Sư còn có tên là Pháp Du, người Đôn Hoàng[4], thuở nhỏ đã tu tập thiền định. Sau đó, sư đi du hoá đến núi Thạch Thành, huyện Thiểm ở Giang Tả, hàng ngày đi khất thực và tọa thiền. Có lần sư đến một nhà chuyên nuôi trùng độc để khất thực. Khi sư chú nguyện xong, bỗng thấy một con rít từ trong thức ăn bò ra. Sư vẫn thọ thực bình thường, xem như không có gì.
Thời gian sau, Sư đến Xích Thành[5] ở Thỉ Phong, tu tập thiền định trong hang đá. Một hôm, sư đang tụng kinh, bỗng có mấy mươi con hổ đến ngồi trước mặt, sư vẫn điềm nhiên tụng kinh, có một con hổ ngủ gục, sư lấy gậy Như ý gõ lên đầu hổ nói rằng:
– Sao ngươi không chịu nghe kinh?
Không bao lâu, bầy hổ bỏ đi. Liền sau đó, một con rắn thật lớn xuất hiện, nó bò quanh rồi ngẩng đầu nhìn sư, một lát sau mới bò đi.
Ngày hôm sau, có một vị thần xuất hiện đến nói với sư:
– Pháp sư oai đức rất lớn, nay ngài đến đây ở, đệ tử xin đem thất này dâng cúng Ngài.
Sư nói:
– Bần đạo tìm đến núi này mong được kết giao, sao ngài không cùng ở?
Thần đáp:
Đệ tử cũng muốn như thế, nhưng thuộc hạ của đệ tử chưa thấm nhuần giáo pháp, nên khó chế ngự được lời nói, sợ sẽ làm xúc phạm những người từ xa đến đây. Giữa người và thần có sự sai khác, nên đệ tử phải ra đi.
Sư hỏi:
– Ông vốn là thần gì, ở đây đã lâu chưa, nay muốn dời đến chỗ nào?
Thần đáp:
– Đệ tử là con của Hạ Đế, ở núi này đã hơn hai nghìn năm. Núi Hàn Thạch là chỗ của người cậu cai trị, đệ tử sẽ đến nơi ấy. Nói rồi, thần ẩn thân trở về miếu ở phía bắc của núi. Lúc sắp từ biệt, thần chắp tay và tặng sư ba hộp hương. Khi đó, tiếng trống, tiếng tù và trổi lên, thần cởi mây bay đi.
Ở Thiên Thai, vách núi chênh vênh, đỉnh núi cao ngất trời. Người xưa tương truyền rằng:
– Trên đỉnh núi ấy có một ngôi tịnh xá rất đẹp, là nơi ở của những bậc đắc đạo. Ở đó, chỉ có một cây cầu đá bắt qua khe suối, nhưng bị một tảng đá chắn ngang cản trở, lại rêu xanh trơn trợt, khiến cho từ xưa đến nay không ai đến được nơi ấy.
Lúc đến bên chiếc cầu đá, sư nghe trong hư không có tiếng nói rằng:
– Tôi biết ông có lòng chí thành, nhưng nay chưa qua được, ông nên quay về mười năm sau hãy đến đây.
Sư trong lòng buồn bã liền quay trở về. Trên đường ngang qua một ngôi thạch thất, sư vào đó dừng nghỉ, bỗng nhiên mây đen mù mịt bao phủ, tiếng kêu la vang dậy khắp thất. Sư vẫn điềm nhiên, thần sắc không biến đổi.
Sáng hôm sau, có một người mặc áo đơn, đầu đội khăn đến thưa sư:
– Đây là nơi cư ngụ của tôi, do hôm qua đi vắng nên mới xảy ra những việc kinh động như thế, tôi thật hổ thẹn.
Sư nói:
– Nếu đây là nhà của ngài thì tôi xin trả lại!
Thần đáp:
– Gia đình tôi đã dời đi rồi, xin ngài cứ lưu lại đây.
Khoảng niên hiệu Thái Hòa (366 371) đời Tấn, có một ngôi sao xấu xuất hiện. Vua ban lệnh trong toàn quốc, các bậc sa môn có đạo đức phải tinh cần tu tập để cầu cho tai ách được tiêu trừ. Sư liền lập đàn cúng tế, do lòng chí thành cầu khẩn nên đã âm thầm có cảm ứng. Đến sáng ngày thứ sáu, sư thấy một đứa bé mặc áo xanh đến xin sám hối:
– Tôi vô cớ làm phiền pháp sư!
Tối đó ngôi sao liền biến mất.
Đến cuối niên hiệu Thái Hòa (371), sư an nhiên thi tịch ở sơn thất, thi thể của Sư vẫn bình thường như lúc còn sống, nhưng toàn thân của sư đều có màu xanh
Thời gian sau, mọi người lên đỉnh núi, thấy nhục thân sư vẫn con nguyên vẹn không hề hư hoại.