghi Chép
Cư Sĩ Lý Viên Tịnh
Cư Sĩ Lý Nhất Quang
Cư Sĩ Mao Lăng Vân cung kính kết tập
Cư Sĩ Minh Chánh
Cư Sĩ Minh Trí và Mẫn Đạt
Cư Sĩ Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyên Giác
Cư Sĩ Nguyên Hồng
Cư Sĩ Nguyễn Lang
Cư Sĩ Nguyên Phong
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sâm , Ngô Đức Thọ
Cư Sĩ Nguyễn Đức Sinh
Cư Sĩ Nguyễn Hữu Kiệt
Cư Sĩ Nguyễn Minh Tiến
Cư Sĩ Nguyễn Xuân Chiến
Cư Sĩ Như Hòa
Cư Sĩ Phạm Cổ Nông
Cư Sĩ Phúc Trung
Cư Sĩ Phương Luân
Cư Sĩ Quách Huệ Trân
Cư Sĩ Quảng Minh
Cư Sĩ Tâm Phước
Cư Sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám
Cư Sĩ Thiên Nhơn
Cư Sĩ Thôi Chú Bình
Cư Sĩ Thuần Bạch
Cư Sĩ Tiểu Bình Thật
Cư Sĩ Tịnh Mặc
Cư Sĩ Tịnh Nghiệp
Cư Sĩ Tịnh Thọ
Cư Sĩ Tô Khắc Minh
Cư Sĩ Tôn A Tử
Cư Sĩ Trần Anh Kiệt
Cư Sĩ Tuệ Khai
Cư Sĩ Uông Trí Biểu
Cư Sĩ Viên Đạt
Cư Sĩ Võ Đình Cường
Cư Sĩ Vọng Tây
Đại Lão Hòa Thượng Hư Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Ấn Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Diễn Bồi
Đại Lão Hòa Thượng Thích Hành Trụ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Mộng Tham
Đại Lão Hòa Thượng Thích Phổ Tuệ
Đại Lão Hòa Thượng Thích Thắng Hoan
Đại Lão Hòa Thượng Thích Tinh Vân
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Quang
Đại Lão Hòa Thượng Thích Trí Tịnh
Đại Sư An Thế Cao
Đại Sư Bách Trượng Hoài Hải
Đại Sư Châu Hoằng
Đại Sư Chí Công
Đại Sư Cổ Diêm Khuông Am Thanh Liên bật-sô Linh Thừa
Đại Sư Đạo Nguyên
Đại Sư Đạo Tuyên
Đại Sư Diệu Hiệp
Đại Sư Diệu Khẩu
Đại Sư Diệu Không
Đại Sư Đời Tống, Nguyên Chiếu
Đại Sư Duy Tắc Thiền sư Thiên Như Đời Dao Tần
Đại Sư Gia Tường Cát Tạng
Đại Sư Hải Đông
Đại Sư Hám Sơn
Đại Sư Hàm Thị
Đại Sư Hoài Cảm
Đại Sư Hoằng Nhất
Đại Sư Hoằng Tán
Đại Sư Huệ Ngộ
Đại Sư Khuy Cơ
Đại Sư Liên Trì
Đại Sư Linh Phong Ngẫu Ích Trí Húc
Đại Sư Pháp Tạng Hiền Thủ
Đại Sư Phi Tích
Đại Sư Pomnyun Sunim Trí Quang
Đại Sư Quán Đảnh
Đại Sư Quảng Khâm
Đại Sư Tăng Triệu
Đại Sư Thái Hư
Đại Sư Thân Loan
Đại Sư Thang Hương Danh
Đại Sư Thanh Lương Trừng Quán
Đại Sư Thật Hiền
Đại Sư Thật Xoa Nan Đà
Đại Sư Thích Ấn Thuận
Đại Sư Thích Tăng Triệu
Đại Sư Thích Tịnh Chiếu
Đại Sư Thiện Đạo Đời Đường
Đại Sư Thiên Thai Trí Giả
Đại Sư Thượng Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Tĩnh Am
Đại Sư Tông Bổn
Đại Sư Tri Lễ
Đại Sư Triệt Ngộ
Đại Sư Trung Phong Minh Bổn
Đại Sư Tsong Kha Pa
Đại Sư Ưu Đàm
Đại Sư Vi Lâm Đạo Bái
Đại Sư Viên Hư
Đại Sư Vĩnh Minh Diên Thọ
Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập
Đời Đường Sa Môn Văn Thẩm Thiếu Khương
Đời Lưu Tống Cương Lương Gia Xá
Hòa Thượng DaLai Lama
Hòa Thượng Thích Bảo Lạc
Hòa Thượng Thích Bích Liên
Hòa Thượng Thích Chân Thường
Hòa Thượng Thích Diệu Liên
Hòa Thượng Thích Đồng Bổn
Hòa Thượng Thích Đổng Minh
Hòa Thượng Thích Đức Nhuận
Hòa Thượng Thích Đức Niệm
Hòa Thượng Thích Đức Thắng
Hòa Thượng Thích Giác Khang
Hòa Thượng Thích Giác Qủa
Hòa Thượng Thích Giác Quang
Hòa Thượng Thích Hân Hiền
Hòa Thượng Thích Hoằng Tri
Hòa Thượng Thích Hoằng Trí
Hòa Thượng Thích Hồng Đạo
Hòa Thượng Thích Hồng Nhơn
Hòa Thượng Thích Huệ Hưng
Hòa Thượng Thích Huyền Dung
Hòa Thượng Thích Huyền Tôn
Hòa Thượng Thích Huyền Vi
Hòa Thượng Thích Khánh Anh
Hòa Thượng Thích Khế Chơn
Hòa Thượng Thích Mãn Giác
Hòa Thượng Thích Minh Cảnh
Hòa Thượng Thích Minh Châu
Hòa Thượng Thích Minh Lễ
Hòa Thượng Thích Minh Thành
Hòa Thượng Thích Nhất Chân
Hòa Thượng Thích Như Điển
Hòa Thượng Thích Pháp Chánh
Hòa Thượng Thích Phước Nhơn
Hòa Thượng Thích Phước Sơn
Hòa Thượng Thích Quảng Độ
Hòa Thượng Thích Quang Phú
Hòa Thượng Thích Tâm Châu
Hòa Thượng Thích Tâm Quang
Hòa Thượng Thích Thái Hòa
Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Thanh Từ
Hòa Thượng Thích Thiên Ân
Hòa Thượng Thích Thiện Châu
Hòa Thượng Thích Thiện Hoa
Hòa Thượng Thích Thiện Huệ
Hòa Thượng Thích Thiện Phụng
Hòa Thượng Thích Thiện Siêu
Hòa Thượng Thích Thiền Tâm
Hòa Thượng Thích Thông Bửu
Hòa Thượng Thích Tịnh Không
Hòa Thượng Thích Tịnh Nghiêm
Hòa Thượng Thích Tịnh Từ
Hòa Thượng Thích Toàn Châu
Hòa Thượng Thích Trí Chơn
Hòa Thượng Thích Trí Hoằng
Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm
Hòa Thượng Thích Trí Quảng
Hòa Thượng Thích Trí Thủ
Hòa Thượng Thích Trung Quán
Hòa Thượng Thích Từ Quang
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Đăng
Hòa Thượng Thích Tuệ Nhuận
Hòa Thượng Thích Tuệ Sỹ
Hòa Thượng Thích Tuyên Hóa
Hòa Thượng Thích Viên Giác
Hòa Thượng Thích Viên Huy
Hòa Thượng Thích Viên Lý
Tam Tạng Pháp Sư Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Đàm Vô Sấm
Tam Tạng Pháp Sư Đề Vân Bát Nhã
Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang
Thượng Nhân Pháp Nhiên
Thượng Tọa Thích Chân Tính
Thượng Tọa Thích Chánh Lạc
Thượng Tọa Thích Đồng Ngộ
Thượng Tọa Thích Đức Trí
Thượng Tọa Thích Giải Hiền
Thượng Tọa Thích Hằng Đạt
Thượng Tọa Thích Hạnh Bình
Thượng Tọa Thích Huyền Châu
Thượng Tọa Thích Mật Thể
Thượng Tọa Thích Minh Tuệ
Thượng Tọa Thích Nguyên Bình
Thượng Tọa Thích Nguyên Chơn
Thượng Tọa Thích Nguyên Hùng
Thượng Tọa Thích Nguyên Tạng
Thượng Tọa Thích Nhuận Châu
Thượng Tọa Thích Phổ Huân
Thượng Tọa Thích Phước Hòa
Thượng Tọa Thích Phước Thái
Thượng Tọa Thích Quảng Ánh
Thượng Tọa Thích Tâm Hải
Thượng Tọa Thích Tiến Đạt
Thượng Tọa Thích Trí Đức
Thượng Tọa Thích Trí Siêu
Thượng Tọa Thích Trường Lạc
Thượng Tọa Thích Vĩnh Hóa
Tiến Sĩ Lê Sơn Phương Ngọc
Tiến Sĩ Sinh Học Matthieu Ricard
Tiến Sĩ Vật Lý Trịnh Xuân Thuận
Tỳ Kheo Thích Đăng Quang
Tỳ Kheo Thích Đồng Thọ
Tỳ Kheo Thích Đồng Tịnh
Tỳ Kheo Thích Duy Lực
Tỳ Kheo Thích Giác Nghiên
Tỳ Kheo Thích Giới Bổn
Tỳ Kheo Thích Giới Đức
Tỳ Kheo Thích Giới Nghiêm
Tỳ Kheo Thích Hoằng Đạo
Tỳ Kheo Thích Hoằng Thường
Tỳ Kheo Thích Huệ Chiểu Chùa Đại Vân Ở Chuy Châu
Tỳ Kheo Thích Minh Điền
Tỳ Kheo Thích Minh Định
Tỳ Kheo Thích Minh Trí
Tỳ Kheo Thích Nguyên Chứng
Tỳ Kheo Thích Tâm Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thanh Giác
Tỳ Kheo Thích Thiện Hạnh
Tỳ Kheo Thích Thiện Trang
Tỳ Kheo Thích Thông Huệ
Tỳ Kheo Thích Viên Ngộ
Tỳ Kheo Visuđhacara



Không sợ hãi thì tâm mới an định. Khi tâm sợ hãi thì không thể an định. Sợ hãi là tâm lý chỉ cho mình cảm nhận thôi, kẻ khác không cảm thấy như mình; do đó, chỉ có mình là bất lợi. Khi mình không tự chủ thì mới sợ. Sợ quá, sợ hoài, thì sanh phiền não. Khi ấy, tâm không an định thì sẽ chẳng còn Ðạo tâm tu hành nữa!