Nếu chư Phật là đấng Nhất thiết trí, tự nhiên, không Thầy, không theo lời dạy của người khác, không... Đời Dao Tần, Ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập | Dịch Giả :Hòa Thượng Thích Thiện Siêu | Xem: 100


Câu Hỏi

Nếu Chư Phật Là Đấng Nhất Thiết Trí, Tự Nhiên, Không Thầy, Không Theo Lời Dạy Của Người Khác, Không Thọ Đạo Của Người Khác, Không Dùng Đạo Của Người Khác, Không Theo Người Khác Nghe Để Mà Thuyết Pháp, Tại Sao Lại Nói "Như Vậy Tôi Nghe"?

Trả Lời

Đúng như ông nói: " Phật là đấng Nhất thiết trí, tự nhiên, không Thầy, không theo người khác nghe pháp để mà thuyết". Phật pháp không chỉ từ miệng Phật thuyết, mà hết thảy lời nói tốt lành, chân thật, vi diệu của thế gian đều xuất từ Phật pháp. Như trong Tỳ ni, Phật nói: "Thế nào là Phật pháp?" Phật pháp có năm hạng người nói: Một là Phật tự miệng nói, hai là đệ tử Phật nói, ba là tiên nhân nói, bốn là chư thiên nói, năm là hóa nhân nói.

Lại như trong Kinh Thích đề hoàn nhơn Đắc đạo, Phật nói với Kiều thi ca: "Thiện ngữ chân thật, hảo ngữ vi diệu của thế gian đều xuất từ pháp của Ta", như trong bài kệ tán Phật rằng:

"Thiện ngữ của thế gian.
Đều xuất từ Phật pháp.
Thiện ngữ không sai lầm,
Không gì hơn Phật ngữ.

Những nơi khác tuy có.
Thiện ngữ không sai lầm.
Nó hết thảy đều là,
Một phần của Phật pháp.

Trong các ngoại đạo,
Dù có lời hay,
Như sâu ăn cây,
Ngẫu nhiên thành chữ.

Pháp đầu, giữa, cuối,
Tự phá lẫn nhau,
Như sắt sanh vàng,
Ai mà tin được?

Như ở trong cây Y lan,
Sanh hương Ngưu đầu Chiên đàn.
Như trong giống cây đắng,
Sanh ra quả ngon ngọt.

Nếu tin được điều đó,
Người ấy sẽ tin rằng:
Trong kinh sách ngoại đạo,
Tự xuất lời hay đẹp.

Những lời hay chân thật,
Đều xuất từ đức Phật,
Như thứ hương Chiên đàn,
Mọc ở núi Ma lê.

Ngoài núi Ma lê ra,
Không đâu có Chiên đàn,
Như vậy, ngoại trừ Phật,
Không có đâu lời thật".

Lại nữa, câu "Như vậy tôi nghe" là lời của các đại đệ tử Phật, như A nan v.v… nói; vì vào trong tướng của Phật pháp nên gọi là Phật pháp. Như khi Phật nhập Niết bàn, Ngài ở tại xứ Câu thi na kiệt, giữa rừng cây Sa la long thọ, nằm quay đầu về hướng Bắc mà sắp nhập Niết bàn. Bấy giờ, A nan tình luyến ái thân thuộc chưa trừ, vì chưa ly dục, tâm chìm trong biển ái, không thể tự ra được. Trưởng lão A nê lô đậu (Anuruda) nói với A nan: "Thầy là người giữ Phật pháp tạng, không nên giống như người phàm tự chìm trong biển ái! Hết thảy pháp hữu vi đều là tướng vô thường, Thày chớ ưu sầu. Lại nữa, tự tay Phật đã trao pháp cho Thày, Thày nay ưu sầu thì sẽ làm mất việc đã thọ nhận. Thầy nên thưa Phật: Sau khi Phật Niết bàn, chúng con hành đạo như thế nào? Ai sẽ là Thầy? Bọn Xa nặc ác khẩu làm sao cùng ở chung? Kinh Phật nên để lời gì? Những việc vị lai như thế, Thầy nên hỏi Phật".

A nan nghe việc ấy, tâm sầu muộn hơi tỉnh, được sức ghi nhớ đạo hỗ trợ, đến bên cuối giường Phật nằm, đem các việc ấy hỏi Phật. Phật dạy A nan: "Hoặc bây giờ, hoặc sau khi Ta diệt độ, nên tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ nơi nào khác! Thế nào là Tỳ kheo tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ nơi nào khác? Là, Tỳ kheo quán ở trong thân, thường niệm nhất tâm trí tuệ, siêng tu tinh tấn, trừ tâm tham ưu thế gian: quán ngoài thân, quán trong ngoài thân cũng như thế; quán, thọ, tâm, pháp niệm xứ cũng lại như thế. Đó gọi là Tỳ kheo tự y chỉ và y chỉ Pháp, không y chỉ nơi nào khác. Từ nay, giới kinh giải thoát là đại sư của các Thầy. Như kinh Giải Thoát Giới dạy: "Thân nghiệp, khẩu nghiệp, nên như thế mà làm. Tỳ kheo Xa nặc, sau khi Ta Niết bàn thì như pháp Mạn đàn (mặc tẩn) mà trị. Nếu người có tâm nhu thuận thì dạy họ Kinh San đà Ca chiên diên, tức có thể đắc đạo. Ta trải qua ba A tăng kỳ tiếp, chứa nhóm tạng Pháp bảo; tạng ấy bắt đầu nên để lời: "Như vậy, tôi nghe, một thời, Phật ở tại địa phương ấy, quốc độ ấy, trong rừng cây xứ ấy", vì sao? Vì các kinh Phật đời quá khứ bắt đầu đều xưng lời ấy, các kinh Phật đời vị lai bắt đầu cũng xưng lời ấy; các Phật đời hiện tại, cuối cùng khi Bát niết bàn cũng dạy xưng lời ấy. Nay Ta, sau khi Niết bàn, bắt đầu kinh cũng nên xưng: "Như vậy, tôi nghe, một thời".

Vậy nên biết là lời Phật dạy, chứ không phải Phật tự nói "Như vậy tôi nghe"; vì Phật là bậc Nhất thiết trí, tự nhiên, không Thầy, thì không nên nói "Tôi nghe". Nếu Phật tự nói "Như vậy tôi nghe", có người không biết, thì có thể hỏi như thế, còn đây là A nam bạch Phật, Phật dạy lời ấy, ấy là đệ tử nói "Như vậy tôi nghe", xưng "tôi" không có lỗi.

Lại nữa, vì muốn cho Phật pháp trụ lâu ở thế gian, nên các vị A la hán, như trưởng lão Đại Ca Diếp v.v… hỏi A nan: "Phật thuyết pháp ở chỗ nào trước hết? Ngài dạy những pháp gì?"

A nan đáp: "Như vậy tôi nghe, một thời Phật ở tại nước Ba la nại trong rừng Nai của tiên nhân, Ngài vì năm Tỳ kheo nói về Khổ thánh đế. Tôi vốn không nghe từ ai nói lại, mà ở trong Pháp chính tôi nhớ rõ, được nhãn, trí, minh, giác". Việc kinh ấy trong đó cần nói rộng.

Như trong Kinh Tập Pháp (Dharama samyrahàsutra) nói: "Lúc Phật vào Niết bàn, quả đất sáu cách rung động, các dòng sông chảy ngược, gió mạnh bộc phát, bốn phía nổi mây đen, sấm sét dữ dội, mưa đá đổ xuống, sao băng khắp nơi; Sư tử, ác thú gào thét kêu rống; Chư Thiên, Người đời đều cất tiếng la hét. Chư Thiên, Người đời đều phát ra lời rằng: " Phật vào Niết bàn sao mà mau quá. Con mắt của thế gian đã mất!"

Ngay lúc bấy giờ tất cả cỏ cây, cây thuốc, hoa lá cùng lúc rã tan; núi chúa Tu di đều lay động, nước biển dạy sóng, đất rung động mạnh, núi non băng vỡ sụp, cây cối gãy đổ, bốn phía khói ùn rất là dễ sợ; vũng, ao, sông, ngòi đều quấy nhớp, sao chổi mọc ban ngày. Loài người đều kêu khóc, chư thiên ưu sầu, thiên nữ nghẹn ngào khóc than, nước mắt đầm đìa. Các hàng Hữu học lặng lẽ không vui, các hàng Vô học nghĩ tới pháp Hữu vi hết thảy vô thường. Như vậy Trời, Người, Dạ xoa, La sát, Càn thát bà, Chân đà la, Ma hầu la già và loài Rồng đều rất buồn rầu; còn các vị A la hán đã đắc quả, khỏi biển lão bệnh tử, tâm niệm rằng:

"Đã qua sông ái của phàm nhân,
Đã xé giấy hợp đồng già chết,
Thấy bốn Rắn lớn trong hòm thân,
Nạp vào Niết bàn diệt Vô dư".

Các vị Đại A la hán, ai nấy tùy ý ở trong núi rừng, khe suối, hang động xảthân mà nhập Niết bàn. Lại có các A la hán đi giữa hư không, ví như Nhạn chúa hiện các thứ thần lực, khiến mọi người khởi lòng tin thanh tịnh, vậy sau mới vào Niết bàn. Trời Lục dục cho đến trời Biến tịnh v.v… thấy các A la hán đều vào diệt độ, ai nấy nghĩ: "Mặt trời Phật đã lặn, các đệ tử đầy đủ Thiền định, trí tuệ, giải thoát trước đó cũng đã diệt độ. Các chúng sanh nay đủ các bệnh dâm, nộ, si mà các vị Thầy pháp dược gấp diệt độ, thì ai sẽ chữa trị cho? Các đệ tử như hoa sen nở trong biển vô lượng trí tuệ, nay đã khô héo, cây Pháp đã gẫy đổ, mây Pháp tan diệt, Bậc đại trí như Voi chúa đã mất đàn, đàn Voi con cũng đi theo, người gieo Chánh pháp đã mất rồi, Pháp bảo sẽ tìm cầu ở nơi đâu?", như kệ nói:

"Phật đã vĩnh tịch vào Niết bàn,
Chúng diệt kiết sử cũng qua đi,
Thế giới trống không, không bậc trí,
Ngu tối thêm lên, đèn trí tắt".

Bấy giờ chư thiên lễ dưới chân Đại Ca diếp và nói kệ:

"Bậc kỳ lão, ba độc đã trừ,
Thân Ngài như cây trụ tử kim,
Đoan nghiêm vi diệu không thể sánh,
Mắt sáng trong sạch như Hoa sen".

Tán thán như vậy rồi, thưa Ca diếp: "Đại đức Ca diếp! Nhân giả biết không? Con thuyền Phật pháp như muốn vỡ, thành Phật pháp như muốn đổ, biển Phật pháp như muốn khô, cờ Phật pháp như muốn ngả, đèn Phật pháp như muốn tắt, người thuyết pháp như muốn hết, người hành đạo ít dần, kẻ làm ác thêm lên. Xin Ngài đem tâm đại từ mà kiến lập Phật pháp".

Bấy giờ Đại Ca diếp, tâm như biển cả, đứng lặng không lay động, giây lâu mới đáp: "Các ông khéo nói, thật đúng như lời, thế gian không lâu rồi sẽ vô trí, tối mù". Rồi lúc đó Đại Ca diếp im lặng nhận lời. Bấy giờ chư thiên lễ dưới chân Đại Ca diếp rồi bỗng nhiên không hiện, ai nấy về chỗ cũ.

Khi ấy Đại Ca diếp tư duy rằng: "Ta nay làm sao để cho Phật pháp trong ba vô số kiếp khó tìm gặp ấy được trụ lâu?" Tư duy như vậy xong, lại suy nghĩ tiếp: "Ta biết pháp ấy có thể làm cho trụ được lâu dài, phải nên kết tập Kinh (Tu đố lộ), Luật (Tỳ ni), Luận (A tỳ đàm) thành Ba tạng Pháp, như vậy Phật pháp có thể được trụ lâu, người đờ𩠳au có thể được lãnh thọ hành trì, vì sao? Vì Phật thương xót chúng sanh, phải chịu khổ trong nhiều đời, mới học được pháp ấy mà diễn nói cho người. Bọn ta cũng nên vâng theo Phật pháp mà tuyên dương khai hóa".

Lúc ấy, Đại Ca diếp nói lời ấy xong, Ngài đi đến trên đỉnh núi Tu di đánh kiền chùy, rồi thuyết:

"Các đệ tử Phật.
Nếu nghĩ đến Phật,
Muốn báo ân Phật,
Chớ vào Niết bàn".

Âm thanh kiền chùy và tiếng nói của Đại Ca diếp vang đến khắp cả ba ngàn đại thiên thế giới, ở đâu cũng nghe, thời bấy giờ các bậc đệ tử đã được thần lực, đều đến hội họp ở chỗ Đại Ca diếp.

Bấy giờ Đại Ca diếp cáo với chúng hội: "Phật pháp sắp muốn diệt! Phật vì thương xót chúng sanh nên chịu cần khổ đủ thứ trong ba vô số kiếp mới học được pháp ấy! Nay Phật đã vào Niết bàn, các đệ tử biết Pháp, thọ trì Pháp, tụng đạo Pháp cũng theo Phật mà diệt độ, Pháp nay sắp muốn diệt, chúng sanh đời vị lai thật đáng thương thay, đã bị mất con mắt trí tuệ, ngu si mù tối. Đức Phật đại từ bi thương xót chúng sanh, bọn ta hãy vâng theo lời Phật, phải đợi khi kiết tập Kinh tạng xong, rồi tùy ý diệt độ". Các chúng đến dự hội đều vâng lời ở lại.

Bấy giờ Đại Ca diếp chọn được ngàn người, chỉ trừ A nan, còn hết thảy đã chứng A la hán, được sáu thứ thần thông, được cọng giải thoát, vô ngại giải thoát, được ba minh, thiền định tự tại, có thể thuận hành và nghịch hành các tam muội, thảy đều vô ngại, đọc tụng Ba tạng, biết kinh sách nội ngoại, cũng đọc biết cả mười tám thứ đại kinh của ngoại đạo. Ai nấy đều giỏi luận nghị, hàng phục các dị học.