Kính thưa quý thầy, quý cô, cùng quý Phật tử. Hôm nay tôi xin được chia sẻ cùng đại chúng một câu chuyện. Câu chuyện này được trích từ “kinh Đại trang nghiêm luận” quyển 2, kinh số 9, thuộc “Đại chánh tạng” quyển 4, trang 267a4- c25.
Vào thời quá khứ, có một vị tỳ kheo tình cờ đến một khu nhà bị bỏ hoang, phát hiện được một bảo vật, đó là một cái chum đồng lớn chứa đầy trân báu. Vị này liền về dẫn một vị cư sĩ nghèo đến và nói với ông: “Bên kia có một cái chum bằng đồng đựng đầy những trân báu, ông có thể lấy đem về nuôi sống gia đình.
Vị cư sĩ đáp: “Thầy thấy bảo vật ấy vào lúc nào?”.
Vị tỳ kheo đáp: “Tôi vừa mới thấy, nên liền dẫn anh đến” .
Nghe xong, vị cư sĩ chậm rãi nói: “Thật ra vài năm trước đây, tôi đã tình cờ phát hiện bảo vật này, nhưng không dám chạm tới nó, bởi vì nó ẩn chứa nhiều tai họa, nếu chuyện này đến tai nhà vua, có khả năng người lấy phải chịu hình phạt, hoặc bị giam cầm, thậm chí bị xử tử. Nỗi thống khổ này, thật không thể kể xiết”.
Vị cư sĩ mới đọc bài kệ, đại ý như sau: “Tôi trước đây phát hiện báu vật ấy, nó ở đấy đã nhiều năm, hiểm họa mà nó mang đến còn hơn cả nọc độc của mãng xà, nguy hại rất lớn. Thế nên, tôi không dám sinh khởi một mảy may tham luyến nào”.
Bởi vì báu vật ấy có thể gây hại, khiến tôi bị giam cầm cho đến chết, những tai họa này cũng từ lòng tham mà sanh. Nếu tham chấp báu vật, sẽ tự nhận lấy các thống khổ. Thống khổ này làm cho người phải khiếp sợ. Bởi thế, tôi không hề khởi tâm tham cầu, đến gần nó.
Tuy nhiên, nhiều người hay ham thích những bảo vật như vậy, xem chúng như món đồ chơi trân quý, ngày ngày say sưa thưởng thức ngắm nghía, mà không thấy được đó là vật nguy hại, tạo những cảm giác an lạc không có thật. Nó nguy hại như thế, còn tha thiết dùng đến sao?
Như thân thể chúng ta cũng là sự giả hợp từ máu và mủ, dùng để duy trì sinh mạng. Thân này sớm muộn gì cũng sẽ hư hoại, thì sao phải ham thích những trân báu ấy?
Tham mà không biết chán mỏi, thì cũng như một đống lửa đang cháy trước mặt, thêm bao nhiêu củi khô vào cũng không đủ, đều bị lửa thiêu trụi, tâm tham không chán mỏi của con người cũng giống y như vậy”.
“Nếu thầy thương tôi, thì nên hướng dẫn pháp thiểu dục tri túc, không hiểu sao thầy lại chỉ tôi đến chỗ để bảo vật ấy?
Thiểu dục tri túc, có thể mang đến cho con người an lạc. Nếu lòng tham muốn quá sâu nặng sẽ khiến cho các căn không yên, tâm luôn tham cầu không biết chán, và sẽ tăng trưởng vô số khổ não.
Người đa dục thường sanh nhiều niệm dục, tham cầu lợi ích không có chỗ dừng như miệng của cá Ma Kiệt. (Cá Ma Kiệt là một loại cá lớn, nó có thể nuốt rất nhiều thuyền bè trên biển).
Người ít dục vọng sẽ không tham cầu nên không có khổ não, tâm thường thảnh thơi”.
Vị cư sĩ không ngừng tán thán pháp thiểu dục tri
túc, khiến vị tỳ kheo cảm thấy thật hy hữu, nên tán thán rằng: “Lành thay! Lành thay! Đại trượng phu! Ông tuy không xuất gia, không khoác pháp y, nhưng lời ông vừa nói đều tùy thuận sự chỉ dạy của đức Phật. Ông thể hội được pháp thiểu dục tri túc, chính là pháp mà chư Phật đồng khen ngợi.”
Vị tỳ kheo nói tiếp: “Lời ông vừa nói, khiến ta cảm thấy vô cùng hổ thẹn. Ông là cư sĩ, có vợ con, quyến thuộc, lẽ ra vì lo toan cho cuộc sống mà càng phải tham cầu nhiều tiền tài, thật không ngờ ông có thể y theo lời Đức Phật dạy mà thực hành, tán thán pháp thiểu dục tri túc.
Giả sử có người dùng sắt làm lưỡi để miệt thị pháp thiểu dục tri túc, thì cũng chẳng thể lay động được pháp này. Tôi tuy đã cắt bỏ râu tóc, mặc pháp y, hiện thân tỳ kheo, nhưng tâm lại quên đi pháp của bậc sa môn, lại còn bảo ông làm việc tham cầu, không xiển dương pháp thiểu dục tri túc mà chư Phật đồng tán thán. Thiểu dục tri túc chính là nguồn gốc của các thiện pháp. Trong kinh, Đức Phật cũng luôn khen ngợi pháp này là nền tảng của người tu.
Vào thời quá khứ, sau khi Đức Phật khất thực xong, nếu có dư vật thực, ngài sẽ chia phần cho các vị đệ tử, có khi thả xuống nước chia sẻ cùng loài côn trùng.
Bấy giờ có hai vị tỳ kheo vì khất thực không đủ dùng, vẻ đói hiện rõ trên nét mặt. Đức Phật thấy vậy liền bảo: “Ta còn vật thực, hai thầy có thể đến lấy mà dùng .” Một vị tỳ kheo trả lời: “Kính bạch Thế Tôn! Ngài thường dạy: Thiểu dục tri túc có công đức lớn, con sao có thể tham dùng thêm vật thực” nên vị ấy đã không đến nhận.
Vị tỳ kheo còn lại thầm nghĩ: “Ôi! Vật thực mà Thế Tôn nhường phần hiếm khi mới có được. Vật thực này được các phạm thiên, trời đế thích, thiên vương v.v… cung kính cúng dường. Nếu mình thọ dụng, thì dung mạo, khí lực, an lạc, biện tài sẽ tăng trưởng, sao lại không thọ dụng chứ?” Nghĩ thế nên vị ấy liền đến nhận.
Lúc ấy, Thế Tôn tán thán vị tỳ kheo thứ nhất: “Thầy đã thực hành đúng pháp thiểu dục tri túc!” Còn vị tỳ kheo thứ hai thì không được Đức Phật tán thán.
Tuy Ngài đã cho phép được thọ dùng, nhưng lại không hề khen vị này. Vậy mới biết pháp thiểu dục tri túc là nền tảng của giới luật được Đức Phật chú trọng”.
Nói xong, vị tỳ kheo đọc một bài kệ, đại ý như sau:
“Muốn đạt được lợi ích của pháp, cần thấu hiểu về thiểu dục và tri túc, pháp này chính là anh lạc làm trang nghiêm bậc thánh.
Đời này có thể gác lại mọi lo toan, an lạc không ưu sầu, đây chính là cánh cửa đầu tiên để bước vào cung điện đại Niết bàn.
Để vào được cung điện Niết bàn, chúng ta phải trải qua nhiều thử thách, vượt qua các ma chướng. Thế nên, phải lập hàng rào bảo vệ trên đường để ngăn trừ chúng ma quân, mà pháp ấn vô thượng giúp mọi người vượt qua cảnh giới ma ấy chính là thiểu dục và tri túc. Pháp ấn này được chư Phật giữ gìn và ấn chứng nhiều lần, thế nên vô cùng quan trọng.
“Trì giới như biển cả, thiểu dục như hải triều”. Hải triều tạo nên biển cả, nhờ pháp thiểu dục mới thành tựu được sự trì giới. Và thiểu dục có khả năng bảo hộ kiên cố, không làm rơi mất các công đức. Nếu tham cầu mà cảm thấy mệt mỏi, thì cần dừng lại, chớ nên bôn ba tìm kiếm nữa (Giống như chiếc xe chạy đường dài cần dừng lại nghỉ ngơi, nơi dừng chân chính là bến thiểu dục tri túc. Khi quá mệt mỏi trong tham cầu thì nên buông xuống, hãy ngừng tâm tham, an trú trong bến thiểu dục tri túc).
Thân cận với người thiểu dục tri túc, ví như gần người vắt sữa; từ sữa tươi nguyên chất này mới có thể tạo ra các loại bơ sữa. Cũng như vậy, thiểu dục tri túc có thể sinh ra muôn vàn công đức.
Chúng ta đưa đôi tay ra bố thí cho người, thì đôi tay ấy thật tôn quý. Với người được nhận, nếu biết thiểu dục tri túc mà nhường lại cho người khác, thì đôi tay ấy càng thêm tôn quý.
Nếu có người nói: “Tôi xin tặng vật này cho bạn.” Câu nói này thật là bảo vật vô giá. Và nếu người được tặng đáp rằng: “Cảm ơn lòng tốt của bạn, nhưng tôi đã đủ dùng”. Thì câu nói này càng thêm vô giá.
Vậy nên chúng ta muốn có được pháp lạc thì nên thường thân cận với người biết thiểu dục tri túc. Và Đức Phật, đấng Thập Lực Đạo Sư (Đức Phật hội đủ: thập lực, tứ vô sở úy, mười tám Pháp bất cộng) cũng dạy rằng: thiểu dục tri túc là pháp của bậc thánh (đức Phật dạy về “tứ thánh chủng”, đó là: cần biết đủ về y phục, biết đủ về đồ ăn thức uống, tòa ngồi, và ngài còn dạy: tình nguyện đoạn trừ, hoan hỷ tu tập. Vậy nên thiểu dục tri túc chính là Pháp của bậc thánh).
Thiểu dục tri túc không lo cất chứa tài vật, chú trọng việc tăng trưởng trì giới, đa văn, trí tuệ, chính là Pháp thực của bậc Sa môn. Vật thực không chỉ vật chất ở bên ngoài hay của thế tục. Chúng ta cần lấy Pháp làm vật thực. Và thiểu dục tri túc chính là Pháp thực của người xuất gia và tại gia.
Tuy chủng tử khát ái vẫn còn, nhưng chúng không lay động được người thiểu dục tri túc. Chưa nói đến việc đời sau được an vui, mà ngay thực tại này, người ít muốn, biết đủ cũng được an trú trong an lạc” .
Câu chuyện trên nhắc chúng ta cần biết thiểu dục, tri túc, nghĩa là “ít muốn, biết đủ”. Trong đó có những ví dụ rất sâu sắc, như: Chúng ta đưa đôi tay ra bố thí cho người, thì đôi tay ấy thật tôn quý. Với người được nhận, nếu biết thiểu dục tri túc mà nhường lại cho người khác, thì đôi tay ấy càng thêm tôn quý. Nếu có người nói: “Tôi xin tặng vật này cho bạn” . Câu nói này thật là bảo vật vô giá. Và nếu người được tặng đáp rằng: “Cảm ơn lòng tốt của bạn, nhưng tôi đã đủ dùng”, thì câu nói này càng thêm vô giá.
Hy vọng chúng ta cùng nhau sách tấn tu tập.
Lớp giáo dục Phật Pháp Phước Nghiêm, ngày 21 tháng 04 năm 2012